Kiểm soát lạm phát tại Việt Nam giai đoạn hiện nay thực trạng và giải pháp

Upload: ThuyChidorifu.dokovn|Ngày: 17/07/2012|Lượt xem: 1078|Tải về: 2|Cấp: Đại học

đề tài: kiểm soát lạm phát tại việt nam giai đoạn hiện nay thực trạng và giải pháp chương i: những vấn đề lý thuyết cơ bản về lạm phát 1.1 lạm phát và các chỉ tiêu đánh giá: 1.1.1 khái niệm lạm phát: có nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát , tuy nhiên các nhà kinh tế hiện nay đều đồng ý với định ng

ĐỀ TÀI: KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

 

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LƯ THUYẾT CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT

 

1.1  Lạm phát và các chỉ tiêu đánh giá:

1.1.1         Khái niệm lạm phát:

Có nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát , tuy nhiên các nhà kinh tế hiện nay đều đồng ư với định nghĩa lạm phát theo hệ thống lư luận kinh tế thị trường hiện đại :

“ Lạm phát là sự gia tăng lên liên tục mức giá chung ( mức giá trung b́nh) của hàng hóa theo thời gian.”

Một điểm chú ư từ định nghĩa là trong thực tế dù có bất kỳ sự tăng giá của một loại hàng hóa riêng lẻ nào đó th́ chưa thể gọi là lam phát. V́ sự thay đổi giá cả hàng hóa dịch vụ không đều nhau , một số mặt hàng tăng giá nhanh, một số mặt hàng tăng giá chậm thậm chí có mặt hàng giảm giá nên mức giá chung có thể không tăng hoặc có khi c̣n giảm. Do đó chỉ có thể kết luận khi mức giá chung tăng lên. Trong trường hợp đặc biệt khi tất cả các giá của hàng hóa và các yếu tố sản xuất tăng theo cùng một tỷ lệ phần trăm ta có lạm phát thuần túy

             Lạm phát là hiện tượng xảy ra ở tất cả những nước có lưu thông tiền giấy pháp định .Sự tăng lên của mức giá làm giảm giá trị tiền tệ được đo bằng sức mua của nó.

1.1.2        Phân loại lạm phát

1.1.2.1                                                  Rounded Rectangle: Lạm phátĐịnh lượng

 

 

 

 

 

 

 

 

 


·               Lạm phát vừa phải:  Lạm phát vừa phải được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán trước được. Loại lạm phát này thường chỉ bao gồm một chỉ số. Khi giá tương đối ổn định , mọi người tin tưởng vào đồng tiền họ sẵn sàng giữ tiền v́ nó hầu như giữ nguyên giá trị trong ṿng một tháng hay một năm như hiện tại. Mọi người sẵn sàng kí những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền v́ họ tin rằng giá và chi phí hàng hóa mà họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa .

·               Lạm phát phi mă:  Là lạm phát trong phạm vi hai hay ba chữ số. Loại lạm phát này đă kéo dài trong suốt thập kỉ 80 và gần hết thập kỷ 90 ở các nước Mỹ La Tinh với mức biến động giá hàng năm từ 20% đến 300%. Việt Nam cũng đă từng trải qua lạm phát này trong những năm 80 , thời kỳ cao điểm lên tới hơn 700% trên năm. Mức lạm phát này nếu ở mức chỉ hai con số thấp ( khoảng 10% đến12% ) th́ tác động tiêu cực của nó là không đáng kể. Nhưng sẽ là một đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế khi tỷ lệ giá cả tăng hai con số cao, lạm phát sẽ trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập. Trong những t́nh h́nh đó đồng tiền bị mất giá rất nhanh cho nên mọi người chỉ dám giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho những thanh toán hàng ngày. Khi đấy hầu hết các hợp đồng đều chỉ số hóa theo một chỉ số giá nào đấy hay theo ngoại tệ chẳng hạn là đôla .Các thị trường tài chính sẽ tàn lụi v́ vốn chạy ra nước ngoài. Mọi người tích trữ hàng hóa, mua nhà cửa và không bao giờ cho vay tiền với mức lăi suất danh nghĩa thấp như hiện tại.

·                    Siêu lạm phát : Loại lạm phát có tỷ lệ lạm phát rất cao và tỷ lệ tăng giá vượt xa lạm phát phi mă. Siêu lạm phát có tác động một cách nghiêm trọng tới đời sống và đến nền kinh tế .Tiền tệ sẽ bị từ chối trong thanh toán , người ta sẽ quay về thời kỳ trao đổi theo quan hệ hàng – hàng, không qua trung gian là tiền nữa. Có thể thấy được điều này tại nước công ḥa Weimar của Đức vào những năm 1920 khi chỉ trong thời gian từ tháng Giêng 1922 đến tháng 11 năm 1923 chỉ số tăng giá từ 1 lên 10.000.000.000!

  Đặc trưng cơ bản của loại lạm phát này là ,thứ nhất nó làm bất ổn đến hoạt động của nền kinh tế  và thường đi kèm với suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Thứ hai là cầu tiền thực tế về tiền giảm mạnh cùng với sự rất không ổn định của giá tương đối . Thứ ba , siêu lạm phát thường xảy ra sau những biến cố lớn như khủng bố ,chiến tranh, khủng hoảng chính trị...

 

 

 

 

1.1.2.2                Định tính:

 

 

 

 

 

 

 

 

 


·                    Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:

Lạm phát cân bằng :là lạm phát tăng tương ứng cùng thu nhập do vậy không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động

Lạm phát không cân bằng: là lạm phát tăng không tương ứng với thu nhập.Trên thực tế lạm phát không cân bằng thường xảy ra nhất .

·                                Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường

Lạm phát dự đoán trước: xảy ra trong một thời gian đủ dài với một tỷ lạm phát hàng năm khá đều đặn và ổn định khiến cho dân chúng có tâm lư và sự chờ đợi trở thành quán tính, người ta đă quen dần với việc sống chung với lạm phát .Do vậy người ta có thể dự đoán được tỷ lệ lạm phát của những năm tiếp theo và đă có những chuẩn bị với t́nh trạng lạm phát này.

Lạm phát bất thường : lạm phát xảy ra mang tính bất ngờ không thể dự đoán trước được. Do vậy về tâm lư, cuộc sống và thói quen chưa thích nghi được nên lạm phát bất thường xảy ra thường tạo ra nên những cú sốc về kinh tế và sự mất tin tưởng của người dân vào chính phủ.

·                                Lạm phát cao và lạm phát thấp:

Lạm phát cao : xảy ra khi tỷ lệ tăng b́nh quân năm của giá cả hàng hóa lớn hơn mức tăng thu nhập trong cùng khoảng thời gian.

Lạm phát thấp: xảy ra khi tỷ lệ tăng giá cả hàng hoá nhỏ hơn so với mức tăng thu nhập trong cùng khoảng thời gian.

 

 

 

1.1.3        Các chỉ tiêu đo lường lạm phát :

Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ này được tính thông qua chỉ số giá. Chỉ số giá  là thước đo mức giá chung ,chính xác hơn nó là số b́nh quân gia quyền của giá nhiều loại hàng hóa và dịch vụ. Khi xây dựng chỉ số giá các nhà kinh tế cân nhắc từng loại giá riêng lẻ theo tầm quan trọng kinh tế của mỗi hàng hóa. Những chỉ số giá quan trọng hay dược sử dụng là chỉ số giá tiêu dùng CPI, hệ số giảm phát GDP và chỉ số giá sản xuất PPI,  chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation).

1.1.3.1                                                   Chí số giá tiêu dùng(CPI):

·                   Cách tính (công thức laspeyres):                                          (1)

      Trong đó,

 chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0;

:   giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;  là giá mặt hàng i kỳ gốc;

:  giỏ hàng hóa i tại thời điểm gốc.

 : quyền số cố tại một năm cụ thể (năm gốc) trước thời điểm xét

 Cách tính trên cho ta giá trị tương đối của CPI tại thời điểm t so với thời  điểm gốc.

       Muốn tính giá trị tuyệt đối của CPI một năm t cụ thể ta dùng công thức:

                                  =         (2)

(với kí hiệu đă nêu ở trên)

Khi đó ta có

                                  Tỷ lệ lạm phát =    .100%        (3)

·                                            Ưu điểm : CPI có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kỳ thời điểm nào trong năm căn cứ vào rổ hàng hóa, do đó các  nhà làm chính sách có thể đưa ra những giải pháp kịp thời để điều chỉnh nền kinh tế. Cách tính này tương đối đơn giản, hạn chế sai sót trong tính toán. Kết quả nhận được tương đối trùng khớp với t́nh h́nh nền kinh tế

·                                Nhược điểm: Phương pháp này có hạn chế thể hiện ở mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số này chỉ đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người thành thị mua vào năm gốc. Do vậy những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là

               - Không phản ánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản

               - Không phản ánh sự biến đổi cơ trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian.

          1.1.3.2  Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP Deflator)

·                                            Cách tính (công thức Paasche)

                                   =                   (4)

Trong đó:

: chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội của kỳ báo cáo t so với năm gốc.

:   giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;  là giá mặt hàng i kỳ gốc;

:  giỏ hàng hóa tại thời điểm t.

 

Thực chất              =

 GDPdn là giá trị GDP danh nghĩa

 GDPtt là giá trị GDP thực tế

Trong công thức (4) th́     chính là GDP danh nghĩa

                               là GDP thực tế

 

·                                      Ưu điểm : Có mức bao phủ rộng, nó bao gồm hầu như tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hóa dịch vụ vào giá trị gia tăng, nghĩa là ở đây giỏ hàng hóa đă được điều chỉnh theo năm để phù hợp với t́nh h́nh thực tế, phản ánh một cách chính xác hơn những biến động cua giá cả tại thời điểm đang xét.

·                                      Nhược điểm: Không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá cả nhập khẩu cũng như sự biến động trong tỷ giá hối đoái. Nó cũng không thể hiện được sự thay đổi của chất lượng hàng hóa khi tính toán tỷ lệ lạm phát và sự biến động giá cả trong từng tháng v́ GDP deflator th́ chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi có báo cáo về GDP của năm đó.

 

   1.1.3.3  Chỉ số giá cả sản xuất(PPI)

·                                      Cách tính:

       Đây là chỉ số đo mức giá bán buôn, được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên hay nói cách khác đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất. Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung b́nh trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà sản xuất.

          Cách tính chí số PPI cơ bản là giống cách tính của chỉ số CPI chỉ khác là CPI lấy sô liệu của giá bán lẻ c̣n PPI lấy giá cả bán buôn. Các trọng số cố định để tính toán PPI là doanh số ṛng của hàng hóa .

·                                      Ưu điểm:

           Chỉ số được tính dựa trên một lượng lớn các hàng hóa bao gồm cả giá thực phẩm, các sản phẩm chế tạo và khoáng sản và nó cũng phản ánh được giá trị của đồng vốn dành cho trang thiết bị trong kinh doanh.
Do những đặc tính chi tiết đó nên nó thường được các doanh nghiệp sử dụng.

·                                      Nhược điểm:  Việc tính toán hết sức phức tạp v́ bao gồm một lượng lớn các doanh mục điều tra. Bên cạnh đó nó cũng mang những nhược điểm cố hữu của cách tính có trọng số cố định như đă tŕnh bày ở cách tính CPI.

 

                1.1.3.4 Chỉ số lạm phát cơ bản(Core inflation)

           Ngoài những nhược điểm như đă phân tích, những chỉ số nêu trên c̣n có một nhược điểm nữa là thường xuyên dao động. Tuy nhiên trên thực tế , sự dao động trong ngắn hạn lại không liên quan ǵ đến lạm phát căn bản trong nền kinh tế và việc chỉ sử dụng những chỉ số này làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ có thể làm chệch hướng chính sách. Với mục tiêu là ổn định tiền tệ trung hạn, chính sách tiền tệ nên tập trung vào xu hướng tăng giá thay v́ hướng vào sự giao động của giá. Từ thực tiễn trên đ̣i hỏi phải có một chỉ số giá mà nó không chịu sự tác động của những cú sốc tạm thời để làm cơ sở cho hoạch định cũng như đánh giá hoạt động của chính sách tiền tệ. Chỉ số “ Lạm phát cơ bản” được xây dựng để đáp ứng yêu cầu này.

   Chí số lạm phát cơ bản là một loại chỉ số đo lường mức giá b́nh quân của một nhóm hàng hóa, dịch vụ cần cho tiêu dùng của hộ gia đ́nh ở giai đoạn nào đó ,trong đó đă loại bỏ đi những mặt hàng tăng giảm giá có tính đột biến .Quan niệm này dựa trên cơ sở từ cách tính chỉ số CPI : so sánh mức giá cả b́nh quân của rổ hàng hóa năm nay với năm được lựa chọn làm năm gốc. Trong đó việc tính mức giá cả b́nh quân cũng là từ việc chọn một rổ hàng hóa tiêu dùng tiêu biểu mà một hộ gia đ́nh thường sử dụng và xác định mức độ quan trọng của từng nhóm hàng trong tổng chi tiêu của một hộ gia đ́nh để lựa chọn quyền số làm cơ sở tính chỉ số giá b́nh quân . Song tỷ lệ lạm phát cơ bản đă có sự cân nhắc để loại bỏ những biên động nhất thời về giá cả , làm méo mó việc đo lường ,tính toán mức độ lạm phát .

            Do đó về cơ bản ,chỉ số lạm phát cơ bản giống chỉ số CPI ,chỉ khác trong giỏ hàng hóa để tính có loại đi những mặt hàng tăng giá có tính đột biến. Việc đưa một số mặt hàng ra khỏi rổ hàng hóa để tính chỉ số lạm phát là nhằm loại trừ tác động của giá cả những nhóm hàng hóa chiêm quyền số lớn nhưng lại thường xuyên biến động thất thường gây những cú sốc trong tính toán từ đó dẫn đến những chính sách sai lầm và gây rối loạn trong xă hội. Do đó, chỉ số lạm phát cơ bản thể hiện xu hướng tăng giá hàng hóa dịch vụ trong dài hạn và là một thước đo được sử dụng rộng răi để đánh giá xu hướng cơ bản  hay diễn biến chung của giá tiêu dùng b́nh quân.Tuy nhiên chỉ số lạm phát cơ bản không thể thay thế cho chỉ số CPI trong đánh giá lạm phát mà nó chỉ được sử dụng như một chỉ tiêu bổ sung về diễn biến giá cả chung của hàng hóa dịch vụ.

 

 

        1.1.4    Việc áp dụng các chỉ số giá để tính toán tỷ lệ lạm phát ở nước ta:

  Việt Nam trong những năm vừa qua sử dụng chỉ số CPI là chủ yếu để tính tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tài chính tiền tệ. Việc áp dụng tỷ lệ lạm phát cở bản ở nước ta vẫn c̣n đang khá dè dặt v́ như ta biết Việt Nam là nước nông nghiệp, 75% dân số là nông dân. Giá cả nông sản hàng hoá tăng giảm phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Giá lương thực, thực phẩm chiếm 60-70% mức sinh hoạt hàng ngày của gia đ́nh người Việt. Giá xăng dầu, sắt thép, hoá chất ... chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị hàng nhập khẩu của nước ta. Nếu loại bỏ những thứ hàng hoá ấy khi tính toán CPI (theo cách tính của lạm phát  cơ bản) , th́ con số mà nó biểu hiện sẽ không phản ánh đúng thực trạng kinh tế - xă hội Việt Nam. Do đó CPI vẫn là công cụ mà các nhà làm chính sách hướng đến.

 

           Việt Nam bắt đầu tính toán và sử dụng CPI để phản ánh mức độ tăng giá tiêu dùng chung từ năm 1998 (trước 1998, sử dụng chỉ số giá bán lẻ - RPI). Từ đó đến nay, số lượng và quyền số của các mặt hàng trong rổ hàng hóa để tính CPI được cập nhật và mở rộng 5 năm một lần, thời điểm được chọn làm năm gốc cũng thay đổi theo: năm gốc 1995 (296 mặt hàng), 2000 (390 mặt hàng), 2005 (494 mặt hàng). Các mặt hàng trong rổ hàng hóa CPI hiện được phân chia thành các nhóm, chi tiết theo các cấp: cấp 1: 10 nhóm, cấp 2: 32 nhóm, cấp 3: 86 nhóm, cấp 4: 237 nhóm. Do đó, hiện nay số liệu CPI của Việt Nam được chia làm 3 giai đoạn: 1998-2000, 2001-2005, 2006-nay. Sau đây tôi xin được tŕnh bày sơ lược cách đánh giá CPI của Việt Nam. Gai đoạn hiện nay.

         1.1.4.1   . Phương pháp điều tra và tính chỉ số giá tiêu dùng

             CPI của nước ta đă và đang được tính cho cả nước, 8 vùng kinh tế và 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

            Ở nước ta, quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng cố định trong 5 năm và tính cho năm gốc so sánh (đồng nhất với năm cập nhật danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện). Trong thời kỳ 2006-2010 năm gốc so sánh là năm 2005, do đó giá kỳ gốc theo danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện mới, quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng đều phải là số liệu của năm 2005.

           Quyền số năm 2005 được tổng hợp từ kết quả cuộc điều tra Mức sống dân cư  năm 2004 của Tổng cục Thống kê. Ngoài ra, năm 2005 Tổng cục Thống kê đă tiến hành điều tra mẫu bổ sung tại 10 tỉnh, thành phố để phân chia các nhóm chi tiêu nhỏ hơn theo yêu cầu tính chỉ số giá tiêu dùng.

+ Công thức tổng quát như sau  (Công thức Laspeyres):

    (1)

Trong đó:

 chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0;

:   giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;  là giá mặt hàng i kỳ gốc;

 : quyền số cố định năm 2005.

Công thức (1) tính CPI dài hạn (kỳ báo cáo so với kỳ gốc). Công thức này đă được áp dụng nhiều năm và có nhiều ưu điểm như cách tính dễ hiểu, ngắn gọn; nhưng cũng có một số nhược điểm khi giải quyết vấn đề chọn mặt hàng mới thay thế mặt hàng cũ không c̣n bán trên thị trường, hàng thời vụ hoặc hàng thay đổi chất lượng do mọi so sánh đều phải thông qua một kỳ gốc đă chọn (ví dụ kỳ gốc 2000, kỳ gốc 2005...). 

  Để khắc phục những nhược điểm trên, hiện nay, CPI được tính theo công thức Laspeyres chuyển đổi - hay phương pháp so sánh với kỳ gốc ngắn hạn. Công thức này hoàn toàn tương thích với công thức Laspeyres gốc. Dạng tổng quát như sau : 

 (2)

Trong đó:

[Ẩn quảng cáo]