Các học thuyết kinh tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển

Upload: HuongHoang.dokovn|Ngày: 17/07/2012|Lượt xem: 10904|Tải về: 22|Cấp: Đại học

đặt vấn đề sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình vận động và phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế- xã hội. ở mỗi giai đoạn phát triển, đều có những hiện tượng kinh tế- xã hội đòi hỏi con người phải có những hiểu biết và các giải quyết. ban đầu, chỉ là những giải thích dưới

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự phát triển của xă hội loài người là một quá tŕnh vận động và phát triển không ngừng của các h́nh thái kinh tế- xă hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển, đều có những hiện tượng kinh tế- xă hội đ̣i hỏi con người phải có những hiểu biết và các giải quyết. Ban đầu, chỉ là những giải thích dưới h́nh thức các tư tưởng kinh tế lẻ tẻ, rời rạc. Dần dần đă trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau.

Theo đà phát triển của kinh tế thị trường, đến nay, đă có nhiều học thuyết kinh tế xuất hiện làm cơ sở lư luận cho các nhà chiến lược kinh tế của Nhà nước và quản lư kinh doanh của các doanh nghiệp. Đó là tư tưởng kinh tế của Xenophon, Platon, Aristoteles,…thời cổ đại; tư tưởng kinh tế của Augustin Siant, Thomas d’Aquin,…thời trung cổ. Sau đó phát triển đến các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương, chủ nghió trọng nông, kinh tế học tư sản cổ điển Anh từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX;… và cho đến nay là những học thuyết kinh tế hiện đại.

Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế- ngoài việc tiếp cận các quan điểm kinh tế, bảo vệ lợi ích của các giai cấp nhất định mà cũn giỳp cho các thế hệ sau nhận thức và cải tạo hiện thực kinh tế- xă hội dựa trên những bài học của lịch sử. Ngoài ra, c̣n cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, lư luận kinh tế làm cơ sở cho các khoa học kinh tế khác, đặc biệt là những môn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kinh tế thị trường( Kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, marketing,…).

Trong lịch sử tư tưởng kinh tế, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển được đánh giá là một trường phái kinh tế khoa học. K.Marx đă viết: “…Danh từ kinh tế chính trị cổ điển theo tôi hiểu, là toàn bộ khoa kinh tế chính trị, kể từ W. Petty trở đi đă nghiên cứu những mối liên hệ nội tại của các quan hệ sản xuất tư sản”. Mặc dù vẫn có những hạn chế là chỉ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản nhưng kinh tế chính trị tư sản cổ điển đó có những tiến bộ vượt trội so với những học thuyết kinh tế trước đó và là tiền đề cho học thuyết kinh tế chính trị Marxist. Điểm tiến bộ của kinh tế chính trị tư sản cổ điển là đă chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất mà theo đánh giá của K. Marx: “ Khoa học thực sự của nền kinh tế hiện đại chỉ thực sự bắt đầu khi trọng tâm của việc nghiên cứu được chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất”.

Nước ta hiện nay đă chuyển sang vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lư của nhà nước, phát triển theo định hướng xă hội chủ nghĩa. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang phát triển kinh tế thị trường nên chúng ta phải thừa nhận các quy luật khách quan vốn có của kinh tế hàng hóa như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị,… Việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển có ư nghĩa quan trọng trong quá tŕnh xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

 

I. TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN:

1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời:

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển tồn tại trong thời gian từ nửa sau của thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, bắt đầu từ những tư tưởng của W. Petty ở Anh và Boisguillebert ở Pháp. Nhưng nếu W. Petty và Boisguillebert là những người đặt nền móng đầu tiên thỡ phỏi trọng nụng( Phỏp) mà tiêu biểu là F.Quesnay và A.R.J. Turgot đă trở thành người cha thật sự của kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Song sự phát triển cao nhất của trường phái này là ở tư tưởng kinh tế của A.Smith và D.Ricardo( Anh). Nếu ở Anh, kinh tế chính trị tư sản cổ điển kết thúc ở D.Ricardo th́ ở Pháp được kết thúc ở Sismondi.

