Luận văn, đồ án, báo cáo thực tập, báo cáo tốt nghiệp, tiểu luận, bài tập lớn, thực tập chuyên ngành

 

 

 

 

I. PHẦN MỞ ĐẦU

 

1.T́m hiểu chung về cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008-2009

 

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, t́nh trạng đói tín dụng, t́nh trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đă lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới.

 

Hoa Kỳ là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản. Giá chứng khoán Hoa Kỳ bắt đầu giảm dần. Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 năm 2008 khi ngay cả những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … cũng lâm nạn. T́nh trạng đói tín dụng xuất hiện làm cho khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào t́nh thế khó khăn, điển h́nh là cuộc khủng hoảng của ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ năm 2008.

Các thị trường chứng khoán lớn của thế giới ở New York, London, Paris, Frankfurt, Tokyo đều có thời điểm sụt giá lớn lịch sử.

Ở châu Âu, chỉ số FTSE 100 từ mức 4789,79 xuống c̣n 4699,82.[3] Chỉ số DAX hôm 2 tháng 3 năm 2009 chỉ c̣n 3666, 4099 điểm so với 8067,3198 hôm 27 tháng 12 năm 2007.[4] Chỉ số CAC 40 hôm 2 tháng 3 năm 2009 cũng xuống mức thấp kỷ lục 2534,45 điểm.[5]

Nhật Bản có một hệ thống tài chính tương đối vững vàng đă trải qua một thời kỳ tái cơ cấu sau khủng hoảng 1996-1997. Tuy nhiên, tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ vẫn khiến cho thị trường chứng khoán của nước này rối loạn. Chỉ số giá cổ phiếu b́nh quân Nikkei đă xuống mức thấp lịch sử vào các ngày 8 và 10 tháng 10 năm 2008

 

 

 

 

 

2.Tác động của khủng hoảng toàn cầu tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng

Nhiều nghiên cứu đă chứng minh rằng, trong quá tŕnh thị trường tài chính có biến động mạnh ở một hoặc nhiều nước phát triển, các TTCK toàn cầu có độ liên thông lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ ổn định. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.

                                   Chỉ số VN – Index qua các thời kỳ ( Nguồn HBBS)

Từ Tháng 10/2007, thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến một đợt sụt giảm khủng khiếp của VN - index. Chỉ số xuống dốc liên tục, và có nhiều đợt điều chỉnh trong quá tŕnh đó. Thời gian này, Chính phủ cũng có nhiều chính sách tác động kể cả trực tiếp và gián tiếp.   Bước sang năm 2008 th́ thị trường chứng khoán việt nam thể hiện rơ hơn  liên tục lao dốc và tận cùng của chỉ số này có những lúc dưới mới 300 điểm.

Tuy nhiên, điều đáng lo cho TTCK Việt Nam hiện nay là động thái bán ra nhiều hơn mua vào của nhà ĐTNN.

 

Tổng số tiền bị khối này rút ra khỏi thị trường do bán cổ phiếu và trái phiếu từ đầu tháng 10 đến nay là 932 tỷ đồng và khoảng 11.000 tỷ đồng đối với trái phiếu, kể từ đầu tháng 8 đến nay, góp phần không nhỏ cho của sự đi xuống của thị trường trong thời gian qua.

II. TOÀN CẢNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2008

1.Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu có tác động tới thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu tháng 9/2008. Chỉ trong ba tháng rưỡi, nó đă xóa đi mọi thành quả phục hồi của thị trường trong giai đoạn hai tháng rưỡi trước đó, đưa thị trường về vạch xuất phát hồi giữa năm 2008.Thông qua một số con số nổi bật của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 chúng ta có thể hiểu được phần nào thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn này.

 

1.          222.843 tỷ đồng

Sự suy thoái của thị trường chứng khoán đă kéo giá cổ phiếu của các mă cổ phiếu niêm yết trên cả 2 sàn HOSE và HASTC đồng loạt giảm mạnh.Giá trị vốn hóa của thị trường tính tới thời điểm ngày 30/06/2008 chỉ c̣n 222,843 tỷ đồng tương đương 35,61 % GDP. So với thời điểm 30/12/2007 mức vốn hóa thị trường của cả 2 sàn chứng khoán đă giảm xuống khá  mạnh, mặc dù số lượng các công ty niêm yết vẫn tăng lên so với cuối năm 2007.

2.         521,67 điểm

Là mức giảm điểm của VN-Index tính tại thời điểm 30/06/2008 so với thời điểm 02/01/2008. Phiên giao dịch đầu năm VNIndex được thiết lập ở mức 921,07 điểm đến thới điểm ngày 30/06 , VNIndex chỉ c̣n 399.40 điểm .Con số tương tự tại HASTC là Hastc-Index giảm 209.67 điểm tương đương 65,05%( Hastc Index – 30/06 : 112,67 điểm ,02/01 : 322.34 điểm )

3.        336,02 điểm

Là mức đáy của VN Index thiết lập vào phiên giao dịch ngày 20/06/2008. Nếu so sánh với mốc đỉnh của thị trường chứng khoán được thiết lập vào ngày 12/03/2007 là 1.170,37 điểm th́ VNIndex mất đi 68,72 % giá trị.

4.        107,76 điểm

Hastc- Index chạm mốc đáy 107,76 điểm vào ngày 10/06/2008 , giảm 76,54% so với đỉnh 459,36 điểm của Hastc-Index. Chỉ số Hastc-Index đă có nguy cơ trở về mốc điểm cơ bản đầu tiên khi tiến sát về mốc 100 điểm.

5.        103/287

Có tới 103 mă trong 287 mă CP niêm yết có giá thị trường nhỏ hơn giá trị sổ sách .Cụm từ “dưới giá trị thật được sử dụng thường xuyên trong thời gian thị trường sụt giảm , nó minh chứng cho việc giá cổ phiếu giao dịch đang ở dưới mức giá trị được tính toán dựa trên tài sản thực tế của doanh nghiệp.

 

  6.       91,01%

Là mức giảm lớn nhất của một mă cổ phiếu tại thời điểm 02/01/2008 .mức giảm này thuộc về mă NTL của Công ty xây dựng phát triển đô thị Từ Liêm.Ngoài ra trên HOSE , trong giai đoạn này có tới 13 mă cổ phiếu có mức giảm trên 80%. Ngược lại không có mă cổ phiếu nào tăng giá trong giai đoạn này.

Tại HASTC ngoài S99 có sự ảnh hưởng của việc chia tách mă giảm mạnh nhất là PVE với mức giảm 87,16%.Có 33 mă đạt mức giảm trên 80%.Duy nhất 1 mă tăng giá là DTC với mức tăng khiêm tốn 600 đ/CP , tương đương 1,46%

 

                                                        HASTC

ĐV : đồng

Mă CK

Giá 02.01.08

Giá 30.06.08

Chênh lệch

%

S99

349,3

35,1

-314,2

-89,95

RCL

319,2

43,7

-275,5

-86,31

BVS

209,9

31,8

-178,1

-84,85

SCJ

204

42,3

-161,7

-79,26

SNG

182,9

27,2

-155,7

-85,13

MIC

220,5

65,1

-155,4

-70,48

SDA

170,5

23,5

-147

-86,22

PAN

160

25,3

-134,7

-84,19

PVE

140,2

18

-122,2

-87,16

VSP

166,9

48,1

-118,8

-71,18

 

 

Khối giao dịch toàn thị trường của HOSE đă có lúc chỉ đạt 1 triệu CP/phiên, so sánh với mức trung b́nh 11,3 triệu CP/phiên vào thời điểm thị trường nóng trong tháng 11/2007.Điều này cho thấy tính thanh khoản của thị trường đă gần như đóng băng .Hiện tượng dư bán sàn ở hầu hết các mă chứng khoán đă khiến các nhà đầu tư e ngại với kênh huy động vốn hiệu quả này.

HOSE

 
ĐV : đồng

Mă CK

Giá 02.01.08

Giá 30.06.08

Chênh lệch

%

TCT

339

63

-276

-81,42

BMC

332

57

-275

-82,83

NTL

288

25,9

-262,1

-91,01

SJS

252

46,2

-205,8

-81,67

FPT

219

50

-169

-77,17

SC5

180

27,2

-152,8

-84,89

SSI

168

32

-136

-80,95

BMP

165

39,1

-125,9

-76,30

HRC

166

43,3

-122,7

-73,92

NAV

135

15,9

-119,1

-88,22

 

 

Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến thị trường chứng khoán Việt Nam

i. phần mở đầu 1.tìm hiểu chung về cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008-2009 khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng lo

+ Xem thêm
Download

Tài liệu có tính phí

thêm vào bộ sưu tập

Lượt xem:527|Tải về:1|Số trang:15

Thông tin tài liệu

Trường:Học viện Ngân Hàng

Ngày tạo:

Tag: thị trường chứng khoán, chứng khoán việt nam, hiệp hội kinh doanh chứng khoán, giá chứng khoán, biên độ chứng khoán, chứng khoán hoa kỳ, biên độ bắt đầu, chứng khoán bất hợp pháp, tuần áp dụng biên độ, thị trường chứng khoán việt nam,