Tài liệu, bài giảng, văn bản, luận văn, đồ án, tiểu luận...

Điện Biên Phủ và Những Điều Chưa Biết - Phần II

Lượt xem:525|Tải về:13|Số trang:0 | Ngày upload:17/01/2012

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^ hoanghai dang@gmail com – hoanghai85lc@yahoo com Allrights reseved by Rosea HD100506032 http://danghoanghai 999 org History E-Books: HD100506032 Compiled & Published by Rosea ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT (P II) Thằng lính dù này được chụp đúng lúc trúng đạn ^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^ hoanghai dang@gmail com – hoanghai85lc@yahoo com Allrights reseved by Rosea HD100506032 http://danghoanghai 999 org Quay phim ở chiến dịch Điện Biên Phủ Nhìn vào đoàn làm phim hôm n

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

History E-Books: HD100506032

Compiled & Published by Rosea

ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ NHỮNG ĐIỀU CHƯA

BIẾT (P II)

Thằng lính dù này được chụp đúng lúc trúng đạn

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Quay phim ở chiến dịch Điện Biên Phủ

Nhìn vào đoàn làm phim hôm nay, chúng ta không thể tưởng tượng nổi sự nghèo nàn của đoàn

làm phim trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Vẻn vẹn chỉ có mấy người với chiếc máy quay cổ lỗ sĩ

mà hôm nay chỉ còn có thể nhìn thấy ở nhà bảo tàng. Nghệ sĩ Tiến Lợi cầm máy quay phim kiêm

luôn đạo diễn, trưởng đoàn. Hai người nữa là nghệ sĩ Ngọc Quỳnh và Trần Quý Lục. Mới đấy,

nghệ sĩ Tiến Lợi đã thành người thiên cổ, các nghệ sĩ khác thì cũng đã “cổ lai hy”.

“Vũ khí” của đoàn chủ yếu là trông cậy vào chiếc máy quay nặng ngót vài chục ký. Trời đổ mưa,

người chịu ướt, nhường áo mưa cho máy. Để chống ẩm cho máy, đoàn làm phim có “sáng kiến”

rang gạo rồi cho vào bao ủ cho máy. Hôm nay nhìn lại cái máy, các nghệ sĩ vẫn rất biết ơn vì

suốt chiến dịch máy không hề dở quẻ. Phim thì quay được mẻ nào, lập tức lội suối trèo đèo

không kể ngày đêm mưa nắng, đem ngay về Đồi Cọ, cơ sở điện ảnh ngày ấy ở Việt Bắc để tráng

luôn.

Lại nói đến chuyện tráng phim... cười ra nước mắt. Kỹ thuật tráng phim hoàn toàn chỉ làm... bằng

tay. Sơ suất một chút là toi công, hỏng ăn như chơi. Có lần tráng phim cảnh nhảy dù của địch,

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

tráng xong soi lên trời xem thấy đen ngòm! Không bóng dáng một cái dù. Thì ra... phim bị tráng

non quá. Cả lũ tiếc ngẩn tiếc ngơ. Làm gì có cái chuyện ấy để mà “quay lại”. Rất may là khi chiến

dịch kết thúc, ta mang sang Trung Quốc, nhờ bạn có kỹ thuật cao giúp đỡ đã cứu được.

Một trong những kỳ tích trong chiến dịch Điện Biên Phủ là chuyện kéo pháo vô cùng gian khổ mà

cũng vô cùng anh dũng của pháo binh Việt Nam. Đưa “voi” vào trận địa, rõ ràng là phải ghi hình

rồi. Khổ nỗi, pháo chỉ kéo vào ban đêm mà máy lại chỉ quay được... ban ngày! Mà giả như có

quay ban ngày cũng là chuyện quá khó vì chốn núi rừng toàn “sương lam chướng khí”. Thế là

đoàn làm phim nảy ra “sáng kiến” là nhờ bộ đội pháo binh... diễn lại... ban ngày để quay phim.

Nhờ “sáng kiến” và rất may là được bộ đội sẵn sàng... đóng phim mà hôm nay chúng ta mới

được xem cảnh “voi” vào trận địa ở Điện Biên Phủ. Ấy thế mà phải chầu chực hàng nửa tháng

trời mới vớ được ngày thật nắng mà... “làm phim” vẻn vẹn có... 30 phút!

Vào chiến dịch, bộ đội tấn công đến đâu, máy quay phim lao theo đến đấy, khi cách nhau chục

mét, khi sát cánh bên nhau. Rất nhiều lần máy quay phim vừa chuyển chỗ, pháo của địch rơi và

nổ đúng chỗ vừa rời. Nghệ sĩ chỉ... cười và coi là... chuyện vặt! Không đếm xỉa gì đến chuyện

sống chết.

Đúng nửa thế kỷ trôi qua. Năm nay Đảng và Nhà nước cùng toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 50

năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954-2004). Trong những chiến tích anh hùng của quân

và dân ta, chúng ta vô cùng cám ơn những nghệ sĩ làm phim đã ghi lại được rất nhiều hình ảnh

phải đổi bằng máu mà hôm nay và mãi mãi là tư liệu lịch sử vô giá.

Sống trong “địa ngục”

Viên tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp Na-va đã ngày càng thấy rõ sự bế tắc, không còn biện

pháp nào cứu nguy cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bên ngoài thì quân ta liên tục tấn công

uy hiếp, bên trong thì nội bộ ngày càng mâu thuẫn gay gắt giữa hai viên tướng chỉ huy Na-va và

Cô-nhi. Từ chỗ đổ trách nhiệm cho nhau đến việc nêu lý do thiếu phương tiện chiến tranh như

máy bay, pháo binh... dẫn đến chỗ không làm chủ được những tình huống xảy ra trên chiến

trường, bị động, lúng túng trong đối phó. Sợ pháo binh Việt Nam “câu” từ xa, sợ bộ binh Việt

Nam bắn tỉa và đột kích, tinh thần binh lính Pháp hoang mang dao động cực độ. Trong khi đó

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

việc tiếp tế lương thực, thực phẩm cho đội quân thất trận không được kịp thời dẫn đến cuộc

sống của quân Pháp trên chiến trường đã thiếu ngày càng thêm thiếu trầm trọng, đã khó ngày

càng khó khăn thêm... Vì thế mới có cảnh:

Trong một cuộc họp báo ngày 8-1-1954, trung tướng Cô-nhi, tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ huênh

hoang tuyên bố: “Pháo binh Việt Nam có thể gây ra phiền toái, nhưng người ta sẽ làm chúng

phải câm họng...”. Sự thật lại khác hẳn dự đoán của tên tướng ngạo mạn.

Trận pháo kích mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ của quân ta đã gây cho địch quá nhiều tổn

thất. Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị trúng đạn, đường dây điện thoại bị cắt đứt, mười hai khẩu

pháo, cối ở các trận địa địch bị đánh hỏng, một kho xăng bốc cháy, năm máy bay trúng đạn nổ

tung. Cả Him Lam và Mường Thanh rung chuyển trong tiếng nổ dồn dập của đạn pháo. Nhiều

hầm hào, công sự sụp đổ, nhiều sĩ quan địch tử trận, bị thương nặng ngay từ giờ phút đầu của

trận pháo kích. Pháo ta vẫn dồn dập nã vào đầu thù, làm đảo lộn mọi sinh hoạt, gây nỗi kinh

hoàng cho chúng. Quân lính địch đóng ở hai đồn khu E và D cả ngày ở dưới hầm không dám bò

lên mặt đất, đại tiểu tiện đều đi vào ống bơ rồi vứt ra ngoài. Bọn lính lê dương nổi tiếng là ngổ

ngáo nhất, nhưng mỗi khi nghe tiếng “ùng, oàng” là lao ngay xuống hầm, rúc ở đó hàng giờ. Lúc

nào cảm thấy yên tĩnh mới dám chui lên, ăn vội rồi lại xuống hầm ẩn ngay. Ngay cả tướng Đờ

Cát cũng không bao giờ dám tự ra khỏi hầm, trong lúc hầm của y rất kiên cố, trên chất đầy một

“núi” bao cát, thế mà y cũng không nén nổi nỗi sợ hãi...

Sự hoảng loạn lan sang cả lính pháo thủ địch. Chúng bắn yểm hộ cho đồng bọn ra trận quá

chậm, mà lại cứ nhè đầu bộ binh của chúng mà nã. Trung tá chỉ huy pháo binh Pi-rốt đã tự sát

bằng một quả lựu đạn ở ngay trong hầm chỉ huy của mình vì sợ trách nhiệm và quá thất vọng.

Tiểu đoàn dù số 5 vì sợ pháo mà từ chối không chịu tiến đến bản Nà Phai...

Thực tế mỗi lúc một nguy khốn cho quân lính Pháp, vòng vây của ta ngày một thít chặt, tình cảnh

hàng vạn lính viễn chinh ở Điện Biên Phủ sống dở chết dở. Trước hết là bị đói, ngay từ ngày 16-

3 nhiều đơn vị lính Pháp ở Điện Biên Phủ đã hết cả rau lẫn thịt tươi. Bánh mỳ cũng cạn dần, lúc

đầu, mỗi ngày 4 người chia nhau 1 ki-lô-gam bánh. Lính ngụy còn bi đát hơn, từ bữa cơm bữa

cháo đến chỗ chỉ ăn cháo thay cơm. Có khi mỗi ngày chỉ được phát một gói bích quy và một hộp

cát-cút cầm hơi. Ăn đói thì sinh ăn vụng, lấy cắp. Chúng ăn cắp cả thóc gạo dự trữ cho lừa ngựa,

lấy lẫn của nhau. Hôm nào cũng có chuyện binh lính, sĩ quan địch đánh nhau vì tranh ăn. Tình

trạng ăn vụng, ăn cắp lan tràn khắp nơi, khiến Đờ Cát phải tuyên bố sẽ xử tử tên lính nào phạm

tội, dù chỉ lấy một hộp cát-cút. Song vì sợ binh lính nổi loạn, chính y lại nói thầm rằng: “hãy tạm

ghi số lính, sau này tòa án quân sự sẽ xét xử...”.

Ăn đã vậy, uống cũng chẳng được đầy đủ như yêu cầu của bọn lính thất trận. Nước uống cũng

chia theo khẩu phần, mỗi ngày một lính được lĩnh một hộp cát-cút nước suối. Bởi vì mỗi lần đi

lấy nước suối phải huy động hàng đại đội, có xe tăng hộ tống thế mà cũng có hàng chục lính thiệt

mạng do quân ta bắn tỉa. Còn chuyện tắm giặt mới cùng cực. Sĩ quan địch bắt lính mang mũ sắt

đi lấy nước về cho chúng tắm cạn trong hầm. Nơi nào gần suối, phải đào giao thông hào đến tận

bờ để múc nước kỳ cọ. Tên nào liều lĩnh lắm mới dám nhảy xuống suối vùng vẫy chốc lát. Thế

mà nhiều lúc cũng không tránh khỏi đạn đại bác, moóc-chi-ê của ta rót vào...

Cám cảnh trước sự bại trận của một đội quân hùng mạnh, được trang bị đầy đủ vũ khí và hiện

đại gấp nhiều lần đối phương, bị bắt làm tù binh khi gặp tướng Lê Trọng Tấn, Đờ Cát đã tự thú:

... Các ông bố trí pháo binh kín đáo quá, máy bay và pháo binh của chúng tôi đã tốn biết bao

nhiêu công sức mà không thể nào chống lại được. Tính đến phút cuối cùng, pháo binh của chúng

tôi đã tổn thất mất hai phần ba lực lượng. Về cách đánh của các ông thật là giỏi. Các ông có

cách đánh thì tôi lại có cách đối phó. Nhưng tôi vừa có cách đối phó thì các ông lại đổi cách đánh

khác. Lúc thì các ông đánh tối, lúc thì đánh sáng, khi thì có pháo binh yểm hộ, khi thì không có

pháo bắn gì cả mà đã thấy quân của các ông nhảy vào đồn. Quân của các ông can đảm lắm.

Chiến thắng, các ông đã chiến thắng. Lính của các ông người nhỏ bé lắm, thế nhưng lúc xông

vào

PHÁO BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ NHỮNG NGÀY ĐẦU CHIẾN DỊCH.

Đêm 13-3-1954: Tiêu diệt cứ điểm Him Lam

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Giờ G, giờ mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ được quyết định: 17 giờ 10 phút ngày 13 tháng 3

năm 1954. Trên từng trận địa bắn, các chiến sĩ pháo binh nhắc nhau lời chúc Tết đầu xuân của

Đại tướng Tổng tư lệnh: “Đã bắn là phải bắn thật trúng làm quân địch phải thực sự khiếp sợ

pháo binh ta”.

Theo lệnh cấp trên mỗi đơn vị pháo được bắn thử 2 phát đạn vào mục tiêu bắn đầu tiên đảm bảo

có phần tử bắn chính xác nhất có thể. 8 giờ sáng, khi sương mù vừa tan, 2 máy bay Đa-cô-ta ở

sân bay Mường Thanh bị bốc cháy vì trúng đạn sơn pháo 75 ly của các đơn vị 756 và 757. 11

giờ, một máy bay khác bị hỏa lực cối 120 ly của đại đội 113 tiêu diệt. Sau đó 2 xe tăng dẫn đầu

một đại đội bộ binh từ trung tâm Mường Thanh tiến đến trận địa xuất phát xung phong của đại

đoàn 312 ở Him Lam. Đại đội 806, trung đoàn trọng pháo Tất Thắng được phép bắn thử kết hợp

chặn không cho địch tiến đến trận địa bộ binh ta. Sau 2 phát bắn thử, 18 phát đạn pháo 105 ly

còn lại đều rơi trúng điểm cao sở chỉ huy Him Lam. Hai chiếc tăng và bộ binh địch buộc phải rút

chạy quay trở lại trung tâm Mường Thanh.

Đúng 17 giờ 10 phút hôm đó chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Trong trận đánh then chốt đầu

tiên vào Him Lam, đại đội 806 cùng đại đội 804 đã dội bão lửa chính xác bao trùm toàn bộ các

mục tiêu trong cứ điểm mang tên Bê-a-tri-xơ rồi chuyển làn chế áp vào các trận địa pháo địch

sau đồi D, vào trung tâm chỉ huy và sân bay địch ở Mường Thanh... Các pháo thủ đại đội sơn

pháo 753 lần lượt ngắm bắn trực tiếp vào từng hỏa điểm ngoài vành đai tiêu diệt toàn bộ 4 hỏa

điểm trên cao điểm 101B rồi chuyển bắn vào sở chỉ huy Him Lam. Sau 1 tiếng đồng hồ chiến

đấu, với sự chi viện của hỏa lực pháo binh, chiến sĩ đại đoàn 312 đã tiêu diệt và làm chủ hoàn

toàn điểm cao 101B.

Phía cao điểm 101A, đại đội sơn pháo 752 bố trí trận địa cách địch 300m tiêu diệt lô cốt “6 tiểu

liên” rồi cùng pháo thủ 2 đại đội 114, 115 súng cối 120 ly chi viện bộ binh làm chủ tiếp 101A.

Các trận địa pháo địch sau đồi D trung tâm Mường Thanh sau một thời gian bị chế áp phải

ngừng bắn nay hoạt động trở lại bắn vào đội hình bộ binh ta bên sườn Him Lam. Nhận lệnh kiềm

chế pháo binh địch chi viện bộ binh chiến đấu, 20 khẩu pháo 105 ly của trung đoàn Tất Thắng

tập trung bắn cấp tập 200 phát đạn vào trận địa pháo địch. Kể lại sự kiện này, nhà báo Pháp

Giun-lơ-Roa cho biết: “Thật là một cuộc phản pháo ác liệt!!!... 12 khẩu pháo các loại của tập đoàn

cứ điểm đã bị pháo binh đối phương bắn hỏng ...".

Lúc này trên hướng tấn công đánh cứ điểm 102, các pháo thủ sơn pháo 75, súng cối 120, 82 ly

tập trung bắn tiêu diệt lần lượt các hỏa điểm địch đang bắn lướt sườn bộ binh ta. Cho đến 23 giờ

30 bộ binh ta đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm Him Lam. Nhà báo Rô-côn có mặt ở trung tâm

Mường Thanh lúc đó tả lại: “...Cuộc giao ban chiều 13-3-1954 ở hầm chỉ huy Ê-pec-vi-ê của Đờ

Cát chưa kịp bắt đầu thì pháo binh Việt Minh bắn dữ dội khắp các vị trí: sở chỉ huy, trận địa pháo,

sân bay... tập trung cao nhất là trên cứ điểm Bê-a-tri-xơ. Không chỉ còn là các loại sơn pháo,

súng cối như trước mà đã thấy xuất hiện những đạn pháo 105 kinh khủng. Lần đầu tiên quân đội

viễn chinh Pháp ở cái lòng chảo Điện Biên này bị chìm ngập, choáng váng trong những tiếng nổ

nhức óc và trong ánh chớp giật của đạn pháo đối phương trong suốt mấy giờ liền. Mọi người

chờ đợi những trận phản pháo của trung tá pháo binh Pi-rốt nhưng rồi ai nấy đều thất vọng.

Nhiều sĩ quan "thâm niên Đông Dương" như trung tá Lăng-gơ-le cũng phải thừa nhận trong cuộc

chiến tranh thế giới lần thứ 2 ở châu Âu, họ chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng tương tự

như vậy. Nhìn về phía Bê-a-tri-xơ thấy nền trời đỏ rực như máu. Sở chỉ huy nhận báo cáo: ...Cả

tiểu đoàn trưởng Pê-gô và tiểu đoàn phó Pác-đi chỉ huy đồn Him Lam đều bị chết vì đạn pháo

Việt Minh... Tại Mường Thanh, một viên đạn pháo chui qua lỗ châu mai nổ trong hầm đã làm chết

trung tá chỉ huy Gô-xê cùng hầu hết sĩ quan tham mưu...".

Theo phóng viên Béc-na Phôn: “...Hà Nội lệnh phản kích chiếm lại Bê-a-tri-xơ. Sáng 14-3 quân

dù và xe tăng được đưa đi chiến đấu nhưng vừa đến gần đường 41 đã gặp "hỏa lực mạnh rất có

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

bài bản" của đối phương ngăn chặn buộc phải rút lui. Không ai dám nghĩ đến việc chiếm lại Bê-a-

tri-xơ. Người ta vin lý do: Có chiếm lại cũng không giữ được; số đạn pháo 105 dùng trong đêm

đấu pháo đầu tiên đã lên đến 6000 viên, chiếm 1/4 số đạn có trong kho. Chi viện chưa có; tiểu

đoàn lê dương 3/13 DBLE đêm 13-3 đã bị tiêu diệt ở Bê-a-tri-xơ, lực lượng dự bị là đơn vị lính

dù GAP chỉ đủ để đối phó khi Ga-bri-en (Độc Lập) bị tấn công”.

Sáng 15-3: Làm chủ cứ điểm Độc Lập

Và rồi số phận của Ga-bri-en cũng được định đoạt sau khi Bê-a-tri-xơ bị xóa sổ. Lực lượng pháo

chi viện trực tiếp cho 2 trung đoàn 165 của 312 và 88 của 308 chiến đấu tiêu diệt Độc Lập là các

đại đội sơn pháo 752, 753 cùng các đại đội 114, 115 súng cối 120 ly. Trung đoàn pháo Tất

Thắng nhận nhiệm vụ chi viện đánh quân phản kích, chế áp pháo binh và khống chế sân bay....

Trên đường hành quân chiếm lĩnh trận địa, các đơn vị pháo mang vác đã bị phi pháo địch gây trở

ngại. Tuy nhiên các chiến sĩ “chân đồng vai sắt ” này cũng đã đến vị trí chiến đấu trong đêm 14-

3. Chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ đã hạ lệnh tiến công đúng 3 giờ 30 phút sáng ngày 15-3. Hỏa

lực pháo binh đã chi viện bộ binh làm chủ cứ điểm Độc Lập 6 giờ 30 phút sáng 15-3-1954.

Theo nhà báo Béc-na Phôn: “...Chập tối 14-3 đến lượt Ga-bri-en bị tấn công. Sáng hôm ấy trung

tá pháo binh Pi-rốt hứa với tiểu đoàn trưởng Méc-cơ-nen sẽ dốc toàn lực chế áp pháo đối

phương, không để pháo binh Việt Minh được "gãi vào bất cứ hỏa điểm nào ở Ga-bơ-ri-en” .

Nhưng cuối cùng những hầm vũ khí nặng của cứ điểm đều bị pháo binh đối phương bắn phá.

Các vị trí của đại đội 1 rồi đại đội 4 đều lần lượt bị mất. Một tình huống khắc nghiệt xảy ra là vào

4 giờ 30 phút sáng 15-3: một viên đạn pháo xuyên qua hầm chỉ huy tiểu đoàn. Thiếu tá Méc-cơ-

nen chưa kịp bàn giao nhiệm vụ cho thiếu tá Các mới được điều đến thay thì cả hai đều bị

thương nặng. Sau đó những chiếc mũ cứng có gài lá ngụy trang của quân đội Việt Minh xuất

hiện khắp nơi trên cứ điểm. Một phần tư quân số bị loại khỏi vòng chiến đấu. Số lính da đen còn

sống đã tự nguyện hạ súng. 483 lính chết, 175 mất tích, số còn lại bị Việt Minh bắt sống, trong đó

có hai thiếu tá Méc-cơ-nen và Các... Thấy hỏa lực của mình bị hao mòn quá nhanh sau chưa đầy

hai ngày đêm chiến đấu, từ chỗ khoe khoang khoác lác, viên trung tá pháo binh Pi-rốt đã rơi

xuống vực thẳm bi quan thất vọng, sau khi bị quan thầy Đờ Cát nhiếc mắng sỉ nhục, Pi-rốt đã tự

kết liễu đời mình bằng một trái lựu đạn !!!...".