Trong phạm vi tiểu luận này chỉ tập trung phản ánh những học thuyết kinh tế của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời khi chủ nghĩa trọng thương tan ră.

Ở Pháp, học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện dưới tên gọi: chủ nghĩa trọng nông. Cũng như chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông xuất hiện trong khuôn khổ thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản- nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn( thế kỷ XVIII). Do chính sách của Bộ trưởng Bộ tài chính Kolbert, nền nông nghiệp của nước Pháp bị suy sụp nghiêm trọng. Nhà nước phong kiến tăng thuế nông nghiệp để trợ cấp cho các công trường thủ công. Địa tô phong kiến chiếm từ ẳ đến 1/3 nông phẩm sản xuất ra. Nông dân mắc vào cảnh túng quẫn, nợ cha truyền, con nối. Thương nhân bóc lột nông dân bằng giá cả cỏnh kộo. Nhà thờ định thuế thập phân. Nạn đói kém kéo dài đến nỗi: “ Nông dân bàn tán về lúa ḿ nhiều hơn là về Thượng Đế”( Voilte). Điều đó đ̣i hỏi phải có chính sách khôi phục và phát triển nông nghiệp. Trường phái trọng nông xuất hiện. Những đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng nông là Francois Quesnay và Anne Robert Jaucques Turgot.

Bắt đầu từ thế kỷ XVII, nước Anh đă đạt được sự phát triển thịnh vượng về kinh tế- xă hội, trở thành một trong những cường quốc lớn nhất ở Tây Âu. Trong nước, sản xuất công trường thủ công phát triển mạnh. Giai cấp tư sản công nghiệp và thương nghiệp gắn với tầng lớp quư tộc mở mang đồn điền ở nông thôn. Thương nghiệp hàng hải phát triển nhanh chóng, nhờ những đường giao thông chủ yếu trên biển từ Địa Trung Hải ra các đại dương. Giai cấp tư sản Anh khẳng định được vai tṛ của ḿnh trong đời sống xă hội, tập hợp được lực lượng chống chế độ phong kiến đă lỗi thời. Cuộc cách mạng tư sản Anh( 1642- 1648) báo hiệu một thời kỳ lịch sử mới bắt đầu. Chủ nghĩa trọng thương đă trở thành lỗi thời và bắt đầu tan ră. Giai cấp tư sản Anh- sau khi đă tích lũy được khối lượng tiền tệ lớn, đă chuyển sang tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất. Do sự phát triển mạnh mẽ của các công trường thủ công, sự hoạt động của tư bản- chủ yếu trong lĩnh vực lưu thông trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương- th́ nay chuyển sang lĩnh vực sản xuất. Nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất đặt ra vượt quá khả năng giải thích của lư thuyết chủ nghĩa trọng thương. Điều đó đ̣i hỏi phải có lư thuyết kinh tế mới soi đường. Do đó học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh xuất hiện.

Như vậy, nh́n chung, kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời khi sản xuất tư bản chủ nghĩa đă phát triển đến giai đoạn đ̣i hỏi phải chấm dứt vai tṛ thống trị của tư bản thương nghiệp để mở đường cho tư bản công nghiệp và tư bản nông nghiệp phát triển.

 

2. Đặc điểm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển:

So với các trường phái kinh tế trước đó, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đó cú những tiến bộ vượt trội so với những học thuyết kinh tế trước đó và là tiền đề cho học thuyết kinh tế chính trị Maxrist. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển có những đặc điểm chính như sau.

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển đă chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Có nghĩa là, kinh tế chính trị tư sản cổ điển nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá tŕnh tái sản xuất, tŕnh bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như phạm trù hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản,…từ đó rút ra được quy luật vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Có thể nói, đây là điểm vượt trội hơn các học thuyết kinh tế trước đó của kinh tế chính trị tư sản cổ điển và đă được K. Marx kế thừa những tư tưởng tiến bộ này trong việc phát triển học thuyết kinh tế Marxist. Tuy nhiên, điểm hạn chế cần phê phán của học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển là vẫn chỉ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu chung của học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển là luận chứng cương lĩnh kinh tế và các chớnh sách kinh tế của giai cấp tư sản, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế trong xă hội tư bản nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất. Tư tưởng phát triển lực lượng sản xuất là tư tưởng tiến bộ của kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Trải qua các h́nh thái kinh tế- xă hội khác nhau nhưng quy luật “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và tŕnh độ phát triển của lực lượng sản xuất” vẫn là quy luật cơ bản của lịch sử phát triển loài người.

2.3. Phương pháp nghiên cứu:

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để t́m hiểu những mối liên hệ nhân quả, từ đó vạch ra bản chất và t́m ra những quy luật vận động của các hiện tượng và các quá tŕnh kinh tế trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhờ đó, đă rút ra những kết luận quan trọng, có giá trị khoa học. Bên cạnh đó, do những hạn chế về thế giới quan, phương pháp luận, điều kiện lịch sử,…nờn khi gặp những vấn đề khó khăn, phức tạp, kinh tế chính trị tư sản cổ điển lại chỉ mô tả chúng một cách hời hợt và rút ra những kết luận sai lầm. Điều này đă tạo điều kiện cho những nhà tư tưởng tầm thường lợi dụng để phát triển những hệ thống lư luận tầm thường.

Tuy nhiờn, cỏc nhà kinh tế tư sản cổ điển là những người đầu tiên sử dụng phương pháp trừu tượng hóa trong hoạt động nghiên cứu của ḿnh. Sau này, phương pháp trừu tượng húa đó trở thành phương pháp nghiên cứu cơ bản của kinh tế chính trị. K. Marx cũng đă sử dụng phương pháp này nhưng đă phát triển hoàn thiện hơn thành phương pháp trừu tượng hóa khoa học.

 

3. Các học thuyết kinh tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển:

Như đă nói ở trên, trong phạm vi tiểu luận này chỉ tập trung tŕnh bày những học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh với ba đại diện tiêu biểu là: William Petty, Adam Smith, David Ricardo.

3.1. Học thuyết kinh tế của William Petty:

 

       William Petty( sinh ngày 27 tháng 05 năm 1623- mất ngày 16 tháng 12 năm 1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển Anh. Ông sinh ra trong một gia đ́nh thợ thủ công, có tŕnh độ tiến sỹ vật lư, là nhạc trưởng, là người phát minh ra máy chữ, là bác sỹ trong quân đội. Ông vừa là một đại địa chủ, vừa là một nhà công nghiệp và c̣n là cha đẻ của khoa học thống kê.

        Những tác phẩm tiêu biểu của W. Petty có thể kể đến: Bàn về thuế khóa và lệ phí( 1662), Lời nói với những kẻ khôn( 1664), Giải phẫu học chính trị( 1672), Số học chính trị( 1676), Bàn về tiền tệ( 1682)- trong đó, tác phẩm lớn nhất của ông là Số học chính trị.

            William Petty( 1623-1687)

Trong những tác phẩm của W. Petty c̣n chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương nhưng đến tác phẩm cuối cùng xuất bản năm 1682, ụng đó đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa trọng thương.

W. Petty đă đi sâu, t́m hiểu bản chất của các hiện tượng kinh tế để tỡm cỏc giải quyết. Ông đă thừa nhận quy luật kinh tế khách quan. Đây là mốc đánh dấu sự phát triển của tư tưởng kinh tế trong lịch sử.

Công lao lớn nhất của W. Petty là đă đưa ra được nguyên lư giá trị.

Nhận xét về W. Petty, K. Marx đánh giá ông là nhà tư tưởng, nhà thực tiễn lớn, nhà nghiên cứu kinh tế thiên tài của giai cấp tư sản Anh, là “ cha đẻ của kinh tế chính trị cổ điển và khoa thống kê dân số”.

Những nội dung cơ bản trong học thuyết kinh tế của W. Petty thể hiện trong một số lư luận sau:

* Lư luận về giá cả và giá trị:

Tuy W. Petty không trực tiếp đưa ra lư luận giá trị, nhưng qua những luận điểm về giá cả của ông, có thể khẳng định, W. Petty là người đầu tiên đưa ra nguyên lư về giá trị lao động.

Trong tác phẩm Bàn về thuế khóa và lệ phí( 1662), W. Petty nghiên cứu về giá cả, chia giá cả thành hai loại: Giá cả chính trị và giá cả tự nhiên, trong đó, giá cả chính trị( giá cả thị trường) khó xác định do phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên; giá cả tự nhiên( giá trị) là do thời gian lao động hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó. Như vậy, W. Petty là người đầu tiên đă t́m thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động. Giá cả tự nhiên của hàng hóa được W. Petty xác định bằng cách so sánh lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa với lượng lao động hao phí để tạo ra vàng và bạc. ễng cho rằng: Giá cả tự nhiên( giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng và bạc. Số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hàng hóa. “Chính từ việc nghiên cứu giá cả tự nhiên của Petty, có thể coi Petty là người đầu tiên định nghĩa khái niệm giá trị”( K. Marx).                                                                                                                          

Tuy nhiên, lư thuyết giá trị- lao động của W. Petty c̣n chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương. Điểm hạn chế là ông chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi và giá cả, mới chỉ chú ư nghiên cứu mặt lượng của giá cả. Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác vàng bạc là nguồn gốc của giá trị, c̣n giá trị các hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá tŕnh trao đổi với vàng, bạc.

Không thể không nhắc tới luận điểm nổi tiếng của W. Petty: “ Lao động là cha,  c̣n đất đai là mẹ của của cải”. Xét về phương diện của cải vật chất, đây là công lao to lớn của ụng, ụng đó chỉ rơ nguồn gốc giá trị sử dụng. Nhưng ông lại xa rời tư tưởng giá trị- lao động khi kết luận cả lao động và đất đai( tự nhiên) là nguồn gốc của giá trị. Ông đă lẫn lộn lao động- với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động- là nguồn gốc của giá trị sử dụng, tức là đă đồng nhất lao động trừu tượng với lao động cụ thể. Điều này là mầm mống của lư thuyết các nhân tố sản xuất tạo ra giá trị sau này.

* Lư luận về tiền tệ:

Lư thuyết tiền tệ của W.Petty có nhiều điểm lư thú, có thể nêu lên những quan điểm chính sau đây:

Thứ nhất, quan điểm về tiền tệ của W. Petty chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang quan điểm của trường phái cổ điển.

Thứ hai, ông nghiên cứu hai loại kim loại giữ vai tṛ của tiền là vàng bạc. Giá trị của chúng dựa trên cơ sở lao động khai thác ra chúng quyết định. Ông phê phán chế độ song bản vị lấy vàng và bạc làm đơn vị tiền tệ và ủng hộ chế độ đơn bản vị. Ông phê phán việc phát hành tiền không đủ giá và cho rằng làm như vây chính phủ không có lợi lộc gỡ, vỡ khi đó, giá trị tiền tệ đă giảm xuống.

Thứ ba, W. Petty là người đầu tiên đưa ra quy luật lưu thông tiền tệ, mà nội dung của nó là số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hóa và tốc độ chu chuyển của tiền tệ, chỉ ra ảnh hưởng của thời gian thanh toán với số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông.

Cũng phải nói thêm rằng W. Petty phê phán quan điểm tích lũy tiền của chủ nghĩa trọng thương, cho rằng tiền không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có, nó chỉ là 1% của sự giàu có, là phương tiện của lưu thông hàng hóa. Như vậy, không cần thiết phải tăng số lượng tiền tệ quá mức cần thiết.

Nh́n chung, quan điểm tiền tệ của W. Petty có nhiều điểm tiến bộ mà sau này các nhà kinh tế học theo quan điểm giá trị- lao động tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, vẫn c̣n một số hạn chế như ông mới xem xét tiền là phương tiện thanh toán, chưa đề cập đến tiền tệ với tư cách là tư bản,…

* Lư luận về tiền lương:

       Dựa trên lư luận giá trị- lao động W.Petty phân tích lư luận tiền lương. Ông coi tiền lương là một hiện tượng hợp quy luật, bởi v́ đây là một hiện tượng kinh tế mới xuất hiện trong thời kỳ này, mà trong thời đại phong kiến không hề có.

