Tài liệu, bài giảng, văn bản, luận văn, đồ án, tiểu luận...

Cách phân biệt phụ âm đầu: L/N, S/X, TR/ CH, Gi/D......

Lượt xem:400|Tải về:3|Số trang:7 | Ngày upload:18/07/2013

CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT I.MỞ ĐẦU Trong sách báo, trong các văn bản hiện nay, có khá nhiều lỗi chính tả. Có những lỗi về chữ viết, về chính tả có thể dẫn đến sai khác hẳn về nghĩa và có thể bị phê phán về quan điểm, về tư tưởng. Trong bài "Quá nhiều lỗi trên báo chí" (NB&CL, số 1994), tác giả Minh Hiển kể hai chuyện sau: 1."…có lần bản thảo viết "l’amiral" (đô đốc), thợ sắp chữ sắp nhầm là "l’animal" (con vật), (người sửa bài) không phát hiện được, thế là sự việc thành to chuyện. Cuối cùng, người sửa bài phải chịu kỉ luật, thay đổi công tác, chuyển sang một nhà in khác. 2. Với câu "…các nước xã hội chủ nghĩa đó,…" dấu phấy đặt sau chữ đó bị xếp nhầm thành chữ i, khi in ra thành "…các nước xã hội chủ nghĩa đói…". Có ai đó đã suy diễn ra rằng đây là vấn đề “chính trị” chứ không chỉ là sự sơ suất! Và người sửa bài cũng đã phải chịu trách nhiệm. Có khi chỉ vì sai một dấu thanh của một từ, ngã thành hỏi hoặc hỏi thành ngã, mà một bài thơ rất hay trở nên tầm thường. Có chuyện sau: Khi in bài thơ "Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi Trên đầu xanh ngắt một bầu không Bàn cờ thế sự quân không động Mà thấy quanh mình nỗi bão dông" nhà thơ Khương Hữu Dụng đã từng tìm đến tận nhà in để dặn người xếp chữ đừng xếp nhầm chữ nỗi thành chữ nổi. Ấy thế nhưng trên tờ lịch ngày 03.4.2002 của nhà xuất bản Văn hoá lại mắc đúng cái lỗi mà Khương Hữu Dụng đã lo người thợ hiểu nhầm: Mà thấy quanh mình nổi bão dông. Danh ngữ nỗi bão dông đã chuyển thành động ngữ “nổi bão dông (tùm lum)" trong khi "trên đầu xanh ngắt một bầu không” tĩnh lặng và "bàn cờ thế sự quân không động". Vì vậy, mỗi người nên hết sức chú ý tới vấn đề chính tả trong quá trình rèn luyện về tiếng Việt. Chữ viết do con người tạo ra. Vậy nên chữ viết là quy ước. Qui tắc chính tả là những qui tắc về sự chuẩn mực trong chữ viết. Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chữ Việt, còn gọi là chữ quốc ngữ, là loại chữ viết ghi âm. Khi chúng ta nói, mỗi tiếng là một âm tiết. Chúng ta ghi các âm tiết đó thành chữ viết. Vậy cần biết cấu tạo của âm tiết tiếng Việt. Cách phát âm giữa các phương ngữ khác nhau. Do vậy, có những biến thể chính tả : cùng một từ nhưng có hơn một cách viết khác nhau. Như: trau dồi/trau giồi, dòng điện/giòng điện, giành giật/dành quyền, theo dõi/theo rõi, ròng rọc/dòng rọc, bệnh/bịnh, eo sèo/eo xèo, cúng Giàng/cúng Dàng, dẫm/giẫm, dây/giây, dò phong lan/giò phong lan… Khi nói, mỗi tiếng là một âm tiết. Mỗi âm tiết gồm có ba bộ phận: Âm tiết = âm đầu – vần – thanh điệu "thày" = th – ay – (thanh) huyền "nguyễn" = ng – uyên – (thanh) ngã "quyệt" = q – uyêt – (thanh) nặng "khoanh" = kh – oanh – (thanh) ngang "chả" = ch – a – (thanh) hỏi "khéo" = kh – eo – (thanh) sắc Như vậy, những qui tắc chính tả là những qui tắc liên quan đến âm đầu, vần và thanh điệu. Mỗi vần lại được phân tích thành các thành phần nhỏ hơn: Vần = âm đệm – âm chính – âm cuối Ay =  – a – y Uyên = u – yê – n Uyêt = u – yê – t Oanh = o – a – nh a =  – a eo =  – e – o Như vậy, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu là những yếu tố có liên quan đến chuẩn mực chính tả. Có chữ viết thường, có chữ viết hoa và có chữ viết tắt. Như vậy, viết hoa và viết tắt cũng là những yếu tố có liên quan đến chuẩn mực chính tả. Chữ viết ghi âm là thứ chữ viết được xây dựng theo nguyêân tắc ngữ âm học, dùng những con chữ khác nhau để ghi lại âm vị. Tuy nhiên, không phải có sự tương ứng một – một giữa âm và chữ. Có những âm vị được ghi bằng nhiều con chữ, như âm vị /k/, tuỳ trường hợp mà ghi bằng c, k hay q. Có điều, trong tiếng Việt giữa chữ và âm không có sự cách biệt quá xa. Do vậy, chữ Việt là một thứ chữ dễ viết . Nói chung, nhìn chữ viết một từ là chúng ta biết được ngay cách đọc từ đó. II.PHỤ ÂM ĐẦU 2.1 Âm đầu bao giờ cũng là phụ âm (trừ âm tắc thanh hầu  , hoặc kí hiệu bằng  cho tiện, mà chúng ta gặp trong các từ bắt đầu bằng nguyên âm: ăn, eo, yêu, ít, ủng…) . Âm chính bao giờ cũng là nguyên âm. Vì vậy, trước tiên cần biết về hệ thống phụ âm và nguyên âm tiếng Việt. Với mục đích thực hành, hệ thống phụ âm tiếng Việt được sắp xếp như bảng I dưới đây. Bảng I   th            t tr ch c, k, q  (âm tắc thanh hầu)  b đ          m n   nh ng, ngh    ph x s   kh h  v d, gi r   g, gh      l          Trong bảng I, các phụ âm trên cùng một hàng có phương thức phát âm giống nhau. Các phụ âm trên cùng một cột có vị trí của môi hoặc lưỡi giống nhau. Các âm vị trên cột thứ nhất là các âm môi. Trên cột thứ hai và ba là các âm đầu lưỡi. Các âm vị trên cột thứ ba là âm quặt (đọc uốn lưỡi), trên cột thứ năm là âm gốc lưỡi… Những điều trên đây có quan hệ tới một số quy luật chính tả về phụ âm đầu. Trong số này có quy luật về quá trình phát triển, biến đổi ngữ âm tiếng Việt: Các từ chuyển đổi dần sang các từ khác có cùng vị trí cấu âm và cùng phương thức phát âm, nghĩa là đồng chỗ phát âm và đồng cách phát âm. Những chuyển đổi này liên quan đến những “mẹo" chính tả của chúng ta. 2.2 Có khá nhiều lỗi chính tả về phụ âm đầu Không có qui tắc chính tả cho từng phụ âm đầu. Muốn biết chính xác từng từ cụ thể, bạn cần tra những từ điển chính tả có uy tín do Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học… biên soạn ( GS Hoàng Phê, GS Đào Thản… chủ biên). Ngay cả những từ điển khác cũng gặp những lỗi về chính tả, trong đó có lỗi về phụ âm đầu. Ví dụ : "Hóc xương gà, xa cành khế" (Đại từ điển tiếng Việt, tr. 695) Đúng ra phải là: "Hóc xương gà, sa cành khế" Tuy nhiên, có một số mẹo chính tả giúp chúng ta tự kiểm tra và rèn luyện về chính tả. (Những mẹo này dựa theo quyển Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả của GS Phan Ngọc). 2.3 Một số mẹo về phụ âm đầu Phân biệt L/ N Mẹo 1: L đứng trước âm đệm nhưng N lại không đứng trước âm đệm. Nghĩa là: chữ N không bao giờ đứng trước một vần bắt đầu bằng oa, oă, uâ, oe, uê, uy, chỉ có chữ L đứng trước những chữ ấy. chói loà, loá mắt, loã xoã, loạc choạc, loan báo, loãng, một loáng, loạng choạng, loè loẹt, luân phiên, luỹ tre, liên luỵ, luyến tiếc… Về mặt láy âm, L và N đối lập nhau. L láy âm rộng rãi nhất. N không láy âm với âm đầu nào khác, chỉ điệp âm đầu mà thôi. Cũng không có hiện tượng L láy âm với N. Mẹo 2: Gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau, không rõ là l hay n, thì chúng hoặc cùng là l hoặc cùng là n. Biết một từ sẽ suy ra từ kia. L láy với rất nhiều âm đầu khác nhau và l đứng ở vị trí thứ nhất . Còn n thì không . no nê, nao núng, nợ nần, náo nức, nườm nượp, nỗi niềm, nương náu, nô nức… lo lắng, lặn lội, lăm le, lơ lửng, lao lưng, lanh lẹn, lanh lợi, lành lặn… Mẹo 3: Gặp một chữ mà không phân biệt được là l hay n thì nếu có thể tạo ra một từ láy không điệp âm đầu mà từ ấy đứng trước, thì từ ấy phải là l. lệt bệt, lùng bùng, lõm bõm, lạch bạch, lang bang, lúng búng, lăng băng… lò cò, la cà, lấc cấc, lỉnh kỉnh…liu hiu, lúi húi, loay hoay…, lổ đổ, lộp độp, lẻo đẻo, lẹt đẹt, linh đình, lận đận…, lai dai, lở dở… lanh chanh, lần chần… le te, lon ton… lầm rầm, lỏn rỏn, líu ríu…lớ vớ, lởn vởn…lảm nhảm, lổn nhổn, lùng nhùng… lừng khừng, lênh khênh, lọm khọm…láo quáo, loăng quăng, luýnh quýnh…, lơ ngơ, lêu nghêu, loằng ngoằng Mẹo 4 (về từ láy âm mà n/l đứng ở vị trí thứ hai): Với n, chỉ có hai kiểu láy gi – n ( gian nan, gieo neo, giẫy nẩy… ) và  - n ( ảo não, ăn năn, áy náy…). Ngoại lệ: khúm núm, khệ nệ Với l, các phụ âm đầu còn lại: khệ nệ, khoác lác, khét lẹt…, bông lông, bảng lảng…, chói lọi, cheo leo, chìm lỉm… Có khoảng 40 từ đồng nghĩa chỉ khác nhau âm đầu l/nh. Lài/nhài, lanh/nhanh, lăm le/nhăm nhe, chuột nhắt/chuột lắt, lấp láy/nhấp nháy, lỡ làng/nhỡ nhàng, lời/nhời, lẽ/nhẽ, lố lăng/nhố nhăng, lợt lạt/nhợt nhạt, lấp láy/nhấp nháy… Mẹo 5: Có rất nhiều từ gần nghĩa cùng vần và chỉ khác nhau phụ âm đầu : n/đ, n/k. Nấy/đấy, nạo/cạo, kẹp/nẹp, cạy/nạy Lưu ý: + Những từ chỉ trỏ viết với n: nầy, này, ni, nọ, nớ, nào, nẫy, nó. + Những từ chỉ sự ẩn nấp viết với n: nấp, náu, né, nép, nương. Phân biệt TR/CH Mẹo 1: Tr không thể đứng trước trong những chữ có vần oa, oă, oe, uê. choáng mắt, ôm choàng, loắt choắt, chim chích choè, nông choèn choẹt… Mẹo 2: Gặp từ Hán- Việt mà ta không phân biệt được tr/ch, nhưng nếu từ ấy viết với dấu nặng hay huyền thì chữ ấy là TR. Trà (chè), trình, trừ phi (chừa ra), trị giá, thổ trạch, trịch thượng, tiền trạm, trào lưu, trù bị, trừng phạt… Mẹo 3: Không bao giờ TR láy âm với CH. Gặp từ láy loại này thì đó là điệp âm đầu, hoặc TR hoặc CH. Ít từ láy tr – tr . Nhiều từ láy Ch – Ch, (khoảng 180 từ). Mẹo 4: Nếu một chữ có thể tạo nên một từ láy âm không điệp âm đầu, đó là một chữ với ch, chứ không phải với tr. Chênh hênh, châng hẩng, chò hõ, chành bành, chẹp bẹp, chèo queo, chạu bạu, chàng màng, chểnh mảng, chênh vênh, chán vạn, chờn vờn, chán ngán, chồng ngồng, chộn rộn, chàng ràng… Ngoại lệ: trọc lóc, trót lọt, trẹt lét, trụi lũi. Mẹo 5: Nếu một chữ có hai hình thức, một hình thức với gi còn hình thức kia không rõ là ch, hay tr, thì đó là hình thức với tr. trời/giời, tro/gi, trầu/giầu, trồng/giồng, trăng/giăng, trề môi/giề môi, trùn/giun, tráo trở/giáo giở Mẹo từ vựng : Những chữ chỉ quan hệ gia đình đều viết với Ch,: cha, chồng, chàng, cháu, chắt, chút,.. Những đồ dùng trong nhà nông dân đều viết với Ch,: chày giã gạo, chõng tre, chiếu, chảo… Người nói theo phương ngữ Bắc Bộ không phân biệt được ch/tr, hai từ chống và trống đều phát âm như nhau. Do vậy dễ dẫn đến sự hiểu lầm những thành ngữ, tục ngữ. Có chuyện sau: Chiều 16.5.99, trên đài truyền hình trung ương, nhạc sĩ HK giới thiệu về chèo, ông nói: nếu hát chèo có dở nhưng nếu có tiếng trống đệm hay, thì sẽ cứu vãn được cho ca sĩ. Đó là vụng chèo khéo trống. (dẫn theo VN, 04.7.99). Giải thích như vậy không đứng vững được vì Nam Bộ có hát chèo đâu mà thành ngữ này vẫn dùng rất phổ biến. Thực ra ai cũng hiểu thành ngữ đúng phải là vụng chèo khéo chống. Chèo, chống liên quan đến mái chèo và cây sào, nghĩa đen của thành ngữ này nói về chuyện đi lại trên sông nước, còn nghĩa bóng lại là "làm thì dở, kém nhưng lại khéo biện bạch, chống chế". Tuy nhiên, một thành ngữ hay tục ngữ trong quá trì