An toàn khu Việt Bắc mừng tin chiến thắng

Ngày 10-3-1954 khi các chiến sĩ Điện Biên sẵn sàng trên các trận địa, chiến hào chờ lệnh chiến

đấu mở màn chiến dịch thì Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức tuyên bố

nhận lời mời tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Ngày 15-3-1954 Hội đồng Chính phủ họp phiên họp đặc biệt. Trong cuộc họp Phó thủ tướng

Phạm Văn Đồng báo cáo về phong trào đấu tranh giành hòa bình trên toàn thế giới. Các thành

viên chính phủ thảo luận nhất trí đánh giá việc triệu tập Hội nghị Giơ-ne-vơ lần này là một thắng

lợi lớn của phe dân chủ và đặc biệt là của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Mọi người thấy con

đường phát triển của cuộc đấu tranh của ta là phải tích cực chủ động cả về quân sự lẫn ngoại

giao nhưng yếu tố quyết định vẫn phải là chiến thắng trên chiến trường, trước mắt là ở Điện Biên

Phủ. Tiếp theo, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu đang báo cáo tình hình quân sự thì

tin chiến thắng Điện Biên Phủ dồn dập đưa tới:

“Quân ta bắt đầu mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ chiều 13-3-1954 thì ngay đêm đó đã chiếm

được cứ điểm đầu tiên ở Him Lam rồi chiếm tiếp cứ điểm thứ 2 ở Độc Lập. Vừa chiến thắng lúc

6 giờ 30 phút ngày 15-3-1954 thì 10 giờ cùng ngày Hội đồng chính phủ trên An toàn khu đã nhận

tin...".

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Bộ trưởng Phan Anh đã ghi trong nhật ký của mình toàn bộ những sự việc thời gian đó, thời gian

lừng vang tin chiến thắng mà ông cho là rất có ý nghĩa trong cuộc đời hoạt động của mình. Về

cảm nghĩ sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ, ông viết: "...Không khí chiến thắng từ Điện Biên Phủ

đưa về đã mang đến Hội đồng Chính phủ một niềm vui, một xúc động lớn. Bức điện Chính phủ

gửi ra tiền tuyến khen ngợi chiến công của các chiến sĩ Điện Biên Phủ thể hiện một niềm thông

cảm sâu sắc giữa hậu phương và tiền tuyến".

Sau phiên họp, Trung ương quyết định cử một đoàn cán bộ sang Giơ-ne-vơ dự hội nghị và ủy

nhiệm đồng chí Trường Chinh tổ chức gấp một cuộc họp đặc biệt của thường trực Mặt trận Việt

Minh liên Việt để góp ý với Chính phủ về những việc cần làm bảo đảm chiến thắng ở chiến

trường và trên trường đấu tranh ngoại giao ở Giơ-ne-vơ.

Khi Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng chuẩn bị cho đoàn Chính phủ đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ thì tin

chiến thắng ở Điện Biên Phủ liên tiếp đưa về.

- 16-3, pháo binh đã bắn trúng sân bay Mường Thanh, thiêu hủy toàn bộ một kho bom na-pan,

bắn cháy một máy bay.

- 17-3, tên đại úy Clac-săm chỉ huy cứ điểm Bản Kéo đã ra lệnh cho toàn bộ binh lính trên đồn rút

chạy về Mường Thanh. Quân ta làm chủ toàn bộ khu bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ...

Những tin chiến thắng ở Điện Biên Phủ còn liên tiếp vang về An toàn khu Việt Bắc với Bác Hồ,

Trung ương Đảng và Chính phủ cho đến ngày chiến thắng cuối cùng.

(Theo SK&NC)

Theo ý các bác ta có nên biến cái box này thành box về ĐBP cho rộng đường dư luận không

nhỉ? Chứ không thì trước hay sau các bác cũng sẽ lạc đề ...nhe em thôi Giống vụ bắn xe

tăng chẳng hạn.

Nỗi kinh hoàng mà pháo 105 của Việt Minh gieo rắc trong quân Pháp

"Robert Guillarn trong hồi ức “Ảo mộng vỡ tan tành” xuất bản lần đầu năm 1954. Ông kể:

Vậy là cái đó bắt đầu vào một buổi chiều chủ nhật. Cậu còn nhớ vị trí của chúng ta chứ? Ngọn

đồi ấy ở gần bờ phía bên ngoài của lòng chảo như một cái bánh mì ở trong giỏ, quân Việt thì ở

khắp chung quanh. Chiều tàn, báo động. Họ từ trên núi tràn xuống. Chúng ta nhìn thấy họ mọi

nơi trên cao lao xuống đen đặc như một đàn kiến phía trước đồi 674, đồi 701. Đến 5 giờ, tất cả

mọi người trong bốn đại đội đều ở vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Đến 18 giờ - viên đại úy kể tiếp - pháo của quân Việt chụp xuống đầu chúng ta, như một trận đại

hồng thủy. Đây là cái mới và nó trở thành chiến tranh như kiểu Veéc-đoong (Verdun). Toàn là 81,

105, 120, tất cả đều tham gia vũ khúc. Thật là thảm hại thay, những khẩu cối của chúng ta, hạng

trung và hạng nặng, bị loại ra khỏi vòng chiến đấu. Chúng ta cố gắng chuyển chúng vào hầm, rồi

lại bỏ ra để bắn tí chút, nhưng pháo địch dập kinh khủng quá. Đạn pháo rơi mọi chỗ, làm tung lên

những đám bụi đỏ, nhất là ở phía Bắc, đối diện với các mỏm đồi bao vây lấy chúng ta.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, tổ điện đài đi đời nhà ma, hầm sập, hai trong bốn tên bị nghẻo, còn

ra-đi-ô thì bẹp gí...

... Những cú 105, những cú 105 đạn lân tinh, cậu thấy chưa? Rồi thì những cú trúng đích choảng

vào các khẩu liên thanh của đại đội 4 cùng ở về phía Bắc? Chúng phá sập công sự của đại đội

và một đợt xung phong mãnh liệt tràn lên. Sau đó, quân Việt lại tập trung tấn công về phía

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

đông... Cậu biết rõ nơi ấy. Sườn đồi gần thẳng đứng và từ trên cao cho đến đám ruộng ở chân

đồi là cả một rặng dây thép gai. Nhưng những con người ấy, họ là những con người cảm tử. Chỗ

nào cũng thấy họ bám cả dây thép gai mà leo lên. Lựu đạn của chúng ta ném như mưa vào đấy.

Trên cái mỏm Gabrien này, đường đạn không thể rà sát đường cong của địa hình cho nên có nơi

quân Việt xông thẳng đến phía dưới chân chúng ta mà chúng ta không thể bắn vào họ được. Tuy

vậy, suốt cả đêm, họ cũng không đặt chân được lên cái sân đất bằng, đầy những thân cây to

tướng nằm ngang trên cát đỏ.

Nhưng đến 3 giờ 30 phút thì trăng lặn. Đó là cái đích thực quân Việt đang chờ.

Chỉ một lúc sau, thế là mọi việc tái diễn. Ít nhất cũng hai trăm cú đi tìm sở chỉ huy. Suốt trong một

giờ, vẫn còn chịu được, nhưng rồi cú thứ 1, tiếp theo là các cú 3, 4, 5 đạn 105 nổ gần đúng mục

tiêu... và đến 4 giờ 45 phút, loảng xoảng, tất cả mọi người đều nằm bẹp gí dưới đất đá, gỗ vụn.

Cậu còn nhớ sở chỉ huy chứ? Những súc gỗ và những bao đầy đất. Bây giờ thì ai nấy đều hứng

tất cả những cái đó đè lên thân mình. Tớ kéo ông thiếu tá ra, thân hình trông thật bi đát. Tớ vẫn

còn nhớ là xốc đứng ông ta dậy, nhưng ông ta loạng choạng, không đứng vững. Một viên trung

úy, nửa cẳng bị một viên trái phá tiện cụt. Những người khác thì bị các xà gồ gây thương tích.

Còn riêng tớ, may sao tớ vẫn “nguyên vẹn”.

Bây giờ thì mọi nơi, khắp chốn đều thấy quân Việt tiến lên. Một viên đại úy nọ tiếp nắm quyền chỉ

huy. Bọn chúng tớ nghĩ rằng quân Việt sẽ theo con đường Pa-ri (Pavie) tiến lên. Tớ đi về phía

ấy. Chúng ta vẫn cầm cự, bắn liên chi hồ điệp cho đến 7 giờ. Thật là cả một địa ngục.

Thế là quân Việt đang ở ngay sau lưng chúng ta. Họ chiếm được một phần của ngọn đồi. Ai đó

kêu lên: “Địch đã tiến đến trạm y tế!”. Tớ đã để ông thiếu tá nằm lại ở đó, còn sống, với một khẩu

súng ngắn.

Ngay bản thân tớ cũng nghe được quân Việt đang hô to ở phía ấy, bằng tiếng Pháp: “Đừng bắn,

đừng bắn. Hỡi người Pháp hãy hàng đi, các anh sẽ không bị hành hạ đâu”.

Ở đầu kia của vị trí, đại đội 2 vẫn còn giữ được, ở về phía trong của lòng chảo. Nhưng muốn đi

đến đó, phải đi vòng quanh, đi xuống tận con đường Pa-ri ở phía đằng sau. Chỗ ấy là nơi tớ “bắt

lửa” lần đầu: một viên đạn ở cánh tay. Nhưng chúng tớ vẫn đến được với đại đội 2. Nhưng quân

Việt đầy rẫy ở trên cao của vị trí, và lần thứ hai, tớ “bị”, lần này thì ở cẳng chân, thế là tớ ngã

xuống, bất tỉnh nhân sự hồi lâu.

Khi tớ được người ta làm cho tỉnh lại, tớ nghe thấy: “Đơn vị phản công chỉ còn cách 300m.

Chúng ta lùi cùng với xe tăng”. Đó là những xe tăng đến tiếp viện chúng ta. Đứng lên bằng một

chân, tớ trông thấy chúng tiến lại gần, nhưng quân Việt đang chờ. Họ có ba-dô-ka. Và khi tìm

cách đuổi kịp xe tăng, tớ mới bắt đầu hiểu thế nào là bò sát.

Thế là chúng tớ hợp thành một toán tỵ nạn, gồm một trung úy, một đại úy râu xồm, một số sĩ

quan khác nữa.

Chúng tớ đã thoát như thế nào? Tớ cũng không còn nhớ rõ nữa. Chỉ có hai hay 3 người bị chết

trong khi rút lui. Nhưng có nhiều đứa gặp may, còn nhiều đứa thì không."

Sau lần ta phá được xe tăng này (đúng là vào đầu tháng 4 như bác chiangsan nói), vị trí bị

bọn tây chiếm lại, bọn nó biến xác xe tăng thành ổ đại liên rồi giữ đến tận ngày cuối

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

cùng. Liệt sỹ của ta hi sinh trên đồi A1đều do bọn Pháp chôn vội vàng tại chỗ, chính vì

thế cho nên cả tháng sau thì không còn biết được ai với ai nữa.

Em có người nhà hi sinh ở đây, nơi hi sinh ngày hi sinh đều biết rõ hết nhờ đồng đội,

nhưng do ta không làm chủ chiến trường lúc đó cho nên sau này cũng chịu, không còn

nhận được ra ai với ai nữa...

"Trên rừng có con chim kêu “Bắt cô trói cột!...”, lính ta nhái theo: “Khó khăn khắc phục!”. Đó là

câu đầu tôi viết cho một bài báo của trung đoàn-báo Tất Thắng ra không đều kỳ. Tòa soạn của

chúng tôi có Ngô Nhật, tôi và Nguyễn Kha. Kha viết chữ ngược trên giấy nến. Chiếc máy in của

chúng tôi là một cái hòm gỗ, trong đó có khuôn lụa. Cỡ giấy có thể in bằng khổ giấy A3 bây giờ.

Chiếc máy này gọn và nhẹ hơn máy in Roneo in tài liệu văn thư. Các đồng chí Liễu và Hân phải

đeo, bảo quản máy cùng ru lô, giấy và mực in khi hành quân. Trước kia còn là lính bộ binh, khi

rút ra khỏi thành Nam, trung đoàn tôi có mang theo cả một nhà máy in ty-pô. Khi ấy tôi mới về,

Vũ Quý Biền đang phụ trách làm tờ báo. Mỗi lần đủ bài vở, hai chúng tôi lại cùng đi bộ và đi

thuyền tới một thôn hẻo lánh giữa cánh đồng chiêm ngập nước để ở đó mấy ngày liền đợi sắp

chữ, sửa bài, lên khuôn. Xong, lại ôm cả chồng báo mới về đoàn bộ cho phát hành xuống các đại

đội của trung đoàn và những đơn vị độc lập ở sâu trong lòng địch...

Về đến đất Tuyên Quang, Bắc Mục, Tòa soạn chúng tôi được ở nhà dân-ngôi nhà sàn lẻ loi trong

một thung lũng nhỏ. Nhìn qua mấy thửa ruộng là thấy nhà sàn cơ quan hậu cần trung đoàn.

Nhớ lại những tháng ngày học pháo, trong một buổi nhận xét diễn tập các khẩu đội, đồng chí

trung đoàn trưởng Hữu Mỹ-cao tuổi nhất (hơn cả chính ủy Hùng Thanh) nói rất hấp dẫn. Anh vừa

nói vừa đứng trên ụ đất làm động tác thị phạm cho chiến sĩ. Vốn là người chỉ huy chiến đấu bộ

binh, với kỹ thuật pháo anh cũng mới là tân binh thôi, nhưng rất chịu khó nắm vững mọi yếu lĩnh

cơ bản rất chuẩn...

Các chiến sĩ bộ binh trung đoàn 34 (đoàn Tất Thắng) lúc ấy đã ra dáng những pháo thủ thuần

thục. Từ độ làm quen với vũ khí, khí tài đòi hỏi thói quen khoa học, chính xác... các anh đã có

dáng dấp của người công nhân.

Qua chỉnh quân chính trị, chiến sĩ ta đã hiểu rõ về cách mạng, về bản chất tốt đẹp của giai cấp

công nhân. Qua phong trào “nói khổ tìm thù”, chiến sĩ đã hiểu: Vì sao đất nước ta giàu đẹp,

phong phú tài nguyên, dân ta chịu thương, chịu khó, giàu nghị lực tài năng thế... mà phải đói khổ

lầm than? Vậy mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đã được xác định. Hơn lúc nào hết, chúng ta đã

trưởng thành. Cuộc kháng chiến đang vào giai đoạn quyết định: Kẻ thù xâm lược đang thực hiện

“kế hoạch Na-va”, có sự nhúng tay trực tiếp của đế quốc Mỹ... Nhưng ta đang có thế thắng nhiều

trận; có cả một hậu phương sâu rộng kéo dài từ biên giới Cao-Bắc-Lạng qua Trung Quốc, Liên

Xô...

Bộ đội ta đã được xem những phim “Công phá Béc-lin”, “Anh lính I-van”, “Vạn lý trường chinh”,

“Bạch Mao nữ”. Đã được đọc “Thép đã tôi thế đấy”, “Ký sự Cao-Lạng”, “Tỉnh ủy bí mật” và thơ Tố

Hữu, đặc biệt với bài “Sáng tháng 5” ca ngợi Việt Bắc, ca ngợi Bác Hồ... Tiếng đồng ca “Kết

đoàn chúng ta là sức mạnh” vang dội giữa các khu rừng thâm u.

Có những cuộc hành quân đi xem chiếu phim cũng rất “bộ đội”. Ăn cơm chiều xong, 6 giờ tối:

hành quân trang bị nhẹ, 7 giờ tới nơi, cùng ngồi xem phim với dân do đội chiếu phim lưu động

của đại đoàn đưa xuống. Một ô tô có máy nổ, một hai bóng đèn, đôi loa và màn hình to dựng đầu

bãi cỏ trống... Cả quân-dân đều ngồi trên cỏ cùng xem. Mưa thì che đầu bằng lá cọ, cứ thế, mọi

người xem cho tới hết. Rồi lại hành quân mưa, về tới căn cứ thì 11 giờ đêm. Bộ đội đã được xem

báo Vệ Quốc quân, họa báo Trung Quốc, Liên Xô... tranh truyện in kèm theo báo của trung

đoàn... Còn rất nhiều tối liên hoan văn nghệ tại hội trường hay lửa trại có múa “Liên Xô”, múa

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

“xẩm xoan”, múa “lượn”, “Hái chè bắt bướm”... và hò, vè, có các cây đơn ca, các cây sáo trúc,

kèn ác-mô-ni-ca...

Không chỉ trang bị vật chất, người lính pháo binh trung đoàn tôi đã được trang bị khá đầy đủ,

phong phú về phương tiện hoạt động văn hóa-văn nghệ để củng cố vững chắc cho những tình

cảm lớn: yêu nước, căm thù giặc...

Chỉ có mỗi điều thắc mắc: Bao giờ xuất quân? Chiến dịch này hướng về nơi đâu?

Chỉ thấy cán bộ luôn đi họp, lên trung đoàn họp, lên đại đoàn họp...

Vẫn chỉ nghe đều tiếng chim

“Bắt cô trói cột!

Khó khăn khắc phục!”.

Rồi một đêm, tôi và mấy anh đang làm báo Quyết thắng của đại đoàn nghe thấy nhiều tiếng gầm

rú của xe chạy qua phía khúc ngoặt của đường cái... Đang viết bài dưới ánh đèn dầu leo lét,

chúng tôi lắng nghe mãi cho tới quá nửa đêm, không ngủ được.

Mọi người kháo nhau: Đêm nay hàng viện trợ chắc về nhiều...

Còn tôi, tôi hiểu: trung đoàn bắt đầu lên đường đi chiến dịch. Tôi đi sau và sẽ gặp lại các đồng

chí ấy nơi hỏa tuyến."

Lão Béc-na Phôn viết sách cũng hay, chỉ có tội hơi thích tô vẽ sự kiện một tí. Nói về chuyện "bí

bầu" của ta, lão ý trích luôn 1 đoạn trong quyển truyện "Cao điểm cuối cùng" của nhà văn Hữu

Mai để cắm vào đoạn pháo của ta đập tan cuộc phản công của bọn tây lên đồi Độc Lập. .

Mà có bác nào đọc quyển này chưa? Đây là quyển truyện về trận đánh đồi A1 mà em khoái nhất

đấy!

Em cũng có quyển này nhưng ma theo em no không phải một tác phẩm hay. Các tình tiết bị chặt

vụn làm mình đọc như ăn cơm sạn, nhiều đoạn nặng tính "thủ dâm tâm lý" như là sách cho

trẻ con vậy. Còn mấy chuyện phát hành cùng đợt đấy cũng không khá hơn nhiều lắm. Cái đợt

sách chào mừng chiến thắng ĐBP năm đấy em mua mất hơn 600k tiền sách về tặng ông bô thế

mà còn bị ông bô che, tiếc hùi hụi

Ngày xưa ông nội tôi cũng tham gia vào vụ vận chuyển pháo từ Trung Quốc về để đánh Điện

Biên Phủ đấy. Trong hồi ký của ông tôi có nói những chuyện như tháo pháo chở bằng bè như thế

nào... Tiếc là hiện tôi không có hồi ký của ông trong tay để kể cho các bác, đành nói chuyện vui

thế thôi vậy.

Tớ thì có đủ các tư liệu đấy, kể cả phỏng vấn những người dân tham gia chuyển pháo bằng bè

hiện còn sống, có điều đang bận qua chưa đánh máy được. Chịu khó chờ tí nhé

Ông Hữu Mai này trước kia đã từng là chính trị viên cho nên nhiều khi cũng vẫn còn máu

nhà nghề thích phân tích sự kiện Em vẫn khoái mấy phần kể về trận đánh. Mấy ông

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

tiểu đoàn trưởng lúc đầu còn chỉ huy được cả đơn vị, nhưng càng đánh lâu càng ít đi, khi

lên đến chốt chống phản công thì hệ thống chỉ huy của đơn vị đã tan rã hết rồi, để chống

phản công chỉ còn những nhóm nhỏ hỗn hợp lẫn lộn các đơn vị không còn liên lạc được

với cấp trên chứ không phải là cả tiểu đoàn đầy đủ như khi bắt đầu xung phong nữa...

Chuyện của bác làm em nhớ chuyện của em ngày xưa hì hục dịch sách lão Béc-na Phôn về trận

ta diệt trung đoàn Triều Tiên của bọn tây cho mấy cụ cựu chiến binh trung đoàn 803. Dịch xong,

mấy cụ đọc rồi cũng chê luôn tin tức của lão Phôn về phía ta sai bét, vừa hố vừa tiếc công dịch

Nếu em nhớ không nhầm thì lão Fall viết quyển "ĐBP một góc địa ngục" vào cỡ năm 62, 63. Thời

điểm ấy thì tất nhiên tư liệu của cả ta và Tây đều không thoáng như bây giờ, nên lão có sai sót

cũng là bình thường. Chính lão Navarre sau này viết hồi ký cũng phàn nàn là đám sử gia (trong

đó có Fall ) đổ oan cho mình nhiều quá

Nói chung, sách Tây về ĐBP thì em vẫn đánh giá cao E.Bergot với J.Pouget nhất. Có lẽ 2 lão

này từng trực tiếp dự trận nên viết vẫn chân thực hơn đám sử gia sau này. Điều đặc biệt là chính

2 lão lại ít viết về mấy cái "biển người" nhất .

Nghe nói mấy lão Langslai với Bigeard cũng có hồi ký, nhưng em chưa thấy nhà ta dịch.

Sách ta nếu không kể mấy dạng hồi ký, quân sử các đơn vị... cũng có ích nếu muốn tìm hiểu sâu

về vài trận đánh lẻ, còn về toàn bộ chiến dịch theo em chưa có quyển nào bằng được với hồi ký

của cụ Giáp. Hồi ký của cụ còn có cái hay là không viết theo kiểu biên nhật như sách Tây nên dễ

nắm được toàn cục hơn.

Còn mấy quyển "theo đóm ăn tàn" về ĐBP cỡ 100-200 trang xuất bản ầm ầm đợt 2004 thì phần

lớn là chỉ đáng vứt vào sọt rác

Anh em đã đọc cuốn "Máy bay ở Điện Biên Phủ" chưa?

Sách do một viên phi công người Pháp từng tham chiến trong trận Điện Biên viết.

Đọc hay lắm! có nhiều chuyện lạ.

Hay đấy, biến cái box này thành box tổng hợp về ĐBP cho dễ theo dõi.