       Về bản chất của tiền lương, ụng đó nắm đuợc mối quan hệ giữa công của người với giá trị những tiêu dùng của họ. Tiền lương là khoản sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho công nhân và không vượt quá mức này. Ông phản đối việc trả lương cao, nếu lương cao người công nhân không muốn làm việc mà chỉ thích uống rượu. Điều này là hợp lư trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, năng suất lao động c̣n thấp, chỉ có hạ thấp tiền lương của công nhân xuống mức tối thiểu cần thiết mới đảm bảo lợi nhuận cho nhà tư bản. Như vậy, W. Petty là người đầu tiên đề cập đến “quy luật sắt về tiền lương”.

W. Petty thấy đuợc mối quan hệ giữa tiền lương và lợi nhuận. Đây là một quan hệ nghịch, một khi tiền lương tăng th́ lợi nhuận giảm. Như vậy, ụng đó thấy đuợc tính mâu thuẫn và đối lập giữa lợi ích của người công nhân và nhà tư bản.   Theo ông, việc tăng lương trực tiếp gây thiệt hại cho xă hội, tức là thiệt hại cho các nhà tư bản. Thực sự th́ tiền lương là một phần của giá trị thặng dư do chủ sở hữu chiếm lấy.

       Nh́n chung, lư luận tiền lương của W.Petty c̣n rời rạc nhưng dù sao ông cũng đă đưa ra đuợc một số nguyên lư đúng đắn về tiền lương.

* Lư luận về lợi nhuận, lợi tức, địa tô:

       W. Petty không tŕnh bày lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp mà chỉ tŕnh bày hai h́nh thái giá trị thặng dư là địa tô và lợi tức.

       Lư thuyết địa tô của W.Petty được xây dựng trên cơ sở lư thuyết giá trị- lao động. Ông coi địa tô là giá trị nông sản phẩm sau khi đă trừ đi các chi phí sản xuất bao gồm chi phí về giống và tiền lương. Về thực chất địa tô là giá trị dôi ra ngoài tiền lương, tức là sản phẩm của lao động thặng dư, tuy nhiên ông chỉ nghiên cứu chi tiết địa tô chênh lệch mà chưa nghiên cứu địa tô tuyệt đối.

       Gắn với địa tô là vấn đề lợi tức. Theo W.Petty người có tiền có thể sử dụng nó bằng 2 cách để có thu nhập. Cách thứ nhất là dùng tiền mua đất đai, nhờ đó có được địa tô. Cách thứ hai là mang gửi vào ngân hàng để thu lợi tức. Như vậy lợi tức là thu nhập phái sinh của địa tô. Muốn xác định lợi tức phải dựa vào địa tô, mức cao hay thấp của lợi tức phụ thuộc vào điều kiện sản xuất nông nghiệp. K.Marx đă nhận xét: “Công lao của W.Petty là đă chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, mầm mống lư luận về bóc lột theo lối của tư bản chủ nghĩa.”

       Trên đây là một số nội dung có bản trong học thuyết kinh tế của W.Petty. Mặc dù các quan điểm c̣n chưa thống nhất, đang chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang kinh tế cổ điển nhưng ông đă có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng những nguyên lư kinh tế cổ điển sau này.

3. 2. Học thuyết kinh tế của Adam Smith:

Adam Smith, FRSE (rửa tội ngày 16 tháng 6 năm 1723, hay 5 tháng 6 năm 1723 trong lịch Julian; mất ngày 17 tháng 7, 1790) là nhà kinh tế chính trị họctriết gia đạo đức học vĩ đại người Scotland. Bộ sách T́m hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia (Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) xuất bản năm 1776 đó giúp tạo ra kinh tế học hiện đại và cung cấp một trong những cơ sở hợp lư nổi tiếng nhất của thương mại tự do, chủ nghĩa tư bản, và chủ nghĩa tự do. 

Xem thêm: Các học thuyết kinh tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển
[Ẩn quảng cáo]