Lưu trữ và cung cấp hoàn toàn miễn phí lượng luận văn, đồ án, tiểu luận

Nghiên cứu thu nhập và tiêu dùng của dân cư trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Upload: HongLoanPham.dokovn|Ngày: 17/07/2012|Lượt xem: 634|Tải về: 2|Cấp: Đại học

phần mở đầu 1. sự cần thiết của đề tài nghiên cứu: công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta dưới sự lãnh đạo của đảng đã đạt được những thành tựu to lớn: trong thời kỳ 1991-1995 kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh bình quân 8,2% một năm. do kinh tế phát trión đời sống của nhân dân đã đủ ăn và bước đầu

PHẦN MỞ ĐẦU

 

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:

Công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta dưới sự lănh đạo của Đảng đă đạt được những thành tựu to lớn: trong thời kỳ 1991-1995 kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh b́nh quân 8,2% một năm. Do kinh tế phát triÓn đời sống của nhân dân đă đủ ăn và bước đầu có tích luỹ, số hộ nghèo giảm xuống.

Kinh tế thị trường, đă làm phảt sinh sự phân hóa giàu nghèo trong dân cư. "T́nh trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng nông thôn với nhau, giữa hộ giầu và hộ nghèo trong từng cộng đồng đang diễn ra khá rộng. Chúng ta thừa nhận t́nh trạng phát triển không đều đó, nhưng bản chất chế độ của chúng ta không cho phép để nó diễn ra tù phát và khoảng cách giữa giầu và nghèo ngày càng lớn, tạo nên sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xă hội" [13 ; 5].

"Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, một trong những nước nghèo nhất thế giới, lại bị thiên tai thường xuyên và hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài nên t́nh trạng nghèo đói nặng nề của nhân dân là khó tránh khỏi. Đại bộ phận số hộ nghèo đói tập trung ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa ... Sự phân tầng thu nhập, phân hóa giàu nghèo những năm qua diễn ra nhanh chóng và mức độ chênh lệch lớn" [19 ; 117].

Do đó nhiệm vụ cải thiện nâng cao đời sống của dân cư xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa lâu dài đối với tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Đời sống của dân cư gắn bó chặt chẽ với thu nhập và tiêu dùng của họ. Thu nhập là yếu tố quyết định tiêu dùng, quyết định mức sống và mức độ tích luỹ tài sản. Tiêu dùng của dân cư cũng tác động rất rơ đến thu nhập của họ.

Do đó nghiên cứu thu nhập và tiêu dùng của dân cư, đề ra các giải pháp để cải thiện đời sống nhân dân, thu hẹp sự phân hóa giàu nghèo, đảm bảo công bằng xă hội có ư nghĩa quan trọng và cấp thiết.

Đối với tỉnh Yên Bái là tỉnh miền núi c̣n nghèo nàn lạc hậu, công cuộc xóa đói giảm nghèo lại càng trở nên cấp thiết cả trước mắt và lâu dá.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:

1/ Khẳng định sự cần thiƠt và tác dụng của việc phân tích thu nhập và tiêu dùng của dân cư trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

2/ Xác định cơ sở lư luận và thực tiễn của việc nghiên cứu thống kê thu nhập và tiêu cùng của dân cư.

3/ Lựa chọn phương pháp tiên tiến sử dụng nguồn số liệu ở địa phương tính toán các chỉ tiêu phản ánh thực trạng thu thập và tiêu dùng của dân cư Yên Bái, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống, tăng thu nhập và tiêu dùng, xóa đói giảm nghèo trong dân cư.

4/ Cách thu thập thông tin về thu nhập, tiêu dùng của dân cư.

3. Phương pháp nghiên cứu:

Đề giải quyết các vấn đề đă nêu ra, đề tài sử dụng một số biện phương pháp thống kê truyền thống (số tương đối, số b́nh quân, các chỉ tiêu đo độ biến thiên, chỉ số, phân tổ ...) và một số phương pháp thống kê hiện đại (đường cong Loremz, hệ số Gini, hệ số Elteto - Frigyes v.v...).

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

Đề tài nghiên cứu thu nhập và tiêu dùng của dân cư trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

5. Những đóng góp của luận án:

- Nghiên cứu hoàn thiện các khái niệm, phạm trù liên quan đến thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

- Nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

- Nghiên cứu mối quan hệ thu nhập - tiêu dùng và tích luỹ trong dân cư.

- Các giải pháp xóa đói giảm nghèo, các kiến nghị về nghiệp vụ thống kê trong phân tích thu nhập - tiêu dùng của dân cư.

6. Kết cấu của luận án:

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lư luận chung về thu thập và tiêu dùng của dân cư.

Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp phân tích thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

Chương 3: Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích thu nhập và tiêu dùng của dân cư tỉnh Yên Bái thời kỳ 1991-1996.


Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LƯ LUẬN CHUNG VỀ THU NHẬP

VÀ TIÊU DÙNG CỦA DÂN CƯ

 

1.1. QUAN ĐIỂM VỀ THU NHẬP CỦA DÂN CƯ.

Thu nhập của dân cư là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động trợ cấp của Nhà nước trợ giúp của xă hội mà dân cư (hộ) nhận được trong một thời gian nhất định (thường là 1 tháng hoặc 1 năm). Mức sống của dân cư cao hay thấp, sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch giữa hộ giầu và hộ nghèo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là mức thu nhập của dân cư (từng hộ, từng lao động, hoặc từng nhân khẩu). Thu nhập là yếu tố quyết định đến quy mô và cơ cấu tiêu dùng - Thu nhập là yếu tố quyết định đến quy mô và cơ cấu tiêu dùng - Để đánh giá và phân tích thu nhập của dân cư, chúng ta cần xem xét một số khái niệm sau.

1.1.1. Tổng thu của dân cư:

Tổng thu của dân cư là biểu hiện bằng tiền của các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề, dịch vụ, do lao động của họ đem lại. Và các khoản thu từ Nhà nước, từ các tổ chức kinh tế xă hội, mà dân cư nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một tháng hoặc một năm).

Tổng thu của dân cư bao gồm các khoản sau đây:

- Thu do hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ.

- Thu về tiền công tiền lương.

- Thu về hoạt động tài chính lăi gửi tiền tiết kiệm, lăi mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu ...

- Thu do cho thuê tài sản.

- Thu do nhận được các khoản tài trợ, phụ cấp từ Nhà nước (hưu trí, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động, học bổng, trợ cấp gia đ́nh chính sách) trợ giúp của dự án ...

- Thu do nhận được các khoản trợ giúp của các tổ chức xă hội (chữ thập đỏ, các tổ chức ttừ thiện ...), được tặng, biếu ...

Chỉ tiêu tổng thu nhưu xem xét trên đây trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính là tổng giá trị sản xuất (GO), bao gồm cả chi phí sản xuất, thuế và các chi phí khác. Tổng thu của dân cư là chỉ tiêu cơ bản đầu tiên làm cơ sở để tính tổng thu nhập của dân cư.

(Như vậy có các khoản thu của dân cư ngoài những khoản trên đây không được tính vào tổng thu của dân cư, thí dụ: khoản vay ngân hàng, thu do bán tài sản, thu do rút tiềt kiệm, thu do đ̣i được nợ ...).

1.1.2. Tổng thu nhập của dân cư:

Tổng thu nhập của dân cư là phần c̣n lại sau khi lấy tổng thu của dân cư  trừ đi tổng chi phí sản xuất, kinh doanh.

Tổng thu nhập của dân cư

 

=

Tổng thu của dân cư

 

-

Tổng chi phí vật chất và dịch vụ

sử dông cho hoạt động sản xuất

kinh doanh của dân cư

Trong tổng thu nhập của toàn thể dân cư phần thu nhập do sản xuất kinh doanh đem lại thường chiếm phần lớn nhất. V́ thế có thể coi chỉ tiêu tổng thu nhập tổng thu nhập của dân cư là một trong những chỉ tiêu tổng hợp đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi nó không chỉ phụ thuộc vào tổng thu của dân cư mà c̣n phụ thuộc vào chi phí sản xuất kinh doanh. Xét trường hợp đơn giản nhất, nếu tổng thu của dân cư là cố định, chi phí sản xuất càng thấp th́ tổng thu nhập của dân cư càng cao và ngược lại chi phí sản xuất càng cao th́ tổng thu nhập của dân cư càng thấp.

Tổng thu nhập của dân cư càng cao phản ánh sản xuất kinh doanh của dân cư phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Tổng thu nhập của dân cư phản ảnh hoạt động sản xuất kinh doanh bị đ́nh đốn thua lỗ.

Như vậy, tổng thu nhập của dân cư là chỉ tiêu có ư nghĩa lớn khi nghiên cứu kinh tế dân cư.

1.1.3. Thu nhập cuối cùng của dân cư (thu nhập danh nghĩa).

Thu nhập cuối cùng của dân cư là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện bằng tiền của tổng thu sau khi trừ đi chi phí sản xuất, trừ đi các khoản nộp vào quỹ phân phối lại và cộng các khoản nhận được từ phân phối lại.

Trước khi đem tổng thu nhập ra chi dùng dân cư c̣n phải thanh toán các khoản thuế (trực thu) mua bảo hiểm và các khoản đóng gói khác (đoàn thể phí, đóng gói xă hội ...) mà người dân thực hiện theo nghĩa vụ. Họ cũng nhận được các khoản phân phối lại (như bồi thường bảo hiểm).

Thu nhập cuối cùng của dân cư là kết quả của quá tŕnh phân phối và phân phối lại GDP, nói cách khác thu nhập cuối cùng của dân cư tương ứng với giá trị những của cải vật chất mà dân cư đă tiêu dùng và tích luỹ.

Thu nhập cuối cùng của dân cư cho phép đánh giá các khoản thu mà dân cư được sử dụng (thu nhập khả dụng) cho các nhu cầu của họ. Song việc sử dụng thu nhập cuối cùng của dân cư c̣n chịu ảnh hưởng

của biến động giá cả. Việc loại trừ ảnh hưởng của giá cả đến thu nhập cuối cùng của dân cư dẫn đến chỉ tiêu thu nhập thực tế của dân cư.

1.1.4. Thu nhập thực tế của dân cư:

Thu nhập cuối cùng của dân cư không phản ánh chính xác mức thu nhập của dân cư nếu không tính đến ảnh hưởng biến động của giá cả hàng hóa và dịch vụ (sức mua của đồng tiền) bởi v́ giữa các vùng khác nhau, giữa các thời kỳ khác nhau, sức mua của đồng tiền là khác nhau. V́ vậy thu nhập cuối cùng của dân cư cần phải tính theo giá so sánh. Thu nhập cuối cùng của dân cư sau khi loại trừ ảnh hưởng giá tiêu dùng được gọi là thu nhập thực tế của dân cư.

(1)

=

Thu thập thực tế

 

Thu thập cuối cùng

(1')

của dân cư

 

chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

                                        =       Thu nhập cuối cùng x Ism

                        (Ism : chỉ số sức mua)

Thu nhập thực tế của dân cư cho phép chúng ta so sánh phân tích biến động của thu nhập của dân cư một địa phương qua các thời kỳ khác nhau, giữa các địa phương khác nhau trong cùng một thời kỳ và trong các thời kỳ khác nhau.

1.2. QUAN ĐIỂM VỀ B̀NH ĐẲNG TRONG THU NHẬP.

Thu nhập được h́nh thành trong quá tŕnh phân phối, chịu sự tác động của hai yếu tố là kết quả sản xuất và phương thức phân phối thu nhập. Kết quả sản xuất quyết định khối lượng thu nhập nhiều hay Ưt. Phương thức phân phối thu nhập quyết định việc phân chia thu nhập cho từng ngành kinh tế, từng địa phương, từng cá nhân như thế nào. Phương thức phân phối phụ thuộc vào chính sách kinh tế, bản chất xă hội.

Thu nhập được phân phối b́nh đẳng, tức là những người có cống hiến như nhau được nhận thu nhập như nhau, những người có cống hiến khác nhau được nhận thu nhập khác nhau.

Phân phối thu nhập b́nh quân là phân phối thu nhập cho những người có cống hiến khác nhau nhưng lại nhận được thu nhập như nhau. Rơ ràng b́nh đẳng và b́nh quân là hoàn toàn khác nhau.

Cống hiến trong cả hai trường hợp được hiểu là cống hiến cho sản xuất, tức là sự đóng góp về số lượng, chất lượng lao động, về phương tiện sản xuất và về vốn.

Nếu chỉ xét thuần tuư phân phối thu nhập theo lao động th́ vấn đề b́nh đẳng trong phân phối thu nhập được đặt ra theo hai góc độ sau đây: b́nh đẳng theo chiều dọc và b́nh đẳng theo chiều ngang.

1.2.1. B́nh đẳng theo chiều dọc:

B́nh đẳng theo chiều dọc có nghĩa là với tŕnh độ chuyên môn khác nhau, chức năng và nhiệm vụ khác nhau, phải có mức thu nhập khác nhau.

B́nh đẳng theo chiều dọc là đ̣i hỏi tất yếu khách quan, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Công bằng theo chiều dọc nếu được thực hiện tốt sẽ kích thích mọi người nâng cao tŕnh độ, nâng cao tay nghề, nâng cao kỹ năng sản xuất, là động lực khuyến khích sản xuất phát triển. Sự vi phạm b́nh đẳng theo chiều dọc sẽ có tác dụng ngược lại, ḱm hăm sự vươn lên của từng người.

1.2.2. B́nh đẳng theo chiều ngang:

Có nghĩa là những người có tŕnh độ tay nghề như nhau, cùng bỏ ra cường độ lao động như nhau, cùng làm một công việc đ̣i hỏi tŕnh độ kỹ thuật như nhau, dù làm trong lĩnh vực nào cũng phải có thu nhập như nhau.

Bảo đảm b́nh đẳng theo chiều ngang là điều kiện để sử dụng lao động một cách ổn định. Nếu b́nh đẳng theo chiều ngang bị vi phạm, th́ nơi có thu nhập cao sẽ thu hút số lao động tập trung rất lớn, gây khó khăn cho các mặt liên quan của đời sống xă hội. Ngược lại nơi có thu nhập thấp sẽ rất thiếu nhân lực (cả về số lượng và chất lượng) cho các nhu cầu sử dụng lao động ở mức b́nh đẳng.

Kết hợp một cách hài ḥa bảo đảm cả hai mặt b́nh đẳng theo chiều dọc và b́nh đẳng theo chiều ngang là yếu tố cơ bản bảo đảm b́nh đẳng trong phân phối thu nhập, là nhân tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, ổn định xă hội.

Trong thực tế, việc bảo đảm b́nh đẳng trong phân phối thu nhập (theo lao động) được thể hiện qua các chính sách về thuế, tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho các vùng khó khăn, xa xôi, hẻo lánh và các ngành nghề được ưu đăi.

1.3. QUAN ĐIỂM VỀ TIÊU DÙNG CỦA DÂN CƯ.

Mức sống của dân cư không chỉ chịu sự chi phối có tính quyết định của thu nhập của họ mà c̣n phải được thÓ hiện ở mức tiêu dùng cho đời sống của họ.

Theo nghĩa rộng tiêu dùng là sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ vào quá tŕnh sản xuất, hoặc vào đời sống hàng ngày của từng hộ gia đ́nh và chung cho toàn xă hội.

Theo SNA (hệ thống tài khoản quốc gia) tiêu dùng của dân cư là tiêu dùng cuối cùng, các sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng vào tiêu dùng sẽ tiêu phí đi trong quá tŕnh sử dụng ("mất đi" trong quá tŕnh sử dụng). Cũng theo SNA, tiêu dùng cho sản xuất là tiêu dùng trung gian, các sản phẩm vật chất và dịch vụ không "mất đi" mà được chuyển vào các sản phẩm dịch vụ được sản xuất ra. Về thực chất, tiêu dùng trung gian là chi phí sản xuất, là đối tượng nghiên cứu của quản trị kinh doanh.

Xét từ góc độ tài chính, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đ́nh dân cư là khoản chi tiền mua hàng hóa dịch vụ để tiêu dùng, trong tiền mua hàng hóa dịch vụ đó có cả thuế doanh thu trả gộp (thuế gián thu). Tiêu dùng cuối cùng của dân cư c̣n bao gồm giá trị những sản phẩm và dịch vụ dân cư tự sản xuất và tiêu dùng (thí dụ nông sản thóc lúa, vải, thịt lợn, trâu, ḅ v.v...) kể cả dịch vụ nhà ở, mà nhà ở đó đang thuộc sở hữu của dân cư và giá trị quy ra tiền những hàng hóa dịch vụ được cấp, được cho (không phải trả tiền).

Tiêu dùng cuối cùng không bao gồm thuế thu nhập, các loại thuế trực thu khác, các khoản đóng góp, các khoản chuyển nhượng vốn.

Tiêu dùng của dân cư xét dưới h́nh thái vật chất, là việc dân cư sử dụng những sản phẩm và dịch vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh, giải trí, các dịch vụ cần thiết khác cho đời sống vật chất và văn hóa thường ngày.

Trong thống kê kinh tế, tiêu dùng của dân cư là biểu hiện tổng hợp bằng tiền, của các vật phẩm vật chất và dịch vụ mà dân cư tiêu dùng cho đời sống hàng ngày (có thể thống kê được). Như thế, chỉ các vật phẩm và dịch vụ đem chi dùng cho đời sống dân cư có thể tính được bằng tiền mới được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, c̣n các vật phẩm hoặc dịch vụ không thể tính được bằng tiền không thuộc phạm vi nghiên cứu.

Xét về nguồn của tiêu dùng của dân cư, chúng được thanh toán (chi trả) bằng hai nguồn: một là của bản thân dân cư tự trang trải bằng thu nhập của ḿnh (phần này chiếm gần như hầu hết trong tiêu dùng) và hai là của Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân tài trợ, dân cư không phải trả tiền.

Chóng ta nghiên cứu thêm hai vấn đề sau đây:

- Một là: tiêu dùng của dân cư chỉ tŕnh cho những sản phẩm, dịch vụ thực sự được chi dùng, không bao gồm phần bị mất mát, hao hụt (do thiên tai lũ lụt, hỏa hoạn ...) và chi pháp luật cấm, ma tuư, mại dâm ...

- Hai là: tiêu dùng của dân cư và chi tiêu của dân cư là hai chỉ tiêu khá gần gũi với nhau nhưng không thể đồng nhất. Hai chỉ tiêu này giống nhau ở chỗ chúng đều là những khoản chi của dân cư (bằng tiền và hiện vật quy tiền). Chỗ khác nhau của chúng là ở phạm vi. Tiêu dùng của dân cư chỉ bao gồm những khoản chi cho nhu cầu đời sống vật chất và văn hóa. C̣n chi tiêu của dân cư ngoài các khoản chi cho tiêu dùng cho đời sống c̣n có rất nhiều khoản chi khác như chi cho sản xuất, cho vay mượn, để dành (giữ tiết kiệm) v.v... Ngoài ra có những khoản dân cư không phải chi tiêu nhưng lại được tính vào tiêu dùng, đó là khoản dân cư được cấp, được cho để tiêu dùng mà không phải trả tiền.

Tiêu dùng của dân cư gồm các khoản sau:

- Chi tiền mặt để mua hàng hóa và dịch vụ cho đời sống hàng ngày.

- Chi dùng các sản phẩm, dịch vô tù sản xuất, kể cả tiêu dùng nhà ở của dân cư đang sở hữu.

- Giá trị những vật phẩm, dịch vụ mà dân cư được tài trợ, được cho (không phải trả tiền) dùng cho đời sống.

Trong 4 giai đoạn của quá tŕnh sản xuất: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng, tiêu dùng là khâu cuối cùng nhưng lại giữ vị trí hết sức quan trọng. Tiêu dùng và sản xuất là hai mặt đối lập của một thể thống nhất. Tiêu dùng là mục đích của sản xuất. Tiêu dùng làm cho quá tŕnh sản xuất diễn ra thông suốt, liên tục không ngừng, và chính tiêu dùng nêu lên các yêu cầu, đề ra các nhu cầu để sản xuất phát triển. Vai tṛ của tiêu dùng do đó không phải là thụ động mà là tích cực. Đối với từng cá nhân, th́ để có tiêu dùng với số lượng nhiều hơn; với chất lượng tốt hơn, có mức tiêu dùng cao hơn th́ phải có thu nhập cao hơn, nhiều hơn mức cũ. Động cơ mong muốn nâng cao thu nhập kích thích cá nhân nâng cao tŕnh độ, năng lực, tay nghề, kỹ năng sản xuất kinh doanh v.v..., do đó làm cho chất lượng đội ngũ lao động xă hội được nâng lên.

Tiêu dùng của dân cư trong một thời kỳ ngắn có tính ổn định tương đối, song xét trong một thời kỳ dài, nó luôn biến động, thường có xu hướng tăng lên. Sự vận động theo hướng tăng lên của tiêu dùng là sự vận động cùng chiều với sự tăng lên của lực lượng sản xuất. Giới hạn của sự vận động của tiêu dùng của dân cư được quy định một cách khách quan bởi tŕnh độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tiêu dùng cho đời sống của dân cư thực chất là quá tŕnh tái sản xuất sức lao động cho bản thân người lao động, cho gia đ́nh họ, bao gồm cả quá tŕnh đào tạo kỹ năng lao động cho thế hệ kế tiếp. Tiêu dùng củ dân cư cho đời sống trên ư nghĩa đó là sự tiếp tục không ngừng của chu tŕnh sản xuất xă hội.

1.4. QUAN ĐIỂM VỀ GIÀU NGHÈO.

Vấn đề giàu nghèo luôn gắn trực tiếp với việc nghiên cứu thu nhập và tiêu dùng của dân cư, bởi v́ biểu hiện của giàu nghèo là ở mức độ cao thấp của thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

Giàu nghèo là vấn đề được quan tâm khá nhiều ở các quốc gia khác nhau, dù là nước lạc hậu, kém phát triển kinh tế đến những nước siêu cường về kinh tế; tất nhiên là với mức độ quan tâm không giống nhau.

1.4.1. Khái niệm về giàu nghèo.

Giàu nghèo là khái niệm tương đối, biểu hiện mối tương quan về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong từng thời gian và không gian cụ thể.

Thế nào là nghèo và có thể định ra được ranh giới để xác định được một hộ ở t́nh trạng nghèo hay không nghèo hay không ? Trong những năm 60 và gần đây, ESCAP cho rằng có nghèo khổ tuyệt đối và nghèo khổ tương đối.

1.4.2. Theo ESCAP, nghèo khổ tuyệt đối có nghĩa là thu nhập thực tế của hộ không đảm bảo đủ cho hộ được hưởng những cái mà xă hội cho phép họ được hưởng ở mức tối thiểu để duy tŕ được tái sản xuất sức lao động như ăn uống, học tập, ở, vui chơi giải trí, chữa bệnh v.v... Nghèo đói tuyệt đối c̣n bao gồm các hiện tượng như suy dinh dưỡng, thiếu ăn hoặc chết đói, hoặc phải lao động cực nhọc.

Nghèo khổ tuyệt đối như vậy gắn liền với mức tiêu dùng của dân cư. Việc đo lường nghèo đói tuyệt đối là việc làm hết sức phức tạp, để xác định ranh giới nghèo khổ tuyệt đối phải lấy một mức tiêu dùng cơ bản tối thiểu làm chuẩn so sánh, nếu tiêu dùng của hộ dân cư nào từ chuẩn đó trở xuống là thuộc loại nghèo khổ, mức tiêu dùng ở trên mức chuẩn đó là không thuộc loại nghèo khổ.

Trong thêi gian gần đây, một số nước ở châu Á lấy mức tiêu dùng cơ bản tối thiểu là khẩu phần ăn duy tŕ của một người trong 1ngày làm chuẩn ranh giới, như Bakixtan lấy mức 2.100 colo, Ên Độ lấy mức 2.2500 calo v.v... Việt Nam, năm 1993 trong cuộc điều tra giàu nghèo, Tổng cục Thống kê sử dụng mức nghèo khổ là: 2.100 calo. Trong thực tế, việc điều tra về mức tiêu dùng tối thiếu đó được quy về thu thập, và như vậy mức nghèo khổ được sử dụng thực tế là: mức thu thập đảm bảo mua được một lượng lương thực, thực phẩm đủ khẩu phần ăn duy tŕ với lượng calo tiêu dùng một người 1 ngày là 2.100 ca lo. [16 ; 132].

Mức nghèo khổ là số tuyệt đối nên khi nền kinh tế tăng trưởng khá thu nhập của dân cư tăng lên, số hộ nghèo khổ tuyệt đối có thể giảm xuống rất nhiều khi nền kinh tế tăng trưởng cao và liên tục, thu nhập của dân cư tăng lên cao, có thể không c̣n hộ nghèo khổ tuyệt đối.

1.4.3. Nghèo khổ tương đối:

Nghèo khổ tương đối thể hiện ở sự bất b́nh đẳng trong thu nhập. Thu nhập của người nghèo khổ tương đối là thấp hơn mức thu nhập trung b́nh trong cộng đồng.

Sự chênh lệch về thu nhập của các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu. Ngay cả khi đến giai đoạn kinh tế phát triển cao, ổn định th́ sự chênh lệch về thu nhập của dân cư không thể tự tiêu biến đi, mà chỉ có thể là khoảng biên độ chênh lệch được thu hẹp lại. Tuy nhiên số người có thu nhập dưới mức trung b́nh trong cộng đồng th́ luôn tồn tại, cũng tức là nghèo khổ tương đối c̣n tồn tại trong một thời kỳ rất dài nữa của lịch sử.

Đối lập với nghèo khổ là giàu có. Các hộ dân cư giàu có là những hộ có thu nhập ở mức cao, ổn định, có mức tiêu dùng cao, và có tích luỹ.

Chúng tôi cũng tán thành ư kiến của một số tác giả là giàu có nên hiểu theo hai khái niệm tương tự như nghèo khổ: đó là giàu có tuyệt đối và giàu có tương đối.

1.4.4. Giàu có tuyệt đối là hiện tượng một bộ phận dân cư có thu nhập rất cao, ổn định, có mức tiêu dùng cao, đồng thời có tích luỹ lớn bằng tiền và tài sản. Ranh giới mức thu nhập rất cao có thể lấy mức thu nhập của người phải nộp thuế thu nhập thường xuyên ở nước ta hiện nay (theo Luật thuế thu nhập) là 2 triệu đồng/ tháng làm ranh giới.

1.4.5. Cũng tương tự như nghèo khổ tương đối, giàu có tương đối thể hiện ở thu nhập của người giàu có tương đối, giàu có tương đối thể hiện ở mức thu nhập của người giàu cao hơn mức thu nhập trung b́nh trong cộng đồng.

1.5. QUAN HỆ GIỮA THU NHẬP VỚI TIÊU DÙNG, TÍCH LUỸ VỚI TIÊU DÙNG.

Giữa thu nhập và tiêu dùng, tiêu dùng và tích luỹ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, vận dụng xử lư tốt các mối quan hệ này là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao mức sống dân cư.

1.5.1. Trong quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng của dân cư, thu nhập giữ vai tṛ quyết định chi phí tiêu dùng.

Mức tiêu dùng cao hay thấp do mức thu nhập quy định một cách khách quan, người ta không thể thường xuyên tiêu dùng vượt quá mức thu nhập được.

Số lượng, chất lượng sản phẩm tiêu dùng, cơ cấu chủng loại của sản phẩm tiêu dùng của dân cư tuỳ thuộc mức thu nhập cao hay thấp của hộ dân cư. Nếu thu nhập ở mức thấp (từ đường ranh giới nghèo trở xuống) sản phẩm tiêu dùng chỉ có thể là lương thực thực phẩm để duy tŕ đời sống. Nếu mức thu nhập cao hơn (từ đường ranh giới nghèo trở lên) th́ ngoài nhu cầu tốt cần thiết là ăn, nhu cầu mặc mới có thể từng bước được đáp ứng. Sau khi thu nhập vượt qua việc đáp ứng nhu cầu mặc, các nhu cầu khác như nhà ở, chăm sóc sức khoẻ, học tập, vui chơi giải trí ... dần dần được đáp ứng.

Nếu như thu nhập giữ vai tṛ quyết định đối với tiêu dùng th́ ngược lại tiêu dùng cũng có tác dụng mạnh mẽ đến thu nhập. Tiêu dùng của dân cư về thực chất là tái sản xuất sức lao động, nếu sức lao động được tái sản xuất có số lượng và chất lượng kém sẽ kéo theo thu nhập giảm sút, c̣n nếu sức lao động được tái sản xuất có số lượng và chất lượng cao sẽ tác động mạnh mẽ tới sự thúc đẩy tăng thu nhập của dân cư.

Các hộ nghèo khổ, mức tiêu dùng chỉ đảm bảo được khẩu phần ăn duy tŕ, biểu hiện của t́nh trạng đó là suy dinh dưỡng, sức khoẻ yếu, học vấn thấp kém, kỹ năng lao động, kinh nghiệm sản xuất hầu như không có, họ chỉ có thể làm được những việc đơn giản với thu nhập thấp. Đó là ṿng luẩn quẩn sau đây:

SƠ ĐỒ 1

 

 

 

 

 


Vượt qua được mức tiêu dùng thấp kém, nhu cầu ăn uống chăm sóc sức khoẻ được thỏa măn tương đối đầy đủ (ăn đủ no, mặc đủ Êm, ốm đau có thuốc men, có nhà ở) thể lực được nâng lên. Cùng với thể lực được nâng lên, việc học tập (học vấn, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh ...) và đào tạo kỹ năng nghề nghiệp đem lại tŕnh độ lao động hơn hẳn lao động giản đơn ở mức tinh thông nghề nghiệp, tay nghề cao, kỹ năng kỹ xảo điêu luyện, có khả năng sáng tạo. Với sức lao động có tŕnh độ như vậy, là đảm bảo cho mét thu     nhập cao.

V́ vậy để phá vỡ, thoát khỏi ṿng luẩn quẩn nêu trên, cần phải tạo một đột phá về thu nhập, về tiêu dùng cho các hộ nghèo để họ có thể tự vươn lên vượt ra khỏi ṿng luẩn quẩn bế tắc của nghèo khổ. Việc tạo ra đột phá đó có thể tự bản thân người nghèo khổ vươn lên, song phần lớn cần có sự trợ giúp một cách có tổ chức của Nhà nước và cộng đồng xă hội dân cư.

1.5.2. Tiêu dùng và tích luỹ:

Thu nhập của dân cư được chi dùng cho hai mục tiêu chủ yếu là tiêu dùng va tích luỹ. Tiêu dùng của dân cư có xu hướng không ngừng nâng cao do nhu cầu đời sống luôn theo sát sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng để có thu nhập cao hơn th́ phải phát triển sản xuất, do đó cần phải tăng đầu tư cho sản xuất. Nguồn để tăng đầu tư cho sản xuất chủ yếu là từ tích luỹ. Nếu phần tiêu dùng nhiều lên th́ tích luỹ Ưt đi, nếu thu nhập và tiêu dùng bằng nhau th́ không có tích luỹ, nếu tiêu dùng Ưt đi th́ tích luỹ nhiều lên. Như vậy quan hệ giữa tiêu dùng và tích luỹ là quan hệ phụ thuộc ngược chiều nhau. Bởi v́ để sống, người ta phải không ngừng tiêu dùng, nên trong quan hệ này, tiêu dùng có vai tṛ lớn trong việc phân phối thu nhập thành tích luỹ và tiêu dùng.


Chương 2

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ VÀ PHƯƠNG PHÁP

PHÂN TÍCH THU NHẬP TIÊU DÙNG CỦA DÂN CƯ

 

2.1. Sự cần thiết xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

Thu nhập và tiêu dùng của dân cư luôn biến động theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, theo thời gian và không gian, liên quan phụ thuộc nhiều yếu tố, có ảnh hưởng qua lại với nhiều vấn đề kinh tế, xă hội khác nhau, là kết quả của các chính sách kinh tế, xă hội của Đảng, Nhà nước. Để nghiên cứu thu nhập và tiêu dùng của dân cư nhất thiết phải xây dựng và hoàn thiện từng bước hệ thống chỉ tiêu thống kê để đo lường, tính toán và phân tích chúng.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê được xây dựng phải đảm bảo có tính hệ thống, đồng bộ (có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau để trở thành một chính thể) và tính toán việc (đầy đủ) để thông tin cần thiết cho yêu cầu lănh đạo và quản lư của các cấp, các ngành.

2.1.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thu nhập và tiêu dùng của dân cư.

Để xây dựng các chỉ tiêu thống kê thu nhập và tiêu dùng của dân cư có tƯnh hệ thống và tính toàn diện cần dựa vào các căn cứ và các yêu cầu sau:

2.1.1.1. Những căn cứ xây dựng hệ thống chỉ tiêu:

- Hệ thống chỉ tiêu thông kê phải có nội dung phù hợp với các khái niệm về thu nhập và tiêu dùng của dân cư tức là phải xuất phát từ lư luận về thu nhập và tiêu dùng của dân cư và từ các mối quan hệ chủ yếu của chúng.

- Phải đảm bảo tính khả thi: hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo có thể thu thập tính toán được trong điều kiện hiện tại về tài chính, nhân lực và hoàn thiện từng bước khi điều kiện tài chính và nhân lực cho phép có thể đáp ứng tốt hơn.

- Hệ thống chỉ tiêu được xây dựng phải chú ư đến tính chất và đặc điểm của thu nhập và tiêu dùng, đó là tính chất phức tạp về mặt xă hội của chúng (khái niệm có tính tương đối, xă hội có nhiều tầng lớp dân cư, thu thập số liệu khó khăn ...) và các đặc điểm của chúng như: luôn gắn liền với các vấn đề biến động giá cả, tăng trưởng kinh tế và công bằng xă hội ...

- Hệ thống chỉ tiêu phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu là đánh giá thực trạng và các quan hệ của thu nhập tiêu dùng của dân cư.

2.1.1.2. Những yêu cầu trong xây dựng hệ thống chỉ tiêu.

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thu nhập và tiêu dùng của dân cư phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, về phương pháp tính toán và phạm vi tính toán. Đây là yêu cầu cơ bản nhằm làm cho các chỉ tiêu là đồng nhất theo không gian, theo thời gian khác nhau. Bởi v́ chỉ một trong ba mặt trên bị vi phạm, các chỉ tiêu được xây dựng sẽ không đảm bảo dược sự đồng nhất của chúng.

- Đảm bảo tính so sánh được của các chỉ tiêu trong hệ thống, yêu cầu của tính so sánh là yêu cầu tất yếu của việc phân tích nói chung và nghiên cứu phân tích thống kê nói riêng. Yêu cầu đảm bảo tính so sánh được chính là bước tiếp theo của yêu cầu đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán.

Nếu các chỉ tiêu trong hệ thống không đảm bảo tính so sánh được th́ việc nghiên cứu phân tích chung là không thể thực hiện được.

2.2. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ THU NHẬP VÀ TIÊU DÙNG.

2.2.1. Hệ thống chỉ tiêu thống kê về thu nhập.

Từ các khái niệm về thu nhập của dân cư đă nghiên cứu: tổng thu nhập thuần tuư, thu nhập cuối cùng, thu nhập thực tế của dân cư và qua khảo sát thực tế thu thập thông tin về thu nhập và tiêu dùng của dân cư hiện nay chủ yếu là điều tra chọn mẫu các hộ dân cư, xuất phát từ đặc điểm của thu nhập của dân cư: đó là thành quả hoạt động kinh tế của dân cư sau một thời kỳ nhất định (mùa vụ tỏng nông nghiệp, chu kỳ sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, lĩnh lương tháng ...) nên các chỉ tiêu về thu nhập là chỉ tiêu thời kỳ. Để đảm bảo tính đồng nhất, các chỉ tiêu và dân cư cũng phải là chỉ tiêu thời kỳ (dân số b́nh quân, số hộ b́nh quân...). Phạm vi tính toán các chỉ tiêu thu nhập về lănh thổ (vùng, tỉnh, huyện...) phải đảm bảo thống nhÊt cho cả chỉ tiêu thu nhập và chỉ tiêu về dân cư.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê về thu nhập có các nhóm chỉ tiêu sau đây:

            - Nhóm chỉ tiêu về quy mô thu nhập.

            - Nhóm chỉ tiêu về thu nhập b́nh quân.

            - Nhóm chỉ tiêu về kết cấu thu nhập.

2.2.1.1. Nhóm các chỉ tiêu về quy mô thu nhập:

Quy mô thu nhập của tổng thể dân cư được phản ảnh bằng các chỉ tiêu:

            - Tổng thu của dân cư.

            - Tổng thu nhập của dân cư.

            - Thu nhập cuối cùng của dân cư.

            - Thu nhập thực tế của dân cư.

Bốn chỉ tiêu này tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể phân theo lănh thổ và tời kỳ khác nhau.

2.2.1.2. Các chỉ tiêu thu nhập b́nh quân:

Các chỉ tiêu về thu nhập b́nh quân là loại số tương đối cường độ biểu hiện hai loại chỉ tiêu thống kê các loại nhưng có quan hệ với nhau. Việc kết hợp quy mô thu nhập, của tổng thể dân cư với chỉ tiêu về số lượng dân cư b́nh quân.

Công thức chung là:

Chỉ tiêu thu nhập

 

Chỉ tiêu về thu nhập

b́nh quân

 

Chỉ tiêu về dân cư b́nh quân

 

Chỉ tiêu về số lượng dân cư lấy theo ba tiêu thức chính là: hộ, nhân khẩu và lao động. Nhóm chỉ tiêu việc thu nhập b́nh quân như sơ đồ số 2 sau đây:

SƠ ĐỒ 2

C.tiêu T. nhập

CT SL D. cư BQ

Tổng thu

(TT)

Tổng thu nhập

(TTN)

Thu nhập cuối cùng (TNCC)

T. nhập thực tế (TNTT)

Số dân b́nh quân

Số hộ b́nh quân

Sè lao động b́nh quân

 

Chỉ tiêu thu nhập b́nh quân theo nhân khẩu phản ảnh thu nhập để đảm bảo tiêu dùng cho dân cư không phụ thuộc quy mô hộ.

Chỉ tiêu thu nhập b́nh quân hộ phản ảnh mức thu nhập đảm bảo tiêu dùng của hộ.

Chỉ tiêu thu nhập b́nh quân lao động phản ảnh một lao động làm ra được bao nhiêu thu nhập

2.2.1.3. Nhóm chỉ tiêu về kết cấu thu nhập:

Chỉ tiêu kết cấu thu nhập là loại số tương đối kết cấu biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức độ của từng bộ phận của tổng thể thu nhập với tổng thu nhập của dân cư.

Công thức chung là:

(3)

=

Cơ cấu (kết cấu

 

Thu nhập của bộ phận A

thu nhập

 

Tổng thu nhập của dân cư