Đầu tiên cũng không nên quên công sức của các dân công hoả tuyến

"Tháng 10-1953, 24 tuổi, tôi xung phong đi dân quân hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên

Phủ. Đơn vị tôi có 3 trung đội, tôi làm trung đội trưởng trung đội 2, được biên chế vào đơn vị của

Tổng cục Cung cấp. Tôi được chỉ định làm Bí thư chi đoàn của đại đội 80 dân công hỏa tuyến

gồm hơn 100 anh chị em, tuổi đời từ 20-25. Đồng chí Trần Lâm, Thường vụ Tỉnh đoàn thanh

niên cứu quốc Phú Thọ là Tổng chỉ huy.

Đơn vị làm lễ xuất quân tại đền Lăng Xương. Vào đêm mùa đông giá rét, trên vai mỗi người

mang khoảng 30-40kg gạo, hành quân qua đồn Vàng, Thu Cúc cho đến sáng sớm hôm sau vượt

sông Đà, qua đèo Cón, sang Tạ Khoa, Cò Nòi, Sơn La rồi lên Thuận Châu, vượt đèo Pha Đin,

nơi địch đánh phá suốt ngày. Qua Tuần Giáo, đến cây số 70 cách Điện Biên Phủ hơn 10km thì

chốt lại trong rừng già Tà Pùng, nơi cửa ngõ của đường kéo pháo vào phân khu Bắc Him Lam,

Độc Lập, Bản Kéo...

Trung đội chúng tôi cùng với chiến sĩ đại đoàn 351 tiếp tế lương thực, vận chuyển và tiếp đạn

đến các trận địa pháo 105 của ta ở sườn núi. Có những lần, cả trung đội phối hợp bộ đội kéo

pháo 105 ly và pháo phòng không 37 ly vượt đèo.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Những ngày đầu tháng 2-1954, bộ đội được lệnh kéo pháo ra. Khẩu pháo nào từ rừng sâu kéo ra

được đưa ngay về đường Tuần Giáo. Sau khi kéo pháo ra, cả đại đội suốt ngày đêm làm đường.

Mặc cho máy bay địch ném bom, bắn pháo sáng suốt đêm, anh em dân công cùng bộ đội vẫn

hăng hái làm đường. Khoảng ngày 11, 12-3-1954, xe pháo của ta lại tấp nập qua đường, xuyên

rừng vào trận địa. Đêm 12-3, tất cả đại đội dân công vác đạn pháo 105 ly còn để nguyên trong

hộp cát-tông đi qua bản Tấu, Nậm Khâu U, Bãi Cháy vào trận địa, đưa xuống hầm dự phòng.

Đúng 17 giờ ngày 13-3-1954, mặt trời xế tà góc bên sườn núi Hồng Pú Mèo, rừng Tây Bắc bỗng

nổi bão lửa. Các khẩu pháo 105 ly ở các trận địa ta nã vào cứ điểm Him Lam, mở màn chiến

dịch Điện Biên Phủ. Máy bay giặc Pháp vòng lượn, gầm rít, bắn bừa bãi, nhưng anh chị em dân

công chúng tôi vẫn hăng hái vác đạn băng qua Bãi Cháy. Đạn pháo cao xạ 37 ly của ta vun vút

bắn lên như lưới lửa bủa vây chúng. Chỉ trong vòng 30 phút, 5 máy bay của giặc Pháp lần lượt

trúng đạn bốc cháy lao đầu xuống vùng núi Pú Hồng Thái và cánh đồng Mường Thanh. Bộ đội,

dân công và nhân dân vui sướng reo hò vang dội cả núi rừng. Đến nửa đêm thì tiếng súng im

hẳn. Anh chị em dân công chúng tôi vẫn chuyển đạn vào và cáng, cõng thương binh ra cho quân

y tiền phương cứu chữa. Sau trận bão lửa, đạn pháo của ta trút xuống đồi Him Lam. Hôm sau ở

đồn Độc Lập quân giặc bỏ chạy. Đến ngày thứ ba có hàng trăm lính Thái ở đồn Bản Kéo ra

hàng, bộ đội ta áp giải chúng qua cánh rừng nơi chúng tôi trú quân.

Ngày 13-5-1954, anh chị em dân công chúng tôi được dự lễ duyệt binh mừng chiến thắng ở

Mường Phăng, có Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến dự. Trong dịp này, tôi được gặp lại những

chiến sĩ pháo binh đoàn 351. Anh em gặp nhau ôm nhau sung sướng. Tôi gặp được anh Nguyễn

Duy Thịnh người cùng làng Tây Đằng, là chiến sĩ pháo binh. Gặp nhau vui mừng khôn xiết.

Ngừng một lát, ông Hưng mở tủ lấy những tấm huân chương, huy chương, huy hiệu được tặng

thưởng đưa chúng tôi xem. Tấm huân chương Chiến công hạng ba được tặng thưởng vào ngày

28-3-1954, ghi rõ: “Để tưởng lệ công trạng đối với Tổ quốc”. Công trạng của ông Hưng ngày đó

được ghi: Suốt năm tháng phục vụ chiến dịch, nêu cao tinh thần dẻo dai khắc phục khó khăn.

Thời gian phục vụ, ụngồ phải leo rất nhiều đèo cao, nhưng với tinh thần xung phong, tăng năng

suất ông thường xuyên gánh trung bình hơn 40kg. Có những lần vượt qua suối nước chảy xiết,

trời rét vẫn xung phong sang trước để kéo mảng cho đồng đội đi qua. Khi có bom nổ chậm

không ai dám đi trước, ông Hưng đã xung phong đi đầu rồi hướng dẫn cả đoàn cùng qua. Thời

gian cáng thương binh, ông luôn chú ý săn sóc, lo cơm nước, giặt giũ, nâng đỡ anh em đi lại.

Trời mưa thì lấy tấm ni lông, áo của mình che, đắp cho thương binh. Đối với mọi người trong đơn

vị, ông luôn nêu cao tinh thần thân ái, giúp đỡ về thuốc men, quần áo, gánh vác giúp những

người ốm yếu khi qua đèo, qua suối. Ông luôn gương mẫu, cố gắng trong mọi công tác nên đã

được Tổng cục Cung cấp và tỉnh khen thưởng."

Những quả đạn pháo cuối cùng.

"

Đó là vào khoảng cuối năm 1952, khi tôi đang đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Khu 4 thì có lệnh điều

ra Bộ công tác. Bản thân tôi lúc bấy giờ cũng chưa biết mình ra làm công tác gì nhưng “quân

lệnh như sơn”, tôi nhanh chóng bàn giao và sửa soạn lên đường.

Sau những ngày băng rừng vượt núi, tôi có mặt tại địa điểm quy định. Người đầu tiên tôi gặp là

anh Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Với giọng nói thân tình ấm áp, anh bảo

tôi: “Bên Bộ Tổng tham mưu đang cần người làm công tác chính trị, chú sang giúp Nguyễn Sơn

một tay. Làm ở đó không có chức quyền gì cả, bằng lòng thì làm, không bằng lòng thì về cũng

được”. Anh Thanh nói xong rồi cười vui vẻ, tôi cũng nhận lời ngay.

Sang năm 1953, theo chủ trương sắp xếp cán bộ của Tổng Quân ủy, chuẩn bị cho cuộc tiến

công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Trần Văn

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Quang được điều về làm Cục trưởng Cục Tác chiến, tôi chuyển sang làm Cục trưởng Cục Quân

lực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Tôi còn nhớ khi nhận lệnh đi chiến dịch Điện Biên Phủ, cả cơ quan Bộ Tổng Tham mưu đều náo

nức lạ thường. Bên Cục Tác chiến có anh Trần Văn Quang, bên quân lực có tôi và một số anh

em khác được phân công… Một tâm trạng mừng vui nhưng cũng hết sức lo lắng về trách nhiệm.

Đây là chiến dịch có tầm vóc chiến lược, vì thế bản thân tôi trên cương vị Cục trưởng Cục Quân

lực phải suy tính sao đây để cùng với các anh bên Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp phối

hợp xây dựng kế hoạch về tổ chức lực lượng, điều phối trang bị, lương thực, đạn dược, … một

cách chu đáo và chặt chẽ.

Tôi trao đổi với anh Trần Văn Quang về những dự kiến trong sử dụng trang bị, nhất là đạn dược

để bộ đội có đủ cơ số chiến đấu nhưng tránh được lãng phí. Ở chiến dịch Điện Biên Phủ, lần đầu

tiên ta tập trung pháo binh khá mạnh bao gồm các sơn pháo 75mm và lựu pháo 105mm, 122mm.

Mỗi viên đạn lúc này là quý lắm. Có điều lúc đó không biết được chiến dịch sẽ kéo dài bao lâu

cho nên ở cơ quan chúng tôi phải rất chủ động tính toán chi ly và làm kế hoạch để báo cáo lên

chỉ huy chiến dịch. Các hướng, các đơn vị sau mỗi lần chiến đấu đều phải báo cáo rõ số lượng

đạn tiêu thụ để chúng tôi tổng hợp, bổ sung, điều chỉnh.

Lại nhớ trận đánh vào đồi A1, do địch phòng thủ kiên cố, hỏa lực mạnh nên trận chiến giữa ta và

địch diễn ra gay go, ác liệt, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất. Xác định A1 có tầm khống

chế trong các cụm điểm tựa của cứ điểm Điện Biên Phủ đã gây cho ta tổn thất khá lớn, tôi có

bàn với anh Trần Văn Quang nên huy động một lực lượng công binh đào một đường hầm dùng

thuốc nổ mạnh để đánh. Ý kiến này của chúng tôi báo cáo lên anh Hoàng Văn Thái và Đại tướng

Võ Nguyên Giáp. Hai anh đồng ý rồi yêu cầu chúng tôi chỉ đạo đơn vị lấy một tiểu đội công binh

gồm toàn đảng viên và chiến sĩ trung kiên đi làm nhiệm vụ. Tiểu đội này sau đó được Đại tướng

Võ Nguyên Giáp gọi lên Sở chỉ huy chiến dịch gặp gỡ, động viên trước lúc vào trận đánh. Nhờ

sự hy sinh quả cảm và tinh thần xả thân vì Tổ quốc của cán bộ, chiến sĩ ta nên đồi A1 đã bị khối

nổ làm cho sụp đổ, tạo thuận lợi để các hướng tiến công của ta tiến lên giành thắng lợi.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp rất hoan nghênh cách làm việc này của cơ quan Bộ

Tổng Tham mưu tại chiến dịch. Một buổi tối của thời điểm gần cuối chiến dịch, trời Điện Biên Phủ

mưa tầm tã. Tại Sở chỉ huy, Đại tướng gọi tôi lên. Lúc này Đại tướng đang lên cơn sốt, người

ông run lên từng đợt, mặc dầu vậy ông vẫn bình thản hỏi tôi: “Anh Sâm này, đạn lựu pháo ta còn

bao nhiêu?”. Một chút bối rối trong tôi vì tôi chưa hiểu vì sao Đại tướng hỏi như vậy. Lấy lại bình

tĩnh, tôi báo cáo với Đại tướng. Nghe tôi nói, Đại tướng nhỏ nhẹ: “Trời đang mưa như thế này,

địch thì đang cố thủ ở dưới hào, nếu có đạn, anh cho pháo bắn một trận”. Thế là đã rõ, tôi lại báo

cáo với Đại tướng: “Báo cáo anh, đạn đã chuẩn bị cho đợt đánh sắp tới (sau này tôi mới biết đây

là đợt cuối cùng của chiến dịch), nếu được xin anh cho dùng khoảng 300 quả”. Đại tướng trầm

ngâm chốc lát rồi nói: “Thôi được !”.

Khi tôi về đến lán dã chiến của Cục Quân lực thì được biết Đại tướng đã chỉ đạo tác chiến bắn

300 quả đạn pháo vào các nơi đồn trú của địch.

Chiều hôm sau, bên trực ban Tác chiến bỗng rộ lên tiếng hò reo như sấm dậy. Chúng tôi nghe

được tiếng của một đồng chí: “Pháp thua trận rồi, tướng Đờ Cát đầu hàng rồi!”. Một cảm xúc lạ

lùng chạy trong người tôi, ta thắng rồi sao? Như một phản xạ, tôi sướng quá nói thật to với anh

Nam Đen và anh em trong cơ quan: “Dẹp đi bây, xong rồi!”. Có gì hạnh phúc bằng lúc đó, đã bao

năm kháng chiến trường kỳ, hy sinh gian khổ, đến hôm nay, ta đã giải phóng được Điện Biên

Phủ, rồi đây, sẽ có rất nhiều biến chuyển to lớn sau chiến thắng này.

Mấy ngày sau khi Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến hỏi tôi: “Lúc

ấy có thật đạn pháo sắp hết phải không anh Sâm?”. Tôi thành thật báo cáo: “Do chiến dịch phát

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

triển quá mau lẹ, tại chỗ lúc đó đạn cối đã cạn, phía sau lại chưa đưa lên kịp song hiểu được ý

định của Đại tướng nên tôi đã mạnh dạn báo cáo với Đại tướng sử dụng vào cơ số dự trữ cuối

cùng và ngay sau đó đã cùng anh Nam Đen, Cục trưởng Cục Quân khí tìm mọi cách thu gom

cho bằng đủ”.

Đại tướng cười rất vui và nói: “Có quyết định đúng, song nếu quyết định đó không được tổ chức

thực hiện tốt, không được bảo đảm tốt thì cũng lại bỏ mất thời cơ thôi”.

Thượng tướng TRẦN SÂM"

Trận hợp đồng binh chủng lớn nhất.

"Ngày 12-3-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho chiến sĩ: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các

chú lần này rất to lớn. Khó khăn nhưng rất vinh quang. Bác chúc các chú thắng to”.

Cùng ngày, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bí thư Đảng ủy, chỉ huy trưởng mặt trận

hiệu triệu: Trận này là trận công kiên quy mô lớn nhất trong lịch sử quân đội ta từ trước đến nay,

là những trận đánh đầu tiên có trọng pháo, pháo cao xạ phối hợp. Tôi kêu gọi:

- Hiệp đồng chặt chẽ

- Chiến đấu liên tục

- Tiêu diệt toàn bộ địch tại Điện Biên Phủ giành thắng lợi lớn cho chiến dịch.

Để thực hiện phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” và tác chiến hiệp đồng binh chủng, ta đã huy

động một lực lượng lớn các đơn vị tham gia. Lực lượng bộ binh tham gia chiến dịch gồm hầu hết

các đại đoàn chủ lực cơ động của Bộ Tổng Tư lệnh, đó là đại đoàn 308, đại đoàn 312, Đại đoàn

316 và một phần đại đoàn 304 (thiếu trung đoàn 66). Lực lượng các binh chủng gồm có: Đại

đoàn công pháo 315 (công binh pháo binh), trung đoàn cao xạ 37mm, cùng các trung đoàn, tiểu

đoàn binh chủng trinh sát, thông tin liên lạc, công binh, các đơn vị vận tải, quân y, hậu cần kỹ

thuật hình thành tuyến chiến lược chiến dịch và chiến đấu, với số lượng rất lớn lực lượng dân

công vận tải, thồ và đi bộ.

Riêng pháo binh, tổng số pháo cối tham gia 261 khẩu (gồm cả súng cối bộ binh và 3 khẩu cối

120mm lấy được sau chiến thắng ở đồi Độc Lập), trong đó gồm: trung đoàn lực lượng pháo

105mm (2 tiểu đoàn 24 khẩu pháo xe kéo), trung đoàn pháo cối mang vác gồm: 16 khẩu cối

120mm, 30 khẩu sơn pháo 75mm và ĐKZ; 12 dàn phản lực 102mm; 36 khẩu cối 82mm. So sánh

với địch: về pháo và cối 120mm ta có 1, địch có 1,2 (ta có 40 khẩu gồm: 24 khẩu 105 mm và 16

khẩu cối 120mm; địch có 48 khẩu gồm 4 khẩu 155mm, 24 khẩu 105mm và 20 khẩu cối 120mm).

Nếu so sánh cả pháo của bộ binh, ta có 2,1 (216 khẩu); địch có 1 (126 khẩu). Pháo binh của ta

lần này xuất trận gắn liền với trung đoàn cao xạ 37mm xe kéo thuộc trung đoàn phòng không

367. Đây là một yếu tố mới rất quan trọng mà từ trước ta chưa hề có. Do đó có thể nói sự xuất

hiện lần đầu tiên của trung đoàn pháo binh 105mm có xe kéo và trung đoàn cao xạ xe kéo đã trở

thành nhân tố mới, góp phần vào tính chất quyết định trong việc phát triển nghệ thuật tác chiến

của chiến dịch. Đó là nghệ thuật tác chiến của tiến công trận địa được bắt nguồn từ phương

châm chỉ đạo “Đánh chắc, tiến chắc” mà ta đã tạo ra được: hệ thống, công sự trận địa bao vây

chặt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Mường Thanh và Hồng Cúm đều nằm trong thế

vây hãm của ta); hình thành các trục chiến hào và giao thông hào chọc thẳng vào các trung tâm

phòng ngự của địch vừa vây hãm chặt từng cụm cứ điểm, vừa tạo ra bàn đạp triển khai lực

lượng khi tiến công, vừa là nơi để đánh bại các lực lượng của địch ra phản kích; trên cơ sở đó tổ

chức các đợt tiến công tập trung tiêu diệt từng mảng quân địch đang phòng ngự, tiêu diệt địch tới

đâu thì vòng vây của ta được khép chặt tới đó, giữ chặt khu vực đã chiếm để đánh bại lực lượng

địch tới phản kích. Trên cơ sở kết quả từng đợt tiêu diệt địch từng khu vực, tiến tới đợt cuối cùng

tổng công kích tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, buộc phải đầu hàng tại chỗ, không một

lực lượng nào của chúng chạy thoát.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã nêu một mẫu mực rất sáng tạo về nghệ thuật tác chiến chiến dịch

mà từ trước tới nay trong cuộc chiến tranh chống Pháp chưa hề có. Đó là một cuộc tiến công

trận địa rất kiên quyết và đem đến thành công rất rực rỡ.

Ta đã bao vây địch cả 4 mặt đánh liên tục cả ngày lẫn đêm bằng mọi hình thức thủ đoạn và biện

pháp, diệt cứ điểm tới đâu, vòng vây càng siết chặt địch lại, càng triệt phá được pháo binh súng

cối của địch, càng khống chế được sân bay và bắn máy bay địch trên không, triệt đường không

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

tiếp tế của địch, khác hẳn với trước kia, khi ta dùng công kiên để tiêu diệt cứ điểm địch, phải

đánh đêm và từ đêm chuyển sang ngày rất vất vả khó khăn, vì phi pháo mạnh của địch, ta không

đủ lực kìm chế. Muốn tiến công trận địa, phải tiến hành tác chiến hiệp đồng binh chủng điều đó

đã được khẳng định từ lâu; song tới chiến dịch Điện Biên Phủ ta mới có điều kiện tiến hành triệt

để và sáng tạo nhất vì thế mà thành quả trở nên thắng lợi to lớn và kết thúc triệt để nhất.

Thực tiễn trong quá trình tác chiến của chiến dịch, pháo binh của ta đã kết hợp chặt chẽ với cao

xạ, phải đảm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ và đã trở thành lực lượng hỏa lực chủ yếu của chiến dịch

như: Chế áp pháo binh, phá hoại sở chỉ huy, phá hủy công sự trận địa, kho tàng, khống chế sân

bay và đặc biệt quan trọng là trực tiếp chi viện hỏa lực cho bộ binh tiến công, bảo đảm hỏa lực

cho bộ binh giữ vững trận địa phòng ngự, kết hợp với hỏa lực bộ binh đánh lui đánh bại lực

lượng quân địch ra phản kích, yểm hộ cho bộ binh đánh lấn. Ngoài ra còn tham gia bắn tỉa tiêu

diệt, pháo lẻ của địch mới xuất hiện, phá hủy đường băng đánh diệt và khống chế máy bay, kết

hợp cùng cao xạ cắt đường tiếp tế đường không của địch, buộc địch phải thả dù tiếp tế và không

ít số dù đã rơi vào trận địa bố trí của ta. Ta đã thu được khá nhiều thứ, đặc biệt là đạn pháo binh,

bù đắp được một phần thiếu thốn của ta (tính riêng đạn pháo 105mm đã được tới 5.500 viên).

Với hỏa lực mạnh, tầm bắn xa pháo binh 105mm và cao xạ pháo 37mm đã có tác dụng quan

trọng nhất trong việc làm biến đổi hẳn chất lượng của nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng

trong chiến dịch. Có được hỏa lực đó thì nghệ thuật tiến công trận địa của chiến dịch mới có sự

phát triển lên một bước mới mà các chiến dịch khác trước đây ta chưa làm được.

Tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, Điện Biên Phủ giành được thắng lợi to lớn và triệt

để nhất, không những trong cuộc chiến tranh chống Pháp mà thực hiện cũng là một chiến dịch

đánh to, thắng lớn và triệt để nhất trong hai cuộc chiến tranh. Chiến dịch Điện Biên Phủ trở thành

chiến thắng vĩ đại của dân tộc, trận đánh lớn then chốt quyết định đánh bại quân đội chiến binh

Pháp ở Đông Dương. Thắng lợi vĩ đại ấy khẳng định: Muốn đánh to thắng lớn phải tiến hành tác

chiến hiệp đồng các binh chủng.

Trong tác chiến hợp đồng binh chủng của chiến dịch thì việc quan trọng trước hết là triệt phá cái

mạnh của địch, biến cái mạnh của địch trở thành cái yếu hơn ta là rất quan trọng. Điều này thật

sự chiến dịch Điện Biên Phủ đã thành công lớn và trở thành bài học hay, rất sống động trong tác

chiến hiệp đồng binh chủng. Nguyên nhân thành công có nhiều, xin nêu một số điểm mà ta đáng

quan tâm.

Trước hết, phải kể đến phương châm tác chiến của chiến dịch là “Đánh chắc, tiến chắc”. Nhờ đó

pháo binh ta có điều kiện rảnh tay, để ngay từ phút đầu tập trung được hỏa lực bắn cấp tập,

mãnh liệt và bất ngờ vào các trận địa pháo binh chủ yếu của địch, đồng thời triệt phá được sân

bay, diệt máy bay tại chỗ của địch.

Hai là, nhờ có sự chỉ đạo giúp sức của các sư đoàn bộ binh và các binh chủng trong việc làm

đường cơ động pháo, xây dựng trận địa pháo, kéo pháo vào chiếm lĩnh, bảo đảm cho pháo binh

bố trí được trong hầm có nắp tạo ra được thế trận lợi hại và rất nguy hiểm cho địch. Từ thế trận

đó, pháo binh ta đã thực hiện được nguyên tắc phân tán hỏa khí tập trung hỏa lực-rõ ràng pháo

105mm của ta đã trong hầm có nắp, từ nhiều hướng bắn vào một trung tâm, ngược lại pháo binh

địch lại từ một trung tâm; phải phơi mình trên trận địa bộc lộ, để quay nòng bắn ra nhiều hướng-

đây là một nguyên nhân làm cho pháo binh địch bị thất bại.

Ba là, sự khôn khéo của ta trong việc sáng tạo ra nghệ thuật nghi binh. Pháo ta trong hầm có nắp

an toàn, ta lại còn lập trận địa nghi binh lừa địch – Một cách làm giản đơn dùng gỗ thui đen thành

khẩu pháo giả, nghếch nòng lên, khi trận địa thật phát hỏa thì chiến sĩ phụ trách nghi binh từ

trong công sự, ném bộc phá, tung lên không trung. Kết quả 80% bom đạn của địch dùng đánh

pháo binh ta đã dồn vào đánh trận địa giả đó của ta. Do vậy, suốt chiến dịch pháo binh ta chỉ

hỏng một pháo 105mm. Hầu như suốt chiến dịch pháo binh địch bị đánh tả tơi và tê liệt, còn

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

pháo binh ta an toàn để liên tục hoàn thành nhiệm vụ. Rõ ràng, tác chiến hiệp đồng binh chủng ta

thực hiện được việc biến cái mạnh của địch thành cái yếu hơn ta. Đó là một trong những nguyên

nhân mà địch thất bại trong Điện Biên Phủ. Thực tế kinh nghiệm này của chiến dịch Điện Biên

Phủ đã trở thành truyền thống chiến đấu của quân đội ta trong suốt chiều dài chống Mỹ cứu

nước."

Cứu chữa cho tù binh Pháp:

"

17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, tôi nhận được lệnh vào ngay Mường Thanh để nắm tình hình

thương binh địch, báo cáo lên cấp trên.

Bàn giao công việc xong, tôi theo liên lạc vào trung tâm chỉ huy của địch. Đường thẳng chim bay

khoảng hơn 3km, nhưng đi ngoằn ngoèo, qua các trận địa, hầm hào của ta, của địch. Cảnh chiến

trường thật khốc liệt, khủng khiếp. Đi sâu vào căn hầm chỉ huy của địch, một hầm cao, to, sâu

dưới lòng đất, bên trên được phủ các vòm bằng sắt to, vững chắc, xung quanh bừa bộn những

súng đạn, xác xe tăng, cùng với quân trang quân dụng của địch. Một số cán bộ các đơn vị, các

cơ quan cấp trên cùng một số chiến sĩ đã có mặt ở đó, đang tìm tòi, thu thập những thứ cần thiết

còn ngổn ngang khắp nơi.

Tôi vào hầm chỉ huy địch, báo cáo nhiệm vụ với cán bộ phụ trách và tiếp xúc ngay với viên trung

úy, tuyên úy Pháp còn lại. Anh ta cho biết số thương binh của họ rất nhiều, đang trong tình trạng

khốn khổ và có nhiều bác sĩ quân y Pháp còn ở đây. Tôi triệu tập ngay số có mặt lúc đó. Trông

diện mạo họ thật ghê sợ, râu ria xồm xoàm, tóc dài, rối, mặt mũi lem luốc... Người phụ trách họ

là thiếu tá, bác sĩ phẫu thuật Grauwin. Tôi hỏi Grauwin về tình hình thương binh của họ. Trả lời:

“Thương binh chúng tôi còn nhiều, họ nằm rải rác ở các hầm. Các ông bắn ác liệt quá, không thể

chuyển được, ùn lại khoảng 600-700 người. Toàn là thương binh nặng các hướng dồn về, còn

số thương binh vừa và nhẹ nằm ở các đơn vị tôi không rõ số lượng, nhưng biết họ đang ở trong

tình trạng vô cùng tồi tệ, có thuốc cũng khó cứu nổi. Phòng mổ cũng là nơi chứa thương binh.

Trời mưa, hầm nào cũng bùn lầy ứ đọng, thương binh phải nằm 2-3 tầng. Vệ sinh tệ hại, xin các

ông giúp đỡ họ”. Tìm hiểu lực lượng quân y Pháp, tôi được biết họ có 17 bác sĩ (kể cả một số ở

các cứ điểm bị đánh chạy về...), có một nữ y tá, chuyên đưa thương binh về Hà Nội bằng máy

bay nay cũng bị kẹt ở lại đây”. Đó là cô Giơ-ne-vơ đờ Ga-la. Tôi bảo Grauwin dẫn tôi đi thăm các

hầm thương binh. Trời tối, chỉ thăm được 6-7 hầm. Ở hầm nào cũng thấy tình trạng thương binh

thật khủng khiếp. Có hầm thương binh nằm trên các cáng có thể chồng lên nhau thành 2-3 tầng.

Có hầm thương binh nằm ngay trên nền đất nhão nhoét, bùn lầy, mùi hôi thối nồng nặc vì các vết

thương đã nhiễm khuẩn và mủ máu, bông băng thay ra chất đống xung quanh. Đúng là một địa

ngục trần gian. Họ đầu hàng, họ rên la kêu cứu là điều tất nhiên.

Trở về hầm chỉ huy của Đờ Cát, bác sĩ Grauwin khẩn cầu chúng tôi giải quyết sớm cho họ. Nắm

tình hình, tôi báo cáo lên trên và trở về đơn vị. Vài giờ sau, tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy đội

điều trị 8 vào giải quyết thương binh địch.

Sáng 8-5, đội điều trị 8 chuyển vào trung tâm Mường Thanh, triển khai thành bệnh viện dã chiến,

với nhiệm vụ đưa hết thương binh địch lên khỏi hầm, cứu chữa họ và đợi lệnh. Chúng tôi được

tăng cường một đại đội vận tải, 2 đại đội dân công và cho phép sử dụng số nhân viên quân y

Pháp để giúp săn sóc họ. Sau 2 ngày đêm, tất cả thương binh đã được đưa lên. Mấy chục chiếc

dù được căng lên, các cáng thương binh được tập trung lại, tổ chức cho anh chị em dân công

giặt quần áo, bố trí nơi ăn nghỉ cho thương binh. Việc đầu tiên là rửa vết thương, thay băng, thay

quần áo, sau đó đội điều trị 8 đã làm việc suốt ngày đêm để cứu chữa họ. Anh chị em làm một

cách vui vẻ thoải mái vì Hồ Chủ tịch đã chỉ thị: “Hãy cứu chữa và săn sóc họ. Vì họ là người thua

trận...”. Số thương binh này đã thực sự được trở lại cuộc sống. Họ rất vui sướng, trò chuyện với

chúng tôi, nói lên sự cảm phục và lòng biết ơn của họ. Một số thương binh sĩ quan lúc đầu còn

lầm lì, ít nói, sau đó cũng cởi mở và mong chiến tranh sớm kết thúc để trở về với gia đình.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Số thương binh nặng do đội điều trị 8 trực tiếp điều trị là 858 người. Tất cả đều được săn sóc, xử

lý tốt, sức khỏe tiến triển thuận lợi, nhanh. Các vết thương được mở rộng, cắt lọc, dẫn lưu thoát

mủ, mổ dẫn lưu màng phổi, chống nhiễm khuẩn, xử trí chảy máu thứ phát... Cả đội điều trị 8 đã

làm việc với khả năng tối đa có được lúc đó. Tôi nhớ rõ các bác sĩ Đặng Hiếu Trưng, Vi Huyền

Trác, Phan Chúc Lâm, Phạm Tử Dương, Tạ Long, Phạm Long, Đoàn Ngưỡng... và các y tá, hộ

lý (tôi ân hận không nhớ được tên) đã trực tiếp điều trị, săn sóc họ với tấm lòng cao cả của

người thầy thuốc, y tá, hộ lý quân y Việt Nam khiến họ cảm phục. Nhiều người trong số họ đã nói

với tôi: “Các ông làm việc suốt cả đêm, không ngủ. Tôi ngủ khi các ông đang làm, tỉnh dậy các

ông vẫn làm việc”.

Việc nuôi dưỡng cũng giúp thương binh phục hồi nhanh. Một tốp 4-5 tù binh Pháp được phép trở

lại nấu ăn cho họ. Họ chỉ có đồ hộp, mặc dù cá, thịt hộp đã được đun nóng lại, nhưng họ không

muốn ăn. Chúng tôi tổ chức đánh bắt cá ở sông suối, hái rau rừng (rau tàu bay, rau dớn...)

hướng dẫn họ nấu thêm cho thương binh ăn. Họ ăn rất ngon lành và nói: “Cám ơn các ông, cá,

rau của các ông ngon lắm, chúng tôi khỏe hẳn lên”.

Tối đến, không khí trong “bệnh viện” đã vui hơn. Các ngọn điện dùng nguồn ắc-quy sáng khắp

các lều dù, trông thật đẹp. Có cả tiếng đàn ghi ta, tiếng hát vang từ bờ suối bên kia, nơi bố trí cho

nhân viên quân y Pháp ở. Cô y tá Ga-la ở một lều riêng biệt. Họ vui và yên tâm chờ đợi.

Hằng ngày tôi báo cáo đều tình hình lên trên. Các đồng chí chỉ huy khu tiếp quản đến thăm và

động viên. Gần 2 tuần sau, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Chính phủ ta đã cho phép cô y tá về

nước. Nghe tin, cô vô cùng xúc động, sung sướng, viết thư tỏ lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giơ-ne-vơ đờ Ga-la là người được thả đầu tiên. Phía Pháp tiếp nhận.

Sau 3 tuần được cứu chữa, chăm sóc, toàn bộ số thương binh nặng của Pháp đã ổn định. Đảng

và Chính phủ, quân đội đã trao trả toàn bộ số thương binh này cho chính phủ Pháp. Đồng chí

Cao Văn Khánh, Phó tư lệnh đại đoàn, Phó ban quản lý khu Điện Biên Phủ; đồng chí Nguyễn

Thúc Mậu, Phó ban quân y chiến dịch và tôi trực tiếp làm việc với đoàn quân y Pháp do đại tá,

giáo sư Huard phụ trách đến tiếp nhận.

Các thương binh Pháp rất xúc động khi các thầy thuốc, y tá, nhân viên đội điều trị 8 đưa họ ra

máy bay. Họ chào chúng tôi và vô cùng cảm ơn về tất cả những gì đã làm để họ được về sống

với gia đình. Họ mong muốn chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại với Việt Nam. Máy

bay cất cánh, qua cửa kính họ vẫy tay chào.

Chiến thắng Điện Biên Phủ thật trọn vẹn với sự xử lý cao cả, nhân đạo của Hồ Chủ tịch, của

Đảng, Chính phủ và quân đội. Đội điều trị 8 tự hào đã đóng góp phần cuối cho sự trọn vẹn của

chiến thắng."

Nhật ký một người lính ĐBP:

"

Đại tá Nguyễn Minh Sơn, nguyên cán bộ đại đoàn 312 trao cho tôi một cuốn nhật ký anh ghi

những ngày tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ những chi tiết đã ghi, xin gửi tới bạn đọc bài

báo viết về suy nghĩ và việc làm của anh trong những ngày chiến đấu gian khổ, ác liệt và quả

cảm.

Tôi ở đội điều trị về, đơn vị đã lên đường chiến dịch. Tôi vội đuổi theo, đến nơi đúng vào lúc đại

đoàn 312 đang kéo quân ra(!). Hầu như tất cả cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn tôi đều nói “không hiểu

được!”. Dân công tải đạn vào cũng phải gánh ra đông lắm. Bộ đội còn giữ miệng chứ dân thì nói

tùm lum: “Can cớ gì mà các anh kéo pháo vào rồi lại kéo ra?... Cứ thập thà thập thò bị nó đánh

thêm khổ dân...”. Tôi cũng đã được trung đoàn phổ biến nhiệm vụ kế hoạch, song chẳng sao giải

thích được. Anh Đàm Quang Trung, Đại đoàn phó đại đoàn 312 đi kiểm tra đơn vị lui quân. Vốn

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

quen anh từ hồi giải phóng quân Việt Bắc, tôi mạnh miệng hỏi: “Mất 9 ngày đêm kéo pháo, có

người đã hy sinh mới vào được trận địa. Sắp đánh sao lại kéo ra? Định thôi trận này à?”. Anh

Quang Trung không tỏ vẻ khó chịu, với giọng xuề xòa của người Tày: “Trên nó bảo kéo ra thì kéo

mà”. Tôi tròn mắt: “Nhưng sao phải ra chứ! Vừa ngồi mâm lại buông bát à?”. Quang Trung ghé

tai: “Ê mê thẩn mừ...! (Câu chửi thề của bà con dân tộc Tày có nghĩa là: “Húc nhanh thì chết”).

Quân ủy quyết định đổi phương châm đó”... À! Tôi hiểu là vẫn đánh. Thế thì được...

Các đại đoàn rút về vị trí tập kết, chỉ để trinh sát chốt lại bám địch. Các đơn vị khẩn trương chuẩn

bị mọi công việc theo sự chỉ đạo cụ thể của Bộ chỉ huy. Tất cả phải nằm lòng tư tưởng của Trung

ương Đảng “đánh chắc thắng”. Phương châm chiến dịch “đánh chắc, tiến chắc”. Chủ trương

hành động lúc này: “Đào hầm, vây lấn địch từng bước”. Một cuộc chiến thầm lặng áp sát tuyến

phòng ngự cản địch. Là cán bộ tiểu đoàn, tôi cũng như hai chiến sĩ suốt ngày đêm luân phiên

đào hào đắp công sự. Mặc kẻ địch cứ bắn cầm canh ràn rạt trên đầu. Một cuộc chiến kỳ lạ (!).

Ngày 13-3-1954, bắt đầu tấn công đợt một. 17 giờ 5 phút, pháo ta bắn như đổ lửa vào Him Lam,

phân khu trung tâm địch. Kho xăng nổ bùng, lửa bốc ngùn ngụt. 5 máy bay trúng đạn. Trận địa

pháo địch ở Mường Thanh tê liệt, hàng rào thép gai bị bộc phá quét sạch... Một giờ sau, ba mũi

xung kích các tiểu đoàn 130, 128, 11 vọt qua cửa mở. Quân địch bám công sự kiên cố phản

kích, ba trung đội tiến vào bị đổ gần nửa. Thê đội 2 liền vọt lên dập tắt các ụ súng ngầm...

Khoảng hai tiếng diệt xong Him Lam.

Đêm 14-3, tiến công cứ điểm Độc Lập. Trung đoàn 165 của đại đoàn 312 phối hợp với trung

đoàn 88 của đại đoàn 308 xuất kích từ hai hướng. Bốn đại đội sơn pháo và lựu pháo, hai đại đội

cối 120 bắn dồn dập 1 giờ 30 phút. Hầm chỉ huy địch bị trúng ngay loạt đạn đầu, quân địch chết

lặng. Chỉ ba giờ ta làm chủ hoàn toàn... Bộ chỉ huy phát lệnh đánh luôn Bản Kéo... Phân khu

trung tâm tập đoàn cho 8 xe tăng phản kích ứng cứu. Bị ĐKZ, mìn chống tăng của ta đánh cháy

một, hỏng một, chúng vội kéo nhau lui. Viên quan năm Pi-rốt uất quá, tự tử.

Máy bay ở Mường Thanh cất cánh lao tới oanh tạc, bị cao xạ hạ liền một chiếc. Các đội công

binh đánh bộc phá liên tục, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm (G.O.N.O). Máy bay

từ các sân bay kế cận hối hả đến ứng cứu bị ta hạ liên tiếp, trong 4 ngày rơi mười một chiếc

nữa.

Sau 5 ngày, kết thúc đợt tiến công thứ nhất. Quân ta củng cố lực lượng, phát triển trận địa hầm

hào. Ngày 30-3 mở đợt công kích thứ hai. Bộ chỉ huy chủ trương đánh đồng loạt các cứ điểm

trên dãy đồi phía đông G.O.N.O, chia cắt địch ra từng khúc, thít chặt vòng vây, khống chế địch

tiếp tế bằng máy bay.

Trời miền núi chóng tối, 17 giờ, đại đoàn 316 đánh chiếm đồi C1. Đại đoàn 312 diệt gọn tiểu

đoàn ngụy chiếm dãy đồi D. Đồi A1 là điểm cao trọng yếu. Địch chống cự quyết liệt, giành giật

từng công sự liên tục bốn ngày. Phân khu trung tâm tăng viện phản kích đồi C1, ta và địch mỗi

bên giữ một nửa đồi. Tôi bị cuốn theo trận đánh hơn một tuần không tắm rửa. Lúc này bám địch,

khắp người ngứa ran...

Cuộc chiến diễn biến quyết liệt, ta tổn thất nhiều (4.393 người thương vong, sư đoàn tôi hơn 200

người). Bộ chỉ huy chủ trương tạm dừng, đẩy mạnh phát triển trận địa bao vây bốn mặt, chia cắt

phân khu nam với phân khu trung tâm của G.O.N.O. Đại đoàn 308 xây trận địa phía tây, đại đoàn

312 phía bắc, đại đoàn 316 phía đông, đại đoàn 304 phía nam. Trung đoàn 57 lập trận địa “cánh

cung” cắt rời phân khu Hồng Cúm với trung tâm G.O.N.O...

Địch đã nhận biết kiểu đánh của ta. Máy bay thả đèn dù suốt đêm, thả bom, rải mìn, bắn pháo dữ

dội... Ta bị thương nhiều, nhưng chẳng ai sợ, vẫn đào hào tiến lên. Đến giữa tháng 4-1954, đại

đoàn 304 thông báo đã cắt lìa phân khu nam với phân khu trung tâm địch... Tiếng reo mừng khắp

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

chiến hào. Vậy là kẻ địch sắp hết thở rồi. Phạm vi G.O.N.O chỉ còn 1.200m-1.300m mỗi chiều...

Bộ đội cao xạ chiếm lĩnh các công sự đánh hất máy bay địch lên cao, chúng thả dù tiếp tế phần

lớn lạc sang trận địa ta và rơi giữa vùng tranh chấp... Kẻ địch đói quá, cho quân mò mẫm kéo dù

hàng. Quân ta nảy ra cách bắn “bia sống”. Mặt trận thông báo biểu dương thiện xạ Lục Văn

Thông một ngày tiêu diệt 30 tên giặc, liền biến thành phong trào thi đua “bắn tỉa”. Lúc này đại

đoàn 308 bí mật đào hầm luồn qua hàng rào dây thép gai dày hơn 30m, áp sát lô cốt điểm trọng

yếu. Các đại đoàn liền áp dụng sáng kiến đánh lấn, chiếm được hầu hết các chốt phòng vệ nội vi

của giặc. Được thể, các tổ “bắn tỉa” bám sát, bất cứ lúc nào địch hơi ló ra liền tan sọ. Chúng kinh

hoàng đến nỗi không còn dám ra ngoài đại tiểu tiện. Có đứa vừa thò tay vứt bọc phân, lập tức bị

đạn phạt gẫy...

Ngày 25-4, một tốp lính ngụy trốn ra hàng, bộ đội ta cho ăn, nó khóc rưng rức, kể lại tình cảnh

đói khát không chịu nổi trong cứ điểm. Những “cái lưỡi” được đưa ngay về Bộ tham mưu.

Đảng ủy mặt trận họp cán bộ chỉ huy phổ biến tình hình: “...đế quốc Mỹ đã tăng viện trợ cho

Pháp gần 100 máy bay cường kích, 50 máy bay vận tải, Pháp lại mượn 27 máy bay C119 do Mỹ

lái chi viện cho G.O.N.O. Có ngày không quân Pháp huy động 250 lần chiếc ném bom chặn

đường, phá rừng... Vẫn không cắt nổi tuyến cung cấp của ta. Hàng trăm cường kích cũng không

đẩy lùi được mũi tiến công của bộ đội ta... Kho của Pháp đã cạn kiệt, phải mua dù và hàng của

Mỹ, Nhật tới 62.000 chiếc dù thả đồ tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm, mà quân lính chúng vẫn đói

khát, thiếu súng đạn... Thế lực kẻ địch đã sa sút nhiều. Ta quyết tâm “tổng công kích” tiêu diệt

toàn bộ địch ở Điện Biên Phủ. Chủ trương ngày 1-5-1954, bắt đầu tiến công đồng loạt các ngọn

đồi còn lại bao quanh G.O.N.O...”. Khắp chiến hào bùng lên tràng pháo tay.

Vừa sẩm tối, đại đoàn 316 nổ súng dồn dập diệt sạch đại đội ngụy binh đang chốt giữ nửa đồi

C1. Đại đoàn 312 diệt liền hai vị trí 505, 505B sườn đồi phía đông. Đại đoàn 308 diệt gọn vị trí

311A ở mặt tây tập đoàn. Trung đoàn 57 của đại đoàn 304 đánh lấn vào khu C đông bắc Hồng

Cúm... Địch hoảng loạn, đêm 3-5 trung đoàn 36, đại đoàn 308 thừa thế xông lên diệt cứ điểm

311B, cách sở chỉ huy Đờ Cát 300m.

Ngày 4-5, một tiểu đoàn dù nhảy xuống cứu viện cho G.O.N.O. Ta bắt được ba ngụy binh, chúng

đều khai: Tướng Na-va viện binh cho tập đoàn để tổ chức ba cánh phá vây chạy sang Lào.

Bộ chỉ huy ta liền tập trung tất cả đại bác, hỏa tiễn sáu nòng (Ca-chiu-sa) và súng cối nhất tề bắn

cấp tập vào khu trung tâm. Công binh cũng thông đường ngầm vào giữa đồi A1, nạp gần 1 tấn

TNT. Đêm 6-5, có hiệu lệnh tổng công kích! Lập tức trung đoàn 174 của đại đoàn 316 đánh thốc

vào đội quân dù lê dương. Trung đoàn 9 của đại đoàn 304 diệt ngay đồi C2. Trung đoàn 209 của

đại đoàn 312 tiêu diệt các cứ điểm 505, 506 phía đông cầu Mường Thanh. Trung đoàn 102 của

đại đoàn 308 diệt điểm 310 phía tây sở chỉ huy Đờ Cát.

Sáng 7-5, địch cố gắng phản kích, lập tức bị ta đập tan, bắt tù binh, chúng khai: Tối ngày 6-5,

tướng Đờ Cát dùng đài R-193 báo cáo Hà Nội: “Chúng tôi bị tràn ngập khắp nơi, 3 điểm tựa cuối

cùng phía đông Nậm Rốm cũng mất rồi...”. Hà Nội lệnh phải phản kích... Dù đến phút chót cũng

không kéo cờ trắng. Tướng Đờ Cát nói: “Xin lấy danh dự người hy sinh vì quân đội Pháp hứa với

tướng quân...”. Sáng nay, ông ấy miễn cưỡng lệnh cho đại đội chúng tôi phản kích...

Nắm được diễn biến tinh thần địch, Đảng ủy, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định chớp thời cơ đánh

chế áp ngay.

14 giờ ngày 7-5, trung đoàn 209 đánh thốc lên cứ điểm 507. Chúng vội kéo cờ trắng. Các mũi

tiến công của ta thọc mạnh vào trung tâm địch, lá cờ đỏ tiến như lốc... Những mảnh vải trắng nhô

lên khắp nơi.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

17 giờ 30 phút ngày 7-5, ta đã bắt gọn toàn bộ ban chỉ huy của G.O.N.O. Ngay đêm đó, đại đoàn

304 đánh thẳng vào phân khu Nam-Hồng Cúm, bắt sống toàn bộ quân địch. Trong trận cuối cùng

này, tôi bị thương, phải nằm liệt gần ba tháng."

Trên đồi Độc Lập

Đồi Độc Lập là cái tên do trinh sát đại đoàn 308 đặt cho. Sự thực thì cái đồi trọc, trơ trọi không

cây đó không có tên. Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20-11-1953. Sau đó ít lâu, chúng

xây dựng trung tâm đề kháng và đặt tên là Ga-bri-en (Gabriell), một cái tên con gái như hầu hết

tên các cứ điểm ở Điện Biên Phủ.

Chưa đầy một tháng sau khi địch nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ, trinh sát đại đoàn 308 đã

có mặt. Ngày 28-12-1953 “cô gái Ga-bri-en” lần đầu tiên đã nếm mùi thất bại.

Số là trong khi chuẩn bị chiến đấu, muốn có tin tức đầy đủ, trinh sát nhất thiết phải tìm cách bắt

cho được tù binh. Nhận thấy mấy lâu nay các tốp sĩ quan và binh lính địch thường ra khu đồi Độc

Lập nghiên cứu. Một kế hoạch bắt tù binh được thực hiện. Một toán do Kim Giao, đại đội trưởng

trinh sát trực tiếp chỉ huy, có tiểu đội trưởng Trần Mạnh Phấn trong tổ xung kích, đã chiếm lĩnh

trận địa phục kích ở một khu vực phía đông bắc Bản Kéo, sát đồi Độc Lập. Trời sáng rõ thì nghe

tiếng ô tô từ xa, rồi một toán địch xuất hiện từ từ đi bộ vào trận địa. Phấn thấy rõ một tên Pháp

cao lớn đeo lon “quan to”, cầm trong tay một chiếc cặp, vừa đi vừa chỉ trỏ. Linh tính của trinh sát

mách bảo anh rằng trong cặp phải có tài liệu quan trọng. Giao và Phấn liền quyết tâm đoạt chiếc

cặp đó. Chỉ một loạt tiểu liên chính xác như bắn tập, Phấn hạ gục tên quan Pháp. Trong khi các

trinh sát trong toán phục kích xả đạn hạ gục những tên khác thì Phấn được tổ xung kích yểm hộ

nhảy ra đoạt chiếc cặp. Cả toán rút lui êm lẹ, trong khi bọn Pháp bàng hoàng như bị quỷ thần

giáng xuống, chưa kịp phản ứng. Một vài loạt súng bộ binh lẻ tẻ và những loạt pháo nặng bắn

đến dồn dập trong khi ta đã về nơi an toàn. Trinh sát đại đoàn 308 vớ được món bở: viên quan

Pháp bị bắn chính là trung tá tham mưu trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tên là Guýt

(Guyth), bộ óc của Đờ Cát. Và trong chiếc cặp là những tài liệu mật của Điện Biên Phủ, trong đó

một sơ đồ bố phòng đầy đủ của tập đoàn cứ điểm và sơ đồ dự kiến riêng cho đồi Độc Lập với

một cái tên Gabrielle.

Với trinh sát thì không có chiến lợi phẩm nào quý hơn. Đồng chí Kim Giao và đồng chí Trần

Mạnh Phấn được thưởng huân chương Chiến công, những chiếc huân chương thuộc vào loại

đầu tiên ở Điện Biên Phủ. (Đồng chí Kim Giao hiện là đại tá về hưu ở Đống Đa, Hà Nội. Còn

đồng chí Trần Mạnh Phấn hy sinh ở Củ Chi trong thời kỳ đánh Mỹ).

Bản tin chiến trường

Vào những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5-1954, cuộc chiến đấu giữa ta và địch tại mặt trận Điện

Biên Phủ diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. Để kịp thời tuyên truyền các thành tích chiến đấu của

đơn vị, công tác thông tin, cổ động bằng nhiều hình thức diễn ra rất sôi nổi. Đặc biệt là thông tin

bằng báo chí. Nhưng giấy để in bản tin ngày càng hiếm. Các chiến sĩ làm công tác tuyên huấn đã

suy nghĩ tìm nguyên liệu để thay thế.

Cho đến ngày 25-4-1954, sân bay Mường Thanh đã bị bộ đội ta kiểm soát. Tập đoàn cứ điểm

địch bị chia cắt ra từng khúc. Phạm vi đóng quân của địch thu hẹp. Tất cả nguồn tiếp tế của địch

chỉ trông vào việc thả dù. Bộ đội cao xạ từ đầu chiến dịch đã hạ nhiều máy bay chiến đấu, trinh

sát, vận tải của địch, buộc địch phải bay cao, bay xa. Máy bay địch không dám hạ cánh xuống

sân bay, chúng phải thả dù tiếp tế người và hàng cho các cứ điểm đang bị ta bao vây, siết chặt.

Hầu hết dù hàng, dù người của địch rơi vào các trận địa của ta hoặc rơi ở vùng giáp ranh giữa ta

và địch. Bất cứ tên địch nào định mon men ra lấy dù đều bị các tay súng bắn tỉa rất thiện nghệ

tiêu diệt. Trong khi đó, chiến sĩ ta lại rất giỏi trong kỹ thuật đoạt dù của địch. Anh em dùng dù làm

rất nhiều dụng cụ phục vụ cuộc sống sinh hoạt, trong đó có cả sáng kiến dùng dù để in các bản

tin tuyên truyền trong đơn vị.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Đây là một bản tin của Đại đoàn công pháo 351. Nội dung bản tin rất ngắn gọn, súc tích. Nguyên

văn bản tin như sau:

“Sau đợt 1, Đoàn ta đã vinh dự được nhận lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” là giải thưởng luân

lưu của Đại đoàn. Bắt đầu từ 1-5-1954, chuyển sang đợt thi đua mới, đoàn ta lại tiếp tục gây

thêm những thành tích mới như sau:

Bắn tỉa

Mỗi ngày có 2 tổ hoạt động. Ngày 28-4 chỉ bắn bị thương 4 địch. Ngày 29-4 bắn chết 1, bị

thương 6. Ngày 30-4 bắn chết 3, bị thương 3. Ngày 1-5 tiến bộ vượt bậc, bắn chết 8, làm bị

thương 5 tên. Và đến ngày 2-5 tuy chỉ có 1 tổ cũng bắn chết 2, bị thương 3 tên. Như vậy trong 5

ngày ta đã sát thương 1 trung đội địch (33 tên).

Đêm 28-4, bộ phận đi lấy dù gặp địch đã linh hoạt diệt 1 tiểu đội. Đêm 1-5, bộ phận đi lấp hào

địch cũng linh hoạt đánh quân rút lui và diệt được 1 trung đội BEF, bắt sống 6 lê dương nhảy dù

và 1 ngụy binh.

Đoạt dù tiếp tế

Từ 26-4 đến 2-5, ta đã đoạt được 25 dù, 15 hòm đạn 81 ly, 22 hòm đạn trọng liên, 9 hòm đạn

patát, 336 đồ hộp, 16 bì gạo (100kg) 6 bao tải bánh mỳ, 4 hòm cá hộp, 1 bị bông băng, 3 vác bao

tải, 4 thùng ét-xăng, 3 hộp pin điện, 6 quả đạn đại bác.

Đánh đồn

Đêm 3-5-1954, ta đã đánh lấn và cướp thời cơ tiêu diệt 1 vị trí thuộc khu thả dù của địch, gồm có

1 đại đội Bắc Phi thuộc 1/4 BTM, bắt sống tên quan hai đại đội trưởng, 1 tên quản lý, 3 tên trung

đội trưởng và 79 cai đội binh lính Âu Phi, thu toàn bộ vũ khí trong đồn.

Phấn khởi trước những thắng lợi mới, chúng ta càng tin tưởng vào sự chỉ đạo sáng suốt của

trên, không chủ quan tự mãn, ra sức thi đua kiến thiết trận địa hoạt động nhỏ, lập thêm thành tích

để chào mừng Hội nghị Giơ-ne-vơ và báo công lên Hồ Chủ tịch.

Ngày 7-5-1954, bộ đội ta giành toàn thắng tại chiến trường Điện Biên Phủ. Sau ngày đại thắng,

nhân dân bản Hoong Lếch, xã Thanh Lương, huyện Điện Biên trở về bản cũ ở Mường Thanh.

Khi san lấp một đoạn giao thông hào để lấy đất canh tác, bà con đã nhặt được bản tin dù này

trong một chiến hào.

Bây giờ bản tin in trên vải dù đó được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam. Mặc dù

đã 50 năm nhưng mực in trên vải dù vẫn rõ với 2 màu đỏ, đen. Mỗi mảnh vải dù được xén thành

hình chữ nhật, có kích thước 22cmx28cm. Giờ đây, đọc lại bản tin, lòng chúng ta vẫn bồi hồi, xúc

động khi nhớ tới những chiến sĩ Điện Biên anh hùng năm xưa.

Tù binh ở ĐBP.

Tromg chiến dịch Điện Biên Phủ, đội quân viễn chinh Pháp có gần 2 vạn tên, tới khi kết thúc

chiến dịch, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ số quân này. Có lẽ, đây là trận duy

nhất ở châu Á đã bắt sống được một đội quân viễn chinh phương Tây đông tới như thế.

Ngày 7-5-1954, ở Điện Biên Phủ, quân Pháp đầu hàng. Ngay trong đêm hôm đó, tướng Đờ Cát

cùng bộ tham mưu của hắn đã được giải ngay về gần Sở chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến dịch. Một

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

cán bộ pháo binh của ta gặp Đờ Cát ngay ở chân đồi đặt hỏa tiễn H6. Hắn đứng ở một chỗ ven

đường, dáng điệu bình thường, không có biểu hiện gì lo sợ. Hắn chỉ vào khẩu pháo và hỏi có

phải đây là Ca-chu-xa của Nga không? Cán bộ pháo binh ta trả lời “đúng”. Hắn đáp lễ bằng câu:

Cám ơn ngài. Còn số tù binh bắt được, ta lần lượt phân loại thành từng nhóm nhỏ 50 người và

bắt đầu giải họ về những căn cứ an toàn phía sông Đà và tỉnh Thanh Hóa. Quãng đường từ Điện

Biên Phủ về Thanh Hóa dài tới 500-600km, thời tiết khắc nghiệt, nhưng ta đối xử với tù nhân rất

nhân đạo, những người ốm được chúng ta điều trị, những người bị thương ta cứu chữa và có

người được trao trả ngay cho Pháp, những lính ngụy người Việt được giáo dục và cho về địa

phương. Ông Howard R.Simpson-phóng viên của Mỹ cũng viết trong sách của mình rằng một số

tù binh chiến tranh khi trở về cho biết họ phải ăn uống rất kham khổ, đó là sự thật, nhưng khi

nhìn lại thì thấy bộ đội Việt Nam ăn uống còn khổ hơn. Họ rất xúc động vì nước Việt Nam trong

điều kiện kháng chiến còn thiếu thốn như thế mà vẫn chăm sóc tù binh chu đáo, đối xử với họ rất

nhân đạo. Tuy nhiên, trên đường hành quân về các căn cứ không tránh khỏi bị hao hụt vì bom

đạn của Pháp giội xuống hằng ngày, bệnh tật thường xuyên hoành hành đặc biệt là sốt rét, bệnh

lỵ, thương hàn... Có người chạy trốn nhưng không được: “Bigeard, Bréchignac và 2 sĩ quan khác

đã cố bỏ trốn nhưng đều bị quân địa phương bắt lại. Schoendoerffer và Péraud quyết định thử

vận may trong khi đang trên đường chuyển tới trại. Họ cho biết chiếc xe tải Mô-lô-tô-va đi trong

đêm tối được vài giây thì tới một chỗ đường vòng và tiếp tục tiến theo ánh đèn pha của chiếc xe

tải. Sau một lúc căng thẳng và luồn lách, Péraud moi được con dao từ túi của Schoendoerffer và

cắt dây trói. Họ đợi tới chỗ tối rồi cùng nhau nhảy xuống và lao thẳng vào rừng. Sau đó bị lạc

nhau, Schoendoerffer rơi xuống một cái hố nước. Anh ta nghe thấy tiếng quát tháo của những

lính gác đang đuổi theo và nhìn thấy ánh sáng của những chiếc đèn pha. Khi một lính gác tiến

lại, anh ta lặn xuống nước, lính gác bước lên đầu của anh ta và phản ứng tự nhiên làm anh ta bị

lộ và bị đưa trở lại thùng xe. Còn Péraud thì mất tích từ đó” (theo tài liệu của phóng viên Mỹ

Howard R.Simpson).

Có người xuyên tạc sự thật, cho là Việt Nam đối xử tàn bạo với tù binh nhưng thực tế ngay cả

phóng viên Mỹ cũng thừa nhận rằng: “Mặc dù mọi tù binh gồm cả người Pháp đều phải chịu

những căng thẳng trong các trại nhưng thật bất ngờ vì không có trường hợp thô bạo vô cớ nào

được ghi chép lại” và “Việt Minh không có tôn chỉ võ sĩ đạo của người Nhật là coi tù binh như

những người bị ruồng bỏ, thà chết còn hơn sống”. Nhiều tù binh Pháp-nhất là người gốc châu

Phi, nhiều là An-giê-ri sau này có dịp sang thăm Việt Nam, họ đều bày tỏ lòng cảm ơn về sự đối

xử nhân đạo của Việt Nam, và nhờ cuộc chiến đấu thắng lợi của Việt Nam mà họ trở về nước

tham gia cuộc chiến đấu chống lại ách cai trị của thực dân Pháp.

Người Việt Nam luôn làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải đối xử nhân đạo với tù

binh vì người đó rồi cuối cùng cũng hiểu đất nước chúng ta. Điều đó có lợi cho họ và cho cả đất

nước chúng ta. Hơn nữa phải đối xử với con người làm thế nào để họ trở thành người tốt và tù

binh cũng vậy, nhất là ở các nước thuộc địa châu Phi. Ngày trước cha ông ta đánh thắng giặc,

còn cung cấp phương tiện cho họ trở về nước thì làm sao ngày nay ta lại có thể đối xử tàn bạo

với tù binh được. Trong 10 lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam có một điều ghi rõ:

“Không ngược đãi tù binh”.

Khi đi thăm tù binh Pháp ở biên giới, thấy một tên bị rét, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi áo khoác

cho hắn. Điều đó thể hiện truyền thống nhân ái và bao dung của con người Việt Nam.

Mình muốn biết về trung đoàn trưởng Hùng Sinh của trung đoàn thủ đô ở chiến dịch ĐBP quá,

ông Hùng Sinh sau đó làm gì, ở đâu, bây giờ ông vẫn mạnh khoẻ chứ. Hình ảnh đồng chí Hùng

Sinh cầm súng chiến đấu như một chiến sỹ bình thường trên đồi A1 rất hào hùng.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Không ảnh do bọn Pháp chụp Điện Biên Phủ

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Họ là những chiến binh vĩ đại nhất thế giới

Cuốn sách “Việt Nam, cuộc chiến tranh mười ngàn ngày”(1) của Mai-cơn Mắc-cờ-lia, do nhà xuất

bản Thêm Mê-thu-en, Mỹ, xuất bản năm 1991. Qua lời kể của các sĩ quan Pháp đã chỉ huy và

tham gia trận đánh lịch sử này, Mắc-cờ-lia đã dựng lại thật sống động các trận đánh ác liệt trong

55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ. Qua đây, chúng ta càng thấy rõ hơn lòng quyết tâm và chủ nghĩa

anh hùng cách mạng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặc biệt là các chiến sĩ bộ đội và

dân công đã đổ máu trên chiến trường để làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

6 giờ 30 phút ngày 20-11-1953, trong khi chiếc máy bay C.47 bay trinh sát lại lần cuối cùng khu

vực Điện Biên Phủ và những vùng phụ cận thì ở Hà Nội, cách Điện Biên Phủ 280km, một đoàn

máy bay vận tải C.47 đã sẵn sàng đưa tiểu đoàn dù thuộc địa thứ nhất lên Điện Biên Phủ. Điện

Biên Phủ nhìn từ trên cao trông giống như một chiếc chảo, với con đường hẹp dài gần 10km

chạy thẳng từ biên giới với nước Lào tới lòng chảo chính với chu vi 11km, xung quanh là các đồi

cao nhiều cây cối rậm rạp. Việt Minh gọi đó là chiếc chảo rang.

Thiếu tá, tiểu đoàn trưởng Mô-rít-xơ Bi-gia kể lại: “Chúng tôi được cấp trên cho biết là ở đó

không có quân Việt Minh. Nhưng chính xác là đã có hai đại đội. Một vài lính của tôi đã bị bắn

chết khi đang còn lơ lửng trên không trung, số khác thì bị đâm chết khi chạm đất. Cuộc chiến đấu

ác liệt kéo dài suốt cả ngày. 40 lính của tôi đã chết”.

Một tuần lễ sau, Đại tướng Na-va đích thân thị sát Điện Biên Phủ. Với 10.000 quân Pháp đồn trú

và 5.000 quân dự bị, Na-va cho rằng tình hình là “tuyệt vời”. Không còn có sự kháng cự nào của

Việt Minh. Mọi việc đều tiến triển theo kế hoạch. Na-va tin chắc là mình sẽ chiến thắng trong

cuộc chiến tranh này. Na-va nói:

“Tôi đã chọn giải pháp đóng quân trong trại kiên cố ở Điện Biên Phủ bởi thực trạng của quân đội

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

chúng tôi lúc đó thua kém hơn Việt Minh về lực lượng cơ động, do đó giải pháp này là giải pháp

duy nhất tỏ ra là hợp lý. Tôi vẫn tin rằng đây là giải pháp duy nhất hợp lý. Vì tập đoàn cứ điểm

với ưu thế tuyệt đối về không quân, quân Pháp có thể nống ra phá hủy các tuyến tiếp tế của Việt

Minh, buộc họ phải đánh và đàm phán theo bài bản đã chuẩn bị sẵn của đối phương”.

Trong khi đó, tướng Giáp đã ra lệnh thành lập hai đội quân, một đội dân công gồm 200.000 đàn

ông, đàn bà và thanh niên làm nhiệm vụ tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm và một đội quân

chính quy 50.000 người.

Quân Pháp đã sớm cảm nhận được sức ép của Việt Minh. Đại tá Pi-e Lăng-gle, chỉ huy trưởng

lực lượng không vận ở Điện Biên Phủ mô tả tình hình này: “Đến mùng 1 tháng giêng năm 1954,

mọi cuộc di chuyển ra vào Điện Biên Phủ đều không thể thực hiện được”. Bởi lẽ, như tướng Na-

va viết: “Khi chiếm Điện Biên Phủ, tôi chỉ tính phải đối mặt với hai sư đoàn, nhưng cuối cùng là

hai sư rưỡi, rồi ba... Cho tới ngày 20-12 tôi mới biết được rằng chúng tôi phải đương đầu với bốn

sư đoàn. Vào thời điểm đó đã quá muộn để rút khỏi Điện Biên Phủ, bởi một sư đoàn đối phương

đã ép sát tập đoàn cứ điểm và nếu tôi rút quân, tôi sẽ mất hết quân và đồ tiếp tế, nếu tôi phải bỏ

Điện Biên Phủ, thì chắc chắn là chúng tôi đã thua trong cuộc chiến tranh này”.

Trong khi đó, tướng Giáp đã tăng thêm quân để ngăn không cho quân Pháp rút chạy. Cho đến

thời điểm mà “tứ cường” (Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô) quyết định triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ về các

vấn đề trong chiến tranh lạnh, trong đó có vấn đề Đông Dương vào cuối tháng 4, thì tướng Giáp

chỉ còn không đầy mười tuần lễ để làm cho được “một chuyện đã rồi”. Na-va viết: “Việt Minh biết

rằng nếu bộ chỉ huy Pháp bị thất bại nghiêm trọng ở Điện Biên Phủ thì điều này sẽ cho phép họ,

về chính trị, giành chiến thắng trong chiến tranh”.

Vào lúc này, lực lượng của Pháp đã được tăng cường lên đến 15.000 người, một nửa là người

An-giê-ri, còn lại là người Việt Nam và lính viễn chinh người Pháp.

Ngày 4-3-1954, tướng Na-va tới thị sát Điện Biên Phủ lần cuối. Đến lúc này, người Pháp mới biết

tướng Giáp có trong tay đại bác, nhưng đánh giá thấp cỡ nòng và số lượng. Nhà sử học Giăng

La-cu-tu-rê lúc đó đang đi với bộ chỉ huy ở Hà Nội, khẳng định: “Thực tế là một lực lượng pháo

binh rất mạnh của tướng Giáp đã không được biết đến. Đó là các cỗ pháo của Trung Quốc và

Nga được bố trí theo cách để không thể phá hủy được. Tướng Giáp vào lúc này đã có được

tương quan lực lượng 3/1 về người và hỏa lực so với đối phương”.

Ngày 12-3-1954, Đại tá Đờ Cát triệu tập các sĩ quan cao cấp đến báo động về một tin tình báo

khẩn cấp là Việt Minh có thể sẽ bắt đầu tấn công vào 17 giờ ngày hôm sau. Các sĩ quan Pháp

đều cảm thấy yên tâm vì họ đã được cung cấp khá đầy đủ, có cả 49.000 chai rượu vang. Viện

trợ Mỹ lên đến 1.400 xe tăng (chỉ 10 chiếc được sử dụng ở Điện Biên Phủ), 340 máy bay, 350

tầu tuần tiễu, 240.000 băng đạn và 15 triệu viên đạn súng nhỏ. Chỉ có máy bay và đạn là có

nhiều tác dụng đối với Na-va. Na-va đã phải hy vọng ở lực lượng thua kém hơn về số lượng. Vì

chuyện tăng viện mà Na-va đã “nghĩ đến từ chức vài ba lần”. Na-va nói: “Tôi tin rằng tôi đã từ

chức nếu tôi bị từ chối thẳng thừng bất cứ một đề nghị tăng viện nào. Nhưng người ta luôn hứa

sẽ tăng viện, có thể là một phần, vào một ngày nhất định. Nhưng hai tháng sau đó mà quân tăng

viện vẫn không tới”.

Thời điểm tấn công của tướng Giáp theo dự đoán là 17 giờ ngày 13-3 đã đến, nhưng không có

gì xảy ra. Đại tá Lăng-gle nhớ lại: “Nhưng rồi, gần như là cùng một lúc, 200 khẩu pháo của tướng

Giáp đã nã không lúc nào ngớt vào khu trung tâm nằm trên cánh đồng bằng phẳng không một

vật che chắn trong một tam giác mỗi chiều 8km”. Loạt đạn đầu tiên đã giết chết viên chỉ huy pháo

binh của khu trung tâm. Lăng-gle được bổ nhiệm thay thế. Lăng-gle nhận ra rằng “pháo binh của

Pháp không thể xác định được vị trí các khẩu pháo của tướng Giáp thậm chí ngay cả khi chúng

đang nhả đạn”.

Trong những giờ đầu tiên, chỉ trên một quả đồi, 500 lính Pháp đã bỏ mạng. Vào lúc hoàng hôn,

cả một sư đoàn bộ binh Việt Minh đã xung phong lên cứ điểm Bê-a-tờ-ri-xơ (Him Lam), gần khu

trung tâm nhất. Tới nửa đêm, vị trí này đã trở thành một nấm mồ. Chỉ có 200 trong số 700 lính

đồn trú ở đây thoát chết. Viên chỉ huy pháo binh, đại tá Sác-lơ Pi-rốt đã tự sát bằng một quả lựu

đạn.

Trong các ngày tiếp theo, vào 15-3, hai cứ điểm khác là Ga-bờ-ri-en (Độc Lập) và An-na Ma-ri

(Bản Kéo) bị diệt và các đơn vị cảm tử của Việt Minh đã với tay tới cổ họng khu trung tâm là cứ

điểm Ê-li-an.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Ngày 16-3 tiểu đoàn dù của thiếu tá Bi-gia hết hạn phục vụ đã trở lại Hà Nội, chuẩn bị về Pháp

thì được lệnh trở lại Điện Biên Phủ. Bi-gia được cấp trên cho biết: “Mọi thứ ở Điện Biên Phủ

đang trở nên tồi tệ, không còn biết ai là người chỉ huy. Người ta có cảm tưởng là mọi thứ đã trở

nên hoàn toàn hỗn loạn”.

Ngày 30-3, Việt Minh chiếm cứ điểm Ê-li-an1(A1), đạn pháo làm cho máy bay không còn lên

xuống được sân bay trung tâm. Toàn bộ quân Pháp bị cô lập. Họ chỉ còn trông chờ vào dù tiếp tế

của không quân. Một địa ngục tồi tệ nhất đã mở ra, đặc biệt là đối với những người bị thương.

Từ ngày 1-4, tướng Giáp bắt đầu đợt tấn công thứ hai. Lực lượng chính của Pháp lúc này đã bị

bao vây ở cứ điểm Ê-li-an 4 (C2). Quân Pháp liên tục mất đất, nên cũng mất luôn cả nguồn tiếp

tế. Các máy bay vận tải C.47 đã phải thả dù từ độ cao trên tầm hỏa lực cao xạ, vì thế mà dù tiếp

tế rơi vào tay Việt Minh ngày càng nhiều. Quân Pháp đã phải bằng mọi giá chiếm lại Ê-li-an 1 về

phía đông và bãi thả hàng tiếp tế ở sân bay.

Một lần nữa, thiếu tá Bi-gia đã phải liều mạng phối hợp mở một cuộc phản kích. Bi-gia nói:

“Chúng tôi đã bắn ba đến bốn ngàn quả đạn pháo và toàn bộ đại bác, súng cối 120 ly ở Điện

Biên Phủ đều nhằm vào một vị trí. Binh lính của chúng tôi vọt lên khỏi chiến hào để tấn công,

nhưng Việt Minh cũng cố thủ. Có lẽ một nửa trong số họ đã bị giết, nhưng số còn lại đã chiến

đấu như những chiến binh vĩ đại”...“Họ đã chiến đấu giáp lá cà bằng dao găm. Sau một ngày

chiến đấu ác liệt, lính của tôi đã chiếm lại được Ê-li-an 1. Binh sĩ của tôi đã phải đào chiến hào

trên các xác chết. Mặt đất đầy xác chết, cả người Pháp và người Việt. Mùi xác chết bốc lên thật

kinh khủng”. Đại tá Lăng-gle còn cho biết: “Người chết được chôn cất ở bất cứ chỗ nào có thể,

nhưng từ giữa tháng 4 trở đi, không còn được chôn cất nữa”.

Những trận đánh đẫm máu hồi đầu tháng 4 đã làm cho mỗi bên tổn thất tới hai ngàn người.

Tướng Giáp đã cho ngừng cuộc tấn công và bố trí mười ngàn lính và dân công đào một hệ thống

giao thông hào dài gần 200km tới tận khu trung tâm.

Trong hầm quân y của Pháp, cảnh tượng thật rùng rợn. Dòi trắng từ các hố chôn người bò ra

khắp nơi, bâu đầy chân của thương binh. Thật khủng khiếp! Trên trời, máy bay phát hiện các

giao thông hào của tướng Giáp ngày càng dài ra.

Người Pháp đã sáng dần ra. Thiếu tá Bi-gia nói: “Tôi thấy lính của tôi biến mất hết người này đến

người khác. Tiểu đoàn 800 người nhảy dù cùng tôi chỉ còn lại 700, 600, 400, 300, rồi khoảng 180

và cuối cùng chỉ còn lại có 80 người sống sót”.

Chính phủ Pháp phong quân hàm cấp tướng cho Đờ Cát và thưởng cho mỗi người ở Điện Biên

Phủ một huân chương chiến tranh chữ thập. Theo Bi-gia: “Họ nghĩ là chúng tôi sẽ chết, cho nên

thưởng huân chương cho chúng tôi cũng chẳng hại gì”.

Ở Mỹ, “Chiến dịch con diều hâu” dùng 200 máy bay ở Phi-líp-pin để ném bom, có tính đến sử

dụng ba quả bom nguyên tử chiến thuật để cứu vãn tình thế cho quân Pháp đã được đệ trình lên

Quốc hội, nhưng đã bị các nghị sĩ kịch liệt bác bỏ. Thượng nghị sĩ trẻ Giôn F. Ken-nơ-đi tuyên

bố: “Không có sự trợ giúp quân sự nào của Hoa Kỳ ở Đông Dương có thể chinh phục được một

kẻ thù có mặt ở mọi nơi, đồng thời cũng không thấy được ở bất kỳ nơi nào, một kẻ được sự

đồng tình và ủng hộ công khai của nhân dân”.

Trận tấn công cuối cùng kéo dài hai ngày, từ đêm mùng 5, suốt ngày mùng 6 và kết thúc vào

sáng ngày 7 tháng 5. Các vị trí của quân Pháp lần lượt thất thủ. Thiếu tá Bi-gia nói: “Tất cả mọi

người đều kiệt sức, hoàn toàn bị kiệt sức. Chúng tôi biết không thể đi xa hơn được nữa. Không

còn đạn để bắn và binh lính cũng không còn ai có thể bắn được nữa. Bởi vậy khi Việt Minh tấn

công vào ngày 7-5 thì đó thực sự là dấu chấm hết”. Đại tá Lăng-gle khẳng định: “Vào lúc 1 giờ

chiều ngày 7-5, chỉ huy quân Pháp ở Hà Nội đã nhất trí cho tướng Đờ Cát và toàn bộ cơ quan

tham mưu ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng”. 5 giờ chiều, toàn bộ sĩ quan tập hợp để

đợi ở hầm chỉ huy. Ít phút sau, những người lính chiến thắng đã giẫm chân trên nóc hầm chỉ huy.

Một người đội mũ nỉ, lưỡi lê cắm đầu súng, ra lệnh: “Đi ra!” Đó là lúc 17giờ 50 phút ngày mùng 7-

5-1954.

8.000 người sống sót bắt đầu cuộc hành trình 60 ngày đêm về nhà tù của Việt Minh ở vùng châu

thổ sông Hồng, cách Điện Biên Phủ 500km.

Trong lịch sử cận đại đã có những trận bao vây dài hơn. Quân Anh bao vây To-bơ-rúc 241 ngày.

Quân Đức bao vây Xta-lin-grát 67 ngày. Người Mỹ bao vây Ba-ta-an 66 ngày. Nhưng thất bại của

người Pháp lớn hơn quy mô của trận đánh. Trong 55 ngày đêm, họ đã mất 3.000 người và một

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

con số tương đương ngần ấy người bị tàn tật vĩnh viễn. Nhưng nước Pháp còn mất cả Đông

Dương.

Thiếu tá Bi-gia, người đã có một thời làm thư ký và từng tham gia kháng chiến chống sự chiếm

đóng của phát xít Đức, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia

chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng Việt Minh(2)đã bày tỏ sự

kính trọng của mình đối với Việt Minh:

“Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua

tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ

các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn

đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành

những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ

50km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên

đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại lệ và họ

đã đánh bại được chúng ta”.

Anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ: Ngắm qua nòng ĐKZ diệt địch

Đồng chí Trần Đình Hùng sinh năm 1931, người dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Đồng, huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang, thành phần bần nông. Nhập ngũ tháng 7 năm 1950, khi được tuyên

dương Anh hùng là trung đội trưởng pháo ĐKZ thuộc trung đoàn 36, đại đoàn 308, đảng viên

Đảng Lao động Việt Nam.

Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo khổ, vào bộ đội, Trần Đình Hùng mới được học chữ.

Từ tháng 7 năm 1950 đến tháng 5 năm 1954, đồng chí đã tham gia tất cả các chiến dịch lớn của

đại đoàn 308 ở Bắc Bộ, luôn luôn cùng đồng đội phát huy truyền thống “Chân đồng vai sắt, đánh

giỏi bắn trúng” của bộ đội pháo binh, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, dù khó khăn ác liệt đến đâu

cũng kiên quyết bám giữ trận địa. Bản thân đồng chí đã có nhiều hành động rất dũng cảm, có tác

dụng động viên, khích lệ đơn vị hăng hái xông lên, giết giặc lập công.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẩu đội của Trần Đình Hùng làm nhiệm vụ phòng ngự đồi 106.

Địch tập trung một tiểu đoàn, có máy bay và đại bác yểm trợ, tiến công lên trận địa phòng ngự

của đơn vị (chỉ có một khẩu ĐKZ và một tiểu đội bộ binh gồm 20 đồng chí). Thấy lực lượng ta ít,

một số anh em lo ngại, đồng chí vừa động viên anh em củng cố công sự, vừa đi tìm trong các

hầm hào, lô cốt của địch, nhặt được 40 quả lựu đạn đem về phân phát thêm cho khẩu đội. Đồng

chí vui vẻ nói: “Hỏa lực tăng cường đây, khi nào bắn hết đạn, ta dùng lựu đạn này kiên quyết

đánh đến cùng”. Quyết tâm chiến đấu và hành động tích cực của đồng chí đã bước đầu củng cố

được tư tưởng đơn vị.

Bộ binh địch bắt đầu tiến lên, kính ngắm ĐKZ bị hỏng vì đạn pháo địch, đồng chí đã ngắm qua

nòng hô cho xạ thủ bắn. Ngay phát thứ nhất đã trúng đội hình địch. Chúng chết một số, vội dừng

lại. Sau một hồi nghe ngóng lại lổm ngổm bò lên. Lần này đồng chí chờ cho chúng đến thật gần

mới bắn, vừa sát thương được nhiều, vừa uy hiếp tinh thần địch. Cứ thế liên tiếp nhiều lần, bọn

địch xông lên, lần nào cũng bị pháo ĐKZ của khẩu đội đồng chí bắn trúng đội hình, buộc phải rút

lui ra xa. Biết không làm gì nổi, chúng gọi pháo bắn rất ác liệt vào trận địa khẩu đội. Anh em

thương vong hết, đồng chí đặt nòng pháo lên miệng chiến hào vẫn tiếp tục bắn. Kết quả trận địa

vẫn được giữ vững. Khẩu đội ĐKZ do đồng chí chỉ huy đã bắn diệt tại chỗ 40 tên địch, phá hủy

một súng cối 81mm.

Khi đánh vị trí 311B, chân súng ĐKZ bị hỏng, nòng súng do bắn nhiều đã nóng bỏng. Không

ngần ngại, Trần Đình Hùng lấy mảnh vải bạt dùng để bọc nòng súng ĐKZ, lót nòng súng vác lên

vai, bò lên bờ hào để đồng đội nạp đạn bắn, diệt nhiều hỏa điểm và binh lính địch, chi viện cho

xung kích phát triển thuận lợi. Lúc gần diệt xong đồn, đồng chí đang chuẩn bị ngắm bắn một hỏa

điểm thì bị thương vào đầu và cánh tay nhưng vẫn cố gắng chịu đựng, bắn diệt được hỏa điểm

địch, rồi mới chịu băng bó.

Ngoài tinh thần anh dũng chiến đấu, đồng chí Trần Đình Hùng còn là một cán bộ gương mẫu về

mọi mặt, luôn đi sâu, đi sát mọi việc, hết lòng thương yêu dìu dắt anh em, đồng chí. Trong công

tác cũng như trong chiến đấu, đồng chí luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho đồng đội lập công.

Đồng chí đã được tặng thưởng ba huân chương Chiến công (hai hạng hai, một hạng ba), bốn lần

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

được trung đoàn, đại đoàn khen và là chiến sĩ thi đua của đại đoàn. Ngày 7 tháng 5 năm 1956

đồng chí được Quốc hội tặng thưởng huân chương Quân công hạng 3 và danh hiệu Anh hùng

lực lượng vũ trang.ở chỉ huy của tôi, sao người nào mặt cũng đỏ gay, mắt quắc lên, trông rất

đáng sợ...

Máy bay Mỹ tiếp tế cho... Việt Minh

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam (1946-1954) toàn bộ lực lượng không quân vận tải của

Pháp đều là những máy bay do Mỹ chế tạo, chủ yếu là loại Đa-cô-ta C46, C47, C54 dùng để vận

chuyển, tiếp tế, thả dù và cũng có thể thả bom. Mãi đến tháng 5 năm 1953, khi tướng Na-va

được cử làm tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương mới có thêm... 5 chiếc Pac-ket C119,

năm 1954 tăng lên 29 chiếc.

Theo đại tá không quân Pháp Mac Bec-tanh, thời kỳ Điện Biên Phủ là trung úy phi công lái Pac-

ket C119, viết trong cuốn hồi ký nhan đề “Máy bay Pac-ket trên vùng trời Điện Biên Phủ”, Pac-ket

C119 là loại vận tải đường không hiện đại nhất và đắc dụng nhất đối với Pháp hồi đó. Nếu mỗi

chiếc Đa-cô-ta chỉ chở được khoảng 2,5 tấn hàng hoặc 24 lính và 3 nhân viên tổ lái thì Pac-ket

chở được những 6 tấn hàng hoặc một tổ lái 5 người và 78 lính, gấp hơn 3 lần Đa-cô-ta. Hơn

nữa, khoang chứa của Pac-ket không chỉ to, cao, rộng, dài hơn Đa-cô-ta mà việc đưa hàng lên

hoặc thả hàng xuống đều tiến hành qua cửa mở phía đuôi, rất thuận tiện.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, để đưa xe tăng lên yểm trợ cho binh lính, mỗi chiếc xe tăng 18

tấn phải tháo rời thành từng mảnh, đưa lên bằng nhiều chuyến Đa-cô-ta, tới nơi mới lại lắp ráp

từng chiếc cho hoàn chỉnh, rất lâu công và phiền phức. Trong khi đó, Pac-ket có thể chở nguyên

vẹn một chiếc xe tải Doclge, hoặc một khẩu pháo nhỏ trong khoang. Tuy nhiên, máy bay Mỹ Pac-

ket C119 cũng gây ra tai họa không ít cho Pháp, đồng thời cũng “tiếp tế” cho Việt Minh một

lượng hàng không nhỏ. Dưới đây chỉ nêu vài thí dụ thuộc loại điển hình:

Ngày 21-12-1953, tức ngay sau khi vừa mới chiếm xong sân bay Mường Thanh, Pháp lập tức

đưa luôn một chiếc xe ủi đất nặng 7 tấn lên để sửa sang lại sân bay. Hai chiếc Pac-ket được cử

đi làm nhiệm vụ. Chiếc thứ nhất chở nguyên vẹn chiếc máy ủi. Chiếc thứ hai chở lưỡi xẻng xúc

đất nặng hơn một tấn. Vùng trời Điện Biên lúc này chưa có cao xạ Việt Minh. Chiếc Pac-ket đi

đầu bình tĩnh lượn vòng rồi thả chiếc máy ủi đã buộc sẵn vào 6 chiếc dù. Nhưng, một dây chằng

bị đứt, hệ thống dù không mở, chiếc xe ủi đất rơi xuống vỡ tan. Mác-tanh cho biết, đấy không

phải chỉ một lần máy bay Pac-ket Mỹ gặp “sự cố”. Nhiều lần sau đó, hệ thống chuyển hàng từ

trong khoang chứa ra phía đuôi máy bay đều gặp trục trặc kỹ thuật, có lần hàng bị tắc nghẽn

không thả được, đành phải đưa trở lại Cát Bi, sửa chữa thiết bị thả hàng rồi lại quay lên Điện

Biên.

Sau một số lần gặp rắc rối trong việc thả dù, nhân viên kỹ thuật Mỹ đưa ra sáng kiến, không buộc

các kiện hàng vào dù nữa, cứ việc thả nguyên si cho rơi tự do xuống đất. Dĩ nhiên, đây là những

mặt hàng không thể bị rơi vỡ như: cuộn dây thép gai, bao tải (để đựng đất, cát củng cố công sự),

chăn, đệm cho lính Pháp... Có lần, cả một bó dây thép gai to đùng, nặng gần 6 tấn, rơi... trúng

đầu, vỡ mặt gần một tiểu đội lính Pháp đang ngửa mặt lên trời xem máy bay Mỹ thả hàng! Lại có

lần, toàn bộ 6 tấn bao tải đựng gạo rơi sang... trận địa Việt Minh, cung cấp cho Việt Minh vật liệu

rất cần để vận chuyển gạo.

Từ tháng 3 năm 1954, Việt Minh bố trí lưới lửa phòng không cao xạ tại Điện Biên Phủ, buộc các

loại Pac-ket và Đa-cô-ta phải bay cao tránh đạn. Mỹ lại đưa ra sáng kiến: trang bị cho Pac-ket

loại dù có thiết bị “tự động mở dù theo chương trình đã ấn định sẵn”: nghĩa là máy bay cứ việc

bay tít trên cao vứt hàng xuống, cách đất khoảng 300 mét dù đỡ mới tự động mở, các kiện hàng

sẽ rơi chậm, tránh rơi vỡ và cũng tránh được tai nạn cho những người đứng dưới đất, trong khu

vực thả dù.

Nhưng, chiến dịch càng kéo dài, trận địa của Pháp càng bị “co lại như miếng da lừa trong truyện

cổ tích”. Sân bay Mường Thanh thường dùng làm bãi thả dù cũng bị thu hẹp, đường băng dài

hơn 1.160 mét bị phá hủy, cắt đứt, chỉ còn 300 mét. Những kiện hàng từ máy bay Pac-ket và Đa-

cô-ta thả xuống, rơi vãi lung tung. Cuốn “Nhật ký chiến sự” của Giăng Pu-giê ghi nhận: “Dù có

thiết bị mở dù tự động, vẫn có tới 50% kiện hàng rơi ngoài bãi thả”. Ngày 1-4, hơn một nửa số

hàng thả rơi ngoài vị trí. Ngày 6-4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm do Pac-ket thả xuống

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Điện Biên, lính Pháp chỉ thu được hai khẩu, số còn lại coi như làm quà cho Việt Minh. Ngày 9-4,

trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu được... 6 tấn. Ngày 13-4, máy bay C119 Mỹ “trút

toàn bộ số đạn pháo 105mm xuống trận địa Việt Minh, coi như tiếp tế đạn cho đối phương!”.

Ngày 18-4, hơn 30 tấn hàng “rơi lạc” sang trận địa Việt Minh. Ngày 27-4, “có tới 70% số dù hàng

rơi lạc mục tiêu”. Ngày 5-5, “hầu hết số hàng do C119 thả xuống đều rơi xuống trận địa Việt

Minh”...

Tính ra, các mặt hàng mà Pac-ket C119 và Đa-cô-ta C47 “tiếp tế không công” cho Việt Minh,

theo như cách nói mỉa mai chua chát của Pháp, gồm đủ loại: lương thực, thực phẩm (đồ hộp,

rượu mùi, nước ngọt), thuốc men, chăn đệm, súng đạn... “không sao thống kê hết”. Những thứ

này không chỉ “củng cố sức khỏe” cho Việt Minh mà còn “giúp Việt Minh” bắn lại quân Pháp.

Theo Guyn Roa, đại tá không quân Pháp tiết lộ trong cuốn “Trận Điện Biên Phủ”, riêng đội ngũ

máy bay Pac-ket Mỹ sử dụng trên vùng trời Mường Thanh là 29 chiếc thì 27 chiếc bị trúng đạn,

một số máy bay trở về chưa kịp hạ cánh xuống Cát Bi đã bị rơi.

Tờ “Quyết thắng” của trung đoàn 36, đại đoàn 308, in trên đá li-tô, phát hành ngay tại mặt trận,

số ra ngày 1-5-1954 có bài “Máy bay Mỹ tiếp tế cho ta đánh Tây”, kết luận bằng bốn câu thơ:

Trên mặt trận Điện Biên

Tây đoảng đủ mọi thứ

Riêng tiếp tế cho ta

Mỹ làm... thừa nhiệm vụ!

Người chiến sĩ thông tin dũng cảm trên đồi A1

Sáng sớm ngày 2-4-1954, trong lúc cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 102 đang cùng trung đoàn

trưởng chiến đấu trước khu vực cửa mở trên đồi A1 thì ở những nơi khác, từng nhóm cán bộ,

chiến sĩ riêng lẻ của trung đoàn vẫn tự động tổ chức chiến đấu. Họ lượm từng quả lựu đạn, từng

viên đạn tiếp tục bảo vệ các đường hào đã chiếm được và bảo vệ thương binh còn nằm xung

quanh.

Trong một căn hầm nhỏ ở phía đông bắc cứ điểm, chiến sĩ điện thanh Chu Văn Mùi đã hai ngày

liền không có một hột cơm vào bụng, vẫn tiếp tục chiến đấu với quân thù. Tổ điện thanh của anh

đã theo sát tiểu đoàn 18 vào tới góc cứ điểm này. Qua nhiều đợt tranh chấp ác liệt, tổ của anh đã

lọt vào giữa vòng vây của địch. Xung quanh anh là các chiến sĩ bị thương. Mùi đã cùng với tổ

viên Đức vừa cố giữ liên lạc với đại đoàn, vừa trực tiếp chiến đấu với địch, khi thì bằng súng

trường, khi bằng tiểu liên, lựu đạn đánh bật từng tốp địch để bảo vệ thương binh. Sau mấy lần

tiến công, bọn lính Pháp biết ở góc đồi này chỉ còn vài người nên quyết tâm diệt bằng được.

Nhưng chúng có biết đâu, Mùi đã có một “bảo bối” đặc biệt. Anh đã sử dụng chiếc máy bộ đàm

của mình một cách rất thành thạo để liên lạc với các trận địa pháo của quân ta. Mỗi khi thấy bọn

địch ào ạt kéo tới, anh lại gọi pháo bắn một chập. Cứ như thế, anh đã “chỉ huy” cả năm trận địa

pháo binh lớn nhỏ bắn nát không biết bao nhiêu toán quân địch tiến lên sườn đồi. Cả xe tăng

địch cũng bị pháo ta hủy diệt mấy chiếc ngay từ lúc chúng vừa chớm bò lên lưng chừng đồi phía

bờ sông Nậm Rốm.

Không phải Chu Văn Mùi đã dễ dàng “chỉ huy” các trận địa pháo bắn vào binh lính và xe tăng

địch. Khi trận đánh diễn ra gay gắt, mọi đường thông tin liên lạc, kể cả điện thanh, đều gián

đoạn. Trung đoàn 102 và cả Đại đoàn 308 đều không nắm được tình hình trên đồi A1 ra sao. Đột

nhiên, tại Sở chỉ huy đại đoàn, các máy thu phát đều nhận được một làn sóng từ A1 gọi về, yêu

cầu cho pháo bắn mạnh vào sườn tây nam cứ điểm. Đồng chí trưởng ban thông tin đại đoàn

nhận ra giọng nói của Chu Văn Mùi. Lúc đầu anh chưa tin ngay đó là người của mình và quyết

định kiểm tra lại. Anh hỏi:

- Có đúng Mùi không?

- Vâng! Chính là Mùi đây!

- Vậy Mùi đi với mũi nào?

- Mùi đi với mũi 18.

- Thủ trưởng của Mùi là ai?

- Là anh Nhượng.

Trưởng ban thông tin đại đoàn nghe tiếng nói nghẹn ngào từ máy bên kia:

- Anh Nhượng! Tôi đã nhận ra tiếng của anh rồi mà anh vẫn chưa nhận ra tôi ư? Hay là anh

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

không tin thằng Mùi này nữa? Anh Nhượng ơi, dù thịt nát xương tan, còn hơi thở cuối cùng thì

Mùi vẫn còn chiến đấu, quyết không để chúng bắt đâu. Mùi vẫn còn một quả lựu đạn trong túi

đây, nhất định chúng nó không thể đụng tới được!

Tới lúc ấy, cán bộ chỉ huy đại đoàn mới hoàn toàn tin rằng ở góc đồi kia vẫn còn quân ta và

những loạt đạn mà Mùi gọi bắn tới đã giáng cho quân địch những đòn kinh hoàng. Chu Văn Mùi

được công nhận là đảng viên chính thức ngay trong ngày hôm đó.

Đến trưa, Chu Văn Mùi nhận được lệnh mới: “Không ở góc đông bắc cứ điểm nữa. Trung đoàn

trưởng đã vào cứ điểm. Mùi cần phải đi tìm bằng được trung đoàn trưởng để bắt liên lạc với đại

đoàn”. Lúc ấy, Chu Văn Mùi đã quá đói, quá khát. Anh khoác chiếc máy lên vai mà thấy nó nặng

trĩu, chân bủn rủn không sao đứng lên được. Cổ họng khô cháy. Anh đi giải vào chiếc ca mang

theo rồi nhắm mắt uống liền mấy ngụm. Mấy phút sau, Mùi nhấc được máy lên. Anh chào các

đồng chí thương binh rồi bò dần ra phía cửa mở. Quanh quẩn mãi trên vùng đất trống, vượt qua

lưới lửa của địch, mấy lần ngất đi tỉnh lại, cuối cùng anh cũng tìm ra hầm chỉ huy của trung đoàn.

Đại đội trưởng Trọng Thành đang cầm tiểu liên cảnh giới trước căn hầm của trung đoàn trưởng,

chợt thấy một vật nặng rơi sau lưng. Anh quay lại thì thấy một chiến sĩ điện thanh người trắng

những bụi đất nhào tới. Trọng Thành vội đưa người chiến sĩ vào gặp trung đoàn trưởng. Trung

đoàn trưởng Hùng Sinh reo lên khi thấy lại người chiến sĩ thông tin anh đã gặp lúc đưa bộ đội

sang đánh đồi A1:

- À! Thì ra cậu! Tốt lắm! Máy vẫn làm việc được chứ?

Đang đói, đang khát lắm, nhưng Mùi vẫn ráng sức ném sợi dây ăng-ten lên nóc hầm và cho máy

chạy. Trung đoàn trưởng cầm lấy ống nghe. Từ xa, tiếng nói của Đại đoàn trưởng vang lên rành

rọt:

- Đồng chí Hùng Sinh đấy ư? Tình hình thế nào rồi?

Cuộc báo cáo và trao đổi ý kiến tiến hành mau lẹ và rõ ràng.

- Anh đề nghị những gì, anh Hùng Sinh?

- Báo cáo anh! Đề nghị của chúng tôi là: đại đoàn điều thêm quân, tối nay chúng tôi lại tiến công.

Vâng! Lại tiến công, tiến công nữa!

Khi kết thúc cuộc trao đổi ý kiến, Trung đoàn trưởng Hùng Sinh hỏi Đại đoàn trưởng:

- Đại đoàn đã thấy một tiểu đội trưởng liên lạc của chúng tôi về chưa? Tên đồng chí đó là Đức.

Đại đoàn trưởng đáp:

- Chưa thấy. Nhưng có thể đoàn cán bộ do Tham mưu trưởng trung đoàn 102 vừa được lệnh lên

A1 để tìm bắt liên lạc với anh đã gặp đồng chí đó ở dọc đường.

Đại đoàn trưởng đã không nhầm. Khi vọt qua cửa mở, Đức cứ thế cắm đầu chạy một mạch băng

qua tất cả mọi hào giao thông, bụi rậm, khe suối. Nửa đường, anh bỗng gặp một toán người xăm

xăm đi tới. Nhận ra đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn, anh kêu lên:

- Báo cáo! Có thư của Trung đoàn trưởng!

Rồi rút vội tờ giấy nhỏ trong túi áo ra, cũng vừa lúc mệt quá, anh lảo đảo ngã dưới chân Tham

mưu trưởng.

Thế là bằng điện của Chu Văn Mùi và bằng người đưa thư trực tiếp là Đức, trung đoàn đã nối lại

liên lạc với đại đoàn. Kế hoạch tác chiến do đó đã được thống nhất lại.

Những cứu giúp cuối cùng cho Điện Biên Phủ:Làm mưa nhân tạo

Rô-bớt Gien-ty là đại tá không quân, tiến sĩ khoa học phụ trách nhóm vật lý của ủy ban khoa học

Bộ quốc phòng Pháp, chính là người đã được giao nhiệm vụ tiến hành thử nghiệm “chiến tranh

khí tượng” làm mưa nhân tạo để “cứu nguy” cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954.

Rô-bớt Gien-ty kể lại:... Chiều ngày 14-3-1954, chiếc máy bay Armagnac FBAVH chở R. Gien-ty

hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất-Sài Gòn, được đón về văn phòng Tổng hành dinh của

tướng Na-va. Gien-ty hay tin, Na-va vừa bay ra Hà Nội vì có tình hình khẩn cấp: đêm 13-3 Việt

Minh đã bắt đầu cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tướng Găm-bi-ê, Tổng tham

mưu trưởng quân đội Pháp ở Đông Dương tiếp Gien-ty, lúc này Gien-ty mới biết lý do tại sao

mình lại được cử sang đây. Găm-bi-ê cho biết, từ đầu tháng 12-1953, Na-va đã tỏ lo ngại về tình

trạng “bấp bênh” của tập đoàn cứ điểm Điên Biên Phủ, và khi cần rút thì khó có khả năng di tản

được số quân đóng ở đấy vì điều kiện thời tiết xấu. Vì vậy, một việc tối quan trọng là phải ngăn

chặn được “một cách tuyệt đối” việc vận chuyển tiếp tế của Việt Minh cho quân của họ đang vây

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

hãm Điện Biên Phủ. Đành rằng bom đạn của không quân đã biến đường 41, con đường huyết

mạch của đối phương thành một “chuỗi liên tục những lòng chảo”, nhưng với khả năng khắc

phục phi thường của đối phương thì như thế vẫn chưa đủ, mà còn phải làm tràn ngập nước

những hố bom đạn ấy, biến thành những vũng lầy mà ngay cả người đi bộ cũng không thể vượt

qua nổi”. “Mà muốn thế thì cần phải có mưa thật nhiều”.

Chuyện làm mưa nhân tạo thì từ 1948, khi còn ở phòng khoa học của không quân, đại tá Gien-ty

đã có những nghiên cứu và hiểu biết nhất định nhưng mới trên lý thuyết, chưa có thực hành.

Song, trước yêu cầu cấp bách của tình hình, Gien-ty mạnh dạn nhận nhiệm vụ. Tuy nhiên việc

làm mưa nhân tạo không đơn giản, nhất là trong điều kiện thiếu phương tiện vật chất lúc bấy giờ.

Theo trình bày của Gien-ty thì “ở đâu không có nước đọng lại trong không trung thì ở đấy người

ta không thể gây được ra mưa”. Có nghĩa, muốn làm được ra mưa ở nơi nào đó thì ở đấy cần

phải có “mây tích mưa” chứa trong nó nước lỏng ở dạng chậm đông và trong điều kiện nhiệt độ

từ 0 độ đến âm 10 độ C. Trong những điều kiện ấy người ta có thể gây ra mưa bằng cách làm

ngưng lại trạng thái chậm đông của nước lỏng. Để làm được việc này, có thể dùng một số biện

pháp như: gây va đập cơ học hoặc nhiệt học, phun bụi nước, cấy những hạt hút ẩm, đặc biệt là

chất i-ô-đua bạc vào mây tích mưa. Dựa vào kết quả nghiên cứu trước đây của giáo sư Đét-

xăng, giám đốc đài thiên văn Clê-mông Phơ-ran (Pháp), Gien-ty chọn cách dùng i-ô-đua bạc.

Cách làm cụ thể là tẩm những miếng than củi vào trong một dung dịch nhão i-ô-đua bạc, đựng

nó vào những cái sọt lưới mắt cáo đan bằng dây thép, mỗi sọt hình ống cao chừng 50cm, đường

kính 20cm, nặng 50kg (kể cả trọng lượng 3kg than). Phần dưới sọt, xếp một lớp thanh gỗ chứa

một lượng đáng kể thuốc đen, nối ra ngoài một dây cháy chậm, đầu dây có hạt nổ phốt pho.

Than củi cháy sẽ tỏa khói tạo thành những hạt hút ẩm. Những sọt nói trên được buộc vào dù,

phần dưới sọt móc một túi cát 45kg, đáy túi cát thắt một sợi dây có thể tự đứt ra do tác động va

chạm khi mở dù. Cả bộ gồm dù, sọt, túi cát này khi được thả ra sẽ trôi nổi trong mây, lên xuống

theo luồng gió, phun đều những hạt hút ẩm vào mây.

Mặc dù có sự thúc giục của Na-va, “nếu chậm sau cuối tháng 4 sẽ vô nghĩa”, Gien-ty cũng buộc

phải đề nghị với Găm-bi-ê là cho trở về Pháp để chuẩn bị phương tiện và tiến hành thử nghiệm.

Chẳng còn cách nào khác, Găm-bi-ê trao đổi với Na-va qua điện thoại, phải đồng ý và ngay hôm

sau, 15-3 Gien-ty trở về Pháp. Sau khi đến gặp thủ trưởng của mình là tướng Béc-ghe-rông và

có trong tay công lệnh của Bộ quốc phòng, Gien-ty bắt tay ngay vào việc, tự xác định thời hạn

hoàn thành thử nghiệm là 15 ngày. Những ngày ấy là một chuỗi những cuộc tiếp xúc với các cơ

quan có trách nhiệm để yêu cầu, đề nghị, đặt hàng và bàn cách làm cụ thể. Mọi việc được tiến

hành khá trôi chảy. Giáo sư Đét-xăng nhận chuẩn bị cho 150kg than tẩm i-ô-đua bạc, công binh

xưởng nhận đan cho 50 sọt đựng than, gỗ, có dây cháy chậm và túi cát; trường đào tạo lính

nhảy dù ở Pô nhận cung cấp 50 dù... tất cả sẽ được giao cho Gien-ty trước 25-3. Nhưng vấn đề

mới nảy sinh là máy thở ô-xy cho đội bay. Cuối cùng, xưởng máy Brông-da-via và Un-mê nhận

làm cho Gien-ty. Sáng 26-3, Gien-ty đến trung tâm bay thử nghiệm Brê-ty-nhi, nơi ông định thử

nghiệm 2 trong số 52 bộ khí tài đã được chuyển đến đó, và giám đốc trung tâm là tướng Lu-i

Bông-tê đã cho mượn chiếc máy bay vận tải Nord-2500. Chiều hôm đó, khi thử trên mặt đất thấy

sọt được tưới nước (để làm độ ẩm trên không) vẫn cháy tốt, Gien-ty cho thử trên không. Ở độ

cao 400m, máy bay thả 3 chiếc dù qua cửa sau, kết quả “như ý”: dù mở, bộ khí tài có lắp dây

cháy chậm đã bắt cháy làm cháy than...

Ngày 2-4, người và phương tiện đã tập kết ở Tu-lu-dơ và ngày 5-4 Gien-ty cùng tổ công tác lên

đường sang Đông Dương, sáng 6-4 đã đến Tân Sơn Nhất-Sài Gòn. Gien-ty được đón về nhà ở

của đại tá Cô-bê là phụ tá của tướng Lô-din chỉ huy không quân Pháp ở Viễn Đông. Tại đây,

Gien-ty có cuộc họp với các trưởng phòng của Bộ chỉ huy không quân để trình bày nhiệm vụ của

mình và thảo luận về các điều kiện thực hiện. Dĩ nhiên vấn đề sử dụng loại máy bay nào đã

được đưa ra bàn bạc, sau khi cân nhắc Gien-ty chọn chiếc SO30P Bretagne là một máy bay vận

tải thuê của hãng hàng không tư nhân COSARA, khả năng bay cao 7.000m. Sáng hôm sau 7-4,

Gien-ty có mặt ở phi trường xem xét chiếc máy bay có hai động cơ, sải cánh 26,9m, dài 18,95m,

nặng 19.500kg với tải trọng 5.150kg, tốc độ 430km/giờ, số hành khách thông thường chở 43

người... Nhưng vì không phải là máy bay chuyên dụng nên Gien-ty thấy cần được sửa, cải tiến

lại cho phù hợp, nên ngay chiều hôm ấy dưới sự điều khiển của kỹ sư trưởng Vi-tuy-rô, các thợ

máy khẩn trương lắp thêm hai giá đỡ 8 bình ô-xy, làm thùng chứa 200lít nước, cải tiến lại hầm

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

chứa hàng thành khoang thả dù,... Và 18 giờ 15 phút Gien-ty được đưa đến gặp Tổng chỉ huy

Na-va. Gien-ty báo cáo và hứa với Na-va chiều 8-4 công việc chuẩn bị sẽ hoàn tất, để 9-4 tiến

hành thử nghiệm. Na-va nhấn mạnh, cần phải giữ đúng thời hạn ấy và chỉ thị cho Gien-ty ngày

10-4 phải có mặt ở Hà Nội để hôm sau có thể bắt đầu thực hiện kế hoạch. Chiều 9-4, sau một

cuộc thử nghiệm ở ngoài khơi Vũng Tàu, tiếp đến thử nghiệm trên vùng cao nguyên Đà Lạt. Tại

vùng trời tây bắc Liên Khương 25km, máy bay gặp tầng mây tích mưa ở dạng chậm đông. Để

vượt lên trên tầng mây, máy bay phải lên độ cao 5.600m, và với áp suất thấp ở đấy, có điều kiện

thử bình ô-xy. Kết quả hệ thống này vận hành tốt. Gien-ty cho thả hai bộ khí tài và những phút

sau đó, ông thấy đám mây bị đen lại, biến dạng, đỉnh mây bị xẹp xuống với tốc độ 1,7m/giây.

Viên đội Xuy-brê-vin nói, trong mây đã tích mưa, đã thấy nhiều cụm mây đen nhỏ hình thành.

Gien-ty nghĩ, có thể đó là mưa. Họ tiếp tục bay và thử lại lần nữa trên một đám mây tích mưa

cách Liên Khương chừng 20-30km về phía đông nam, và lần này cho thả 5 quả bom tuyết các-

bon-ních. Mây có tụ lại nhưng không gây ra hiện tượng gì đặc biệt. Sau mấy lần thử trở về, Gien-

ty và Vi-tuy-rô đi tới kết luận là so với việc dùng bom tuyết các-bon-ních thì phương pháp dùng i-

ô-đua bạc là ưu việt nhất.

Đúng thời hạn, ngày 10-4, Gien-ty cùng tổ công tác ra Hà Nội, chở theo 20 bộ khí tài và khoảng

30 quả bom tuyết các-bon-ních, hạ cánh ở Gia Lâm. Gien-ty được đưa về chỗ tướng Bô-đê, chỉ

huy phó quân viễn chinh Pháp. Tại đây, Gien-ty sửng sốt khi được Bô-đê cho biết, ông chỉ được

sử dụng chiếc SO30P đến hết ngày 14-4 (theo hợp đồng ký với hãng COSARA), nghĩa là trước

mắt chỉ có 3 ngày nữa để thực hiện nhiệm vụ được giao. Sau đó muốn làm tiếp thì người ta sẽ

điều cho chiếc máy bay khác. Thấy còn chưa muộn, Gien-ty tranh thủ đến bộ phận khí tượng của

Bộ chỉ huy không quân. Ở đấy dự báo: vào ngày 11-4, có thể trong khoảng từ 12-15 giờ sẽ có

giông bão và tích tụ nhiều mây ở vùng giữa Điện Biên Phủ và Sơn La. Thế là sáng 11-4, Gien-ty

cùng Vi-tuy-rô lại đến cơ quan này lần nữa, nhưng lần này được khuyên là nên đến “thử vận

may” ở vùng Yên Bái. 13 giờ máy bay cất cánh. 14 giờ họ phải vượt quá Yên Bái tới phía tây

Nghĩa Lộ mới gặp được những điều kiện tạm ưng ý. Máy bay lên độ cao 4.600m, nhiệt độ bên

ngoài là âm 2 độ C... Gien-ty cho thả hai bộ dù, không thấy mây đổi màu nhưng biến dạng rất

nhanh. Gặp một đám mây khác, Gien-ty cho thả những quả bom tuyết các-bon-ních. Bom có quả

không nổ và kết quả không có gì hơn lần thử trước. Máy bay trở về gặp một đám mây tích mưa,

Gien-ty cho thả tiếp 2 bộ dù. Giữa đám mây có đen đi và hiện tượng biến dạng vẫn xảy ra. 15

giờ 10 máy bay hạ cánh xuống Gia Lâm. Với kết quả 3 lần thử, Gien-ty kết luận “không thể tuyệt

đối chắc chắn là chúng tôi đã làm ra được mưa, nhưng dù sao khả năng đó cũng là có thể”.

Tối hôm sau, trong bữa cơm tướng Bô-đê chiêu đãi, Gien-ty báo cáo lại tình hình và cho rằng,

việc mây biến dạng và xẹp xuống với tốc độ giữa 1,5-1,7m/giây là đặc điểm chứng tỏ hiện tượng

có mưa, dù đó là mưa do hiện tượng tự nhiên hay do nhân tạo; hiện tượng đám mây bị đen cũng

là dấu hiệu của việc có mưa...

Tướng Bô-đê thấy những kết quả đó là “hoàn toàn đáng khích lệ”. 14 giờ 15 ngày 12-4, máy bay

cất cánh bay về hướng Sầm Nưa. 15 giờ 10, Gien-ty gặp một đám mây tích mưa. Lên độ cao

6.000m, nhiệt độ bên ngoài âm 4 độ C, Gien-ty cho thả hai bộ dù. Kết quả rất khả quan: giữa

đám mây, thấy đổ xuống những vệt mưa. 15 giờ 25 phút đến gần Xiêng Khoảng, ở độ cao

6.000m và nhiệt độ bên ngoài âm 7,5 độ C, máy bay lại tấn công một đám mây khác, giống lần

trước, mưa đã rơi...

Ngày 13-4, lúc 14 giờ, máy bay lại cất cánh về phía tây bắc Yên Bái, có đại tá Tram-mông là

Tham mưu trưởng của tướng Bô-đê đi cùng. Lần lượt vào 15 giờ 30, 15 giờ 40, 15 giờ 45 phút,

Gien-ty liên tiếp cho thả dù vào những đám mây, cả loại bom tuyết các-bon-ních lẫn việc phun

nước bỏ thêm đá làm lạnh, nhưng do nhiệt độ ngoài trời từ 7-8 độ C là quá cao nên kết quả thất

vọng: không một giọt mưa nào rơi...

Đến hôm ấy, việc làm mưa nhân tạo của đại tá Gien-ty để hỗ trợ cho quân Pháp đang bị bao vây

tiêu diệt ở Điện Biên Phủ cũng phải ngừng vì chiếc máy bay đi thuê đã đến hạn phải trả. Gần

trưa 14-4, Gien-ty đáp máy bay vào Sài Gòn... để chiều 17-4 trở về Pa-ri. Còn tập đoàn cứ điểm

Điện Biên Phủ cũng không có “cứu giúp” của Mỹ bằng việc mở chiến dịch Vautour (Chim kền

kền) dùng không quân ném bom rải thảm nữa, đã hoàn toàn thất thủ ngày 7-5-1954 ấy.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Chuyện trên đường phục vụ chiến dịch: Chị dân công và đôi bồ gánh gạo

Để có lực lượng vận chuyển hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm từ hậu phương ra mặt trận

Điện Biên Phủ, Tổng cục Hậu cần đã huy động một khối lượng lớn cả sức người, sức của và

phương tiện các loại của các địa phương như Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu Tây Bắc,

tỉnh Thanh Hóa.... Hàng đoàn xe đạp thồ nối đuôi nhau leo đèo, lội suối thay nhau vận chuyển

liên tục cả ngày lẫn đêm. Có nhiều chuyến xe của một dân công đã chở được trên dưới 350kg

hàng. Trong cả chiến dịch, theo tài liệu của Tổng cục Hậu cần đã có tới hơn hai vạn chiếc xe hai

bánh loại này tham gia phục vụ chiến đấu. Bên cạnh hình ảnh những phương tiện vận chuyển

lớn như ô tô, thuyền, mảng vận tải các cỡ, bóng dáng của các chị dân công với đôi bồ gánh trên

vai đã trở nên một hình tượng đặc biệt riêng của chiến dịch, và chỉ ở Việt Nam mới có.

Một câu chuyện có thật về nhiệm vụ này của chị Nguyễn Thị Xuân khi tham gia vận chuyển gạo

phục vụ tiền tuyến nghe rất vui và đáng khâm phục. Năm ấy chị mới 22 tuổi, quê ở thôn Ngô Xá,

xã Toàn Thắng, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Trong một chuyến gánh gạo phục vụ chiến dịch,

chị bị bom nổ chậm hất nhào xuống vực sâu. Rất may mắn lại vướng vào một gốc cây, chị đã kịp

túm chặt các rễ cây nên không bị văng xuống vực... nhưng thật không may, đôi bồ gánh gạo của

chị đã bị bay mất. Tuy toàn thân bị đau đớn, nhưng chị vẫn cố gắng hết sức để trèo ngược lên,

cứ bò được vài bước lại bị tụt xuống. Chị lần theo các mỏm đá bám vào các gốc cây, dây leo để

vượt lên khỏi vực sâu. Khi lên đến mặt đường lại nghe tiếng kêu, biết là chị em mình bị bom vùi,

quên cả đau đớn, mệt mỏi chị đã ra sức đào bới đất, cào sỏi đá... cứu được 7 người.

Vừa được thoát chết, nhưng chị Xuân đã nhớ ngay đến đôi bồ gạo của mình, nhìn xuống vực

sâu mà chị cứ tiếc ngơ tiếc ngẩn mãi. Biết chuyện này, mọi người trong đội dân công ai cũng

khen ngợi và cảm phục tinh thần phục vụ chiến dịch của chị. Chị động viên mọi người: Còn hạt

gạo nào chúng mình phải bảo vệ gạo hạt ấy để đem ra chiến trường... Với tinh thần yêu nước,

quyết tâm giành độc lập tự do, trong chiến dịch Trần Đình, chỉ riêng khu vực hậu cần tại chỗ đã

đưa được vào tận chiến hào cho chiến sĩ gần 55 tấn lương thực, thực phẩm bằng đôi bàn chân

con người.

Một nhà báo nước ngoài, khi nhận xét về thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ cũng không quá

lời khi nói: “Thắng lợi ở Điện Biên Phủ là thắng lợi của chiến tranh nhân dân mà cụ thể là cô dân

công Việt Nam với đôi bồ”. Có người còn cảm phục hơn mà thốt lên: Sau khi nghe giới thiệu về

chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ và được tận mắt xem những hiện vật trưng bày ở các

bảo tàng, tôi nghĩ rằng các bạn phải đắp một tượng đài về cô dân công với đôi bồ ở Điện Biên

Phủ....

Ba anh em chung một chiến hào

Họ là ba anh em ruột, lên đường nhập ngũ vào ba thời điểm khác nhau, ở ba đơn vị khác nhau

nhưng họ có vinh dự cùng tham gia chiến đấu trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Tuy nhiên

sau lễ duyệt binh mừng thắng lợi vào tháng 2-1955, họ mới biết được niềm tự hào, vinh dự to

lớn đó.

Ông cụ thân sinh tôi có ba người con, con cả là Lê Xuân Nhang, con thứ hai là Lê Ngọc An, còn

tôi là con trai út trong gia đình.

Anh cả tôi-Lê Xuân Nhang nhập ngũ cuối năm 1946, là lính trung đoàn 34, Quân khu 3. Khi ta

chuẩn bị đánh địch ở Điện Biên Phủ thì anh Xuân Nhang là lính đại đoàn 351. Anh Lê Ngọc An

nhập ngũ năm 1947, vào trung đoàn 36, đại đoàn 308. Còn tôi nhập ngũ tháng 9-1951, vào đại

đội 10, đại đoàn 304, làm quân báo. Đến tháng 2-1954, thì tôi chuyển sang đại đội 87, tiểu đoàn

353, trung đoàn 9 của đại đoàn.

Cuối tháng 3 năm 1954, khi đang tham gia đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ thì anh Ngọc An bị

một mảnh pháo địch hớt gọn một mảnh thịt ở bả vai phải. Anh được chuyển về chữa trị ở tuyến

sau, tại bệnh xá ở Tuyên Quang. Khi đó anh Ngọc An bất ngờ gặp anh Xuân Nhang, Phó chủ

nhiệm hậu cần của lữ đoàn 364, đang làm nhiệm vụ cung cấp khí tài, nhu yếu phẩm… cho lữ

đoàn chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Hai người anh trai của tôi khi đó vẫn chưa biết tôi cũng tham

gia đánh địch ở chiến dịch Điện Biên Phủ, trong đội hình tiểu đoàn 353 đại đoàn 304.

Trong suốt 55 ngày đêm của chiến dịch, vào lúc 20 giờ ngày 7-5-1954, tiểu đoàn chúng tôi tiến

vào làm chủ Hồng Cúm. Chúng tôi được liên hoan một bữa ra trò mừng thắng lợi. Bữa đó có thịt

hộp của Trung Quốc, thuốc lá của Bắc Triều Tiên (nay là CHDCND Triều Tiên)… Sau đó tiểu

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

đoàn nhận nhiệm vụ áp giải một trung đoàn lính Âu-Phi về Thanh Hóa. 17 giờ chiều ngày 19-5-

1954, tiểu đoàn triển khai nhiệm vụ đến đêm 27-6-1954 thì đến Thanh Hóa. Chưa kịp nghỉ ngơi

thì có lệnh báo động. Cấp trên phổ biến lệnh xuống tiểu đoàn: chỉ được mang một cơ số đạn, cứ

6 người mang 12 thước vải, hành quân gấp vào đường số 10, địa phận Ninh Bình với nhiệm vụ

chặn đánh, không cho quân Pháp rút từ thị xã Ninh Bình về Phát Diệm. 4 giờ 30 phút sáng ngày

29-6-1954, tiểu đoàn 353 chạm trán quân Pháp tại núi Trinh Nữ, huyện Gia Khánh (nay là huyện

Hoa Lư). Quân Pháp, trên không có máy bay bà già, trên đường bộ có xe bọc thép, dưới ruộng

có xe lội nước cùng lính bộ binh tấn công tiểu đoàn 353. Chúng tôi chưa kịp đào hầm đã dàn trận

đánh quân Pháp ngay. Cuộc chiến đấu diễn ra được khoảng hơn 4 giờ đồng hồ thì tôi bị thương

ở khuỷu tay trái, đứt gân tay, ngất đi lúc nào không hay… Tôi được chuyển về trạm quân y 32 ở

Thanh Hóa dưỡng thương.

Nói tiếp về anh Ngọc An gặp anh Xuân Nhang ở Tuyên Quang, trong thời gian điều trị vết

thương. Đến khi ra bệnh xá, anh Ngọc An chuyển về trung đoàn 88, vẫn thuộc đại đoàn 308, làm

nhiệm vụ bao vây chặn quân địch ở Mường Thanh, không cho quân Pháp rút chạy sang Lào.

Sau này khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, anh Xuân Nhang cùng đại đoàn 351 về Hà Nội,

đóng tại sân bay Bạch Mai, chờ ngày duyệt binh mừng thắng lợi. Anh Ngọc An cũng được tham

gia diễu binh mừng thắng lợi của quân và dân ta. Đơn vị anh khi đó đóng quân ở nhà máy diêm

Hà Nội.

Tuy vậy, cũng phải sau lễ duyệt binh vài ngày, tình cờ tôi mới được người thân báo tin cho biết

hai anh trai tôi đã về Hà Nội. Tôi gặp lại hai anh ở sân bay Bạch Mai, vào một ngày cuối tháng 2-

1955. Lúc này ba anh em mới biết ai cũng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây quả thực là

niềm tự hào của gia đình, dòng họ. Tính ra sau hơn 9 năm trời, ba anh em chúng tôi mới lại có

dịp ngồi bên nhau, ôn lại những kỷ niệm hào hùng tại chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đó không

chỉ riêng tôi mà cả ba anh em đều cảm thấy trong lòng lâng lâng một niềm hạnh phúc vô bờ bến.

Mỹ định dùng bom nguyên tử để cứu Pháp ở Điện Biên Phủ

Trong hồi ký “Thời điểm của những sự thật”, tướng Na-va có viết: “... Một sự lẫn lộn, rối rắm mới

đầu do một số nhà báo và sử gia tranh luận giữa hai sự việc khác nhau: Một bên là chiến dịch

“Chim kền kền” (Vautour)-một chiến dịch ném bom...; bên khác là một lời tặng mập mờ của ông

Phốt-xtơ Đa-lét cho ông Giooc Bi-đôn vào giữa tháng 4-1954 là “cho hai quả bom nguyên tử”...

Về việc Mỹ giúp Pháp mở chiến dịch “Chim kền kền” dùng không quân ném bom “rải thảm” để

chặn đường tiếp tế của Việt Minh, cứu nguy cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ, là một chiến dịch

đã được hai phía Pháp-Mỹ bàn bạc và nhất trí, nhưng cuối cùng như Na-va nói đã “sảy thai”

sớm-nên không diễn ra. Còn việc Mỹ định dùng bom nguyên tử ném xuống Lai Châu-vùng gần

biên giới Trung Quốc, để diệt “căn cứ hậu cần” và một phần binh lực cùng con đường tiếp tế của

Việt Minh nhằm cứu nguy cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ lúc đang “hấp hối”, thì ít người

biết rõ.

Chính ông Bi-đôn đã kể lại trong hồi ký “Từ cuộc chiến đấu này đến cuộc chiến đấu khác”, có

đoạn viết:

Đa-lét: “Và nếu tôi cho ông hai quả bom nguyên tử”.

Bi-đôn: “Tôi trả lời không phải nghĩ ngợi gì lắm. Nếu ném những quả bom ấy xuống khu vực Điện

Biên Phủ thì bên phòng ngự cũng phải chịu đựng như bên tấn công. Nếu đánh các đường giao

thông ở tận ngọn của nó là Trung Quốc thì có nguy cơ nổ ra chiến tranh lớn...”.

Na-va chê Bi-đôn: “Người ta chỉ còn biết ngạc nhiên về sự “nhẹ nhàng” khinh suất của ngài bộ

trưởng Pháp. Với cương vị của ông ta, ông có thể phản đối sử dụng bom nguyên tử về phương

diện chính trị và đạo lý. Nhưng ông lại duy nhất chỉ đặt những lý lẽ quân sự lên trên. Thế nhưng

những lý lẽ ấy lại không có một chút giá trị và chứng tỏ ông bộ trưởng Bộ ngoại giao mù tịt về

quân sự. Có một câu trả lời loại bỏ được tất cả các phản đối của ông: đó là việc tiêu diệt căn cứ

Tuần Giáo của đối phương. Căn cứ ấy, nơi mọi tiếp tế của đạo quân đang bao vây Điện Biên

Phủ phải phụ thuộc, là ở trên đất Việt Nam, do đó không có gì dẫn đến nguy cơ chiến tranh lớn

như ông Bi-đôn lo ngại. Khoảng cách của nó với Điện Biên Phủ cũng như hình thế địa hình cho

phép tiến hành ném bom, ngay cả bom nguyên tử, mà không gây nguy hiểm gì cho quân đồn trú

(quân Pháp) ở tập đoàn cứ điểm. Ông Bi-đôn từ chối dùng bom nguyên tử là hoàn toàn có thể

thông cảm được, nhưng với những lý do ông nêu lên thì nó lại tuyệt nhiên không thể hiểu

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

được...”.

Không chỉ “do một số nhà báo và sử gia” nêu ra tranh luận, không chỉ ông Bi-đôn thú nhận, mà

ngay trong hồ sơ tối mật của “nhóm tinh tú CIA” báo cáo lên các Tổng thống Mỹ, cũng nói về việc

Mỹ định dùng bom nguyên tử ném xuống Điện Biên Phủ. Gần đây, qua hàng nghìn trang tài liệu

mới được “thanh loại”, Vin-xen Giô-vớt đã khám phá ra “những kịch bản điên rồ” nhất của CIA

thời chiến tranh lạnh về việc sử dụng vũ khí hạt nhân, trong đó Mỹ không phải một lần mà đã

nhiều lần định dùng bom nguyên tử để hủy diệt Việt Nam, mà lần đầu tiên là định ném xuống

vùng biên giới phía bắc Việt Nam để cứu nguy cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ, như Bi-đôn đã

nhắc đến. V.Giô-vớt viết rõ: “... Người ta biết rằng, các vị tiên tri của CIA đã nhiều lần xem xét

hậu quả các vụ ném bom hạt nhân xuống châu Á... Vào năm 1954, Mỹ định ném bom hạt nhân

xuống Điện Biên Phủ để tiêu diệt lực lượng quân đội cộng sản đang đe dọa quân Pháp. Giooc-

giơ Bi-đôn, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thời đó đã nói: “Chính tổng thống (tức Ai-xen-

hao) đề nghị như vậy”. Trong hồ sơ tuyệt mật này còn nói rõ: “... Ngày 10-4-1954, Mỹ đã định

dùng hai quả bom nguyên tử để cứu vãn “sự sụp đổ hoàn toàn” của quân Pháp tại Điện Biên

Phủ...”.

Dù sao thì, như dư luận Pháp, và như ông P.Ru-an-nê đã nói sau khi đã ký Hiệp định Giơ-ne-vơ

rằng: Nó đã cứu được quân đội viễn chinh Pháp, đã không nghi ngờ gì tránh được cả một cuộc

chiến tranh nguyên tử nữa...

Chuyến xe đầu tiên chở đạn pháo vào chiến dịch

Chiều ngày 3-3-1954, tôi-Nguyễn Thọ Sơn có mặt ở Sở chỉ huy Cục vận tải tiền tuyến mặt trận

Điện Biên Phủ, để nhận nhiệm vụ. Đồng chí Cục trưởng Đinh Đức Thiện ra mệnh lệnh ngắn gọn:

“Đây là lần đầu trong kháng chiến ta dùng ô tô tiếp đạn vào trận địa pháo ngay giữa hỏa tuyến.

Nhiệm vụ hết sức quan trọng. Ngay đêm nay, chuyển xong chuyến đạn đầu tiên!”.

Lúc đó chúng tôi mới biết đây là chuyến xe chở đạn pháo đầu tiên vào chuẩn bị cho mở màn

chiến dịch. Tại bìa rừng, có ba chiếc ô tô đã được xếp đầy “hàng”. Khi trời tối dần, những sọt cây

ngụy trang mới bắt đầu được dọn đi, “mở” ra con đường cho xe ô tô lăn bánh. Tôi đi xe đầu là

chiếc Mô-tô-va, do đồng chí Nguyễn Văn Minh cầm lái. Tiếp sau là xe “đốt-cát” chiến lợi phẩm,

sau cùng là một xe Liên Xô chế tạo nữa. Khi xe đi qua những khu đất trống, anh chị em dân công

“ém sẵn” mới ra cuốc bờ, san đường cho xe đi. Xe vừa đi qua, phía sau lại được ngụy trang lại

ngay, không còn dấu vết, để che mắt máy bay trinh sát của địch. Cứ như thế, cho đến gần mờ

sáng hôm sau thì đoàn xe 3 chiếc tới địa điểm tập kết nhận đạn. Anh em pháo thủ cùng dân công

đợi sẵn, nhanh chóng ra chuyển đạn vào các công sự đã chuẩn bị trong khu rừng già...

Đến chiều ngày 13-3-1954, đứng ở khu rừng tiền phương Cục vận tải, chúng tôi reo lên sung

sướng khi nghe tiếng pháo của ta nổ lớn ở hướng Him Lam. Sau đó được tin trong trận mở màn

chiến dịch đánh vào Him Lam, pháo ta đã bắn trúng sở chỉ huy cụm căn cứ của địch, tên đồn

trưởng và đồn phó đều phải đền mạng... Không ai biết trong những viên đạn pháo bắn vào Him

Lam hôm mở màn chiến dịch có viên đạn nào thuộc những lô đạn trong chuyến đầu tiên đáng

nhớ mà chúng tôi chuyển tới cho anh em pháo binh không?

Sau chiến dịch, tôi được Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp Trần Đăng Ninh và Cục trưởng vận tải

Đinh Đức Thiện ngày 25-6-1954 ký tặng giấy khen về thành tích vận tải phục vụ chiến dịch Điện

Biên Phủ.

Sinh hoạt của bộ đội và dân công thời kỳ đầu chiến dịch

Gian khổ nhưng lạc quan

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, do đất nước ta còn nghèo, cuộc sống của nhân dân ta còn đói

khổ, nên sự chi viện, tiếp tế cho phía trước còn nhiều thiếu thốn, chưa đủ để chiến sĩ ta ăn no,

mặc ấm đánh giặc. Với niềm lạc quan phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, với truyền

thống khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ ta đã vượt qua muôn vàn gian

khó kể cả khi đói cơm thiếu muối, không một ai buông lơi nhiệm vụ. Sắn thay cơm, đắp chăn sui,

nhưng lời ca tiếng hát, câu hò đã làm ấm lòng chiến sĩ, giúp họ quên hết mệt nhọc gian nguy,

vững tin vào tương lai tươi sáng ngày mai.

Tiêu biểu cho sự khắc phục khó khăn ấy là các đơn vị chủ lực của bộ, các đoàn dân công ngày

đêm trực chiến tiếp đạn tải lương cho mặt trận. Nhiều câu chuyện cảm động để lại ấn tượng sâu

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

nặng trong tâm trí những thế hệ đi sau...

Xôi củ mài

Trong những ngày bộ đội ta vây lấn ở Điện Biên Phủ, bỗng dưng xuất hiện nhiều bếp ăn nhỏ của

các tiểu đội. Hỏi ra mới biết, các tiểu đội này nấu củ mài để cải thiện cho đơn vị mình. Sáng kiến

truyền lan làm nức lòng bộ đội. Bởi vì, việc tiếp tế gạo đang gặp rất nhiều khó khăn, ở nhiều đơn

vị chiến sĩ chỉ được cấp 2 đến 3 lạng gạo trong một ngày. Thật là của trời cho, ai chẳng mừng.

Từ sáng kiến này mỗi chiến sĩ được thêm một nắm củ mài to tướng tới 8-9 lạng. Ai nấy đều chén

căng rốn, phẳng dạ dày. Phởn chí bộ đội và dân công ta đặt ngay thơ:

“Tiền rừng bạc bể ai ơi

Có công đào đất, có xôi củ mài!”

Vừa đánh giặc, vừa đào củ mài, có đơn vị trong 10 ngày đã đào được 4,6 tấn. Một nguồn lương

thực không nhỏ, góp phần duy trì và cải thiện bữa ăn của bộ đội. Khắp các đường hầm vây lấn

của bộ đội ta từ đấy cứ truyền nhau câu hò:

“Thằng Pháp phải chết ai ơi

Vì ta vây lấn, có xôi củ mài!”.

Ngày 28-3-1954, một thời khắc bi hùng của chiến dịch

Tôi là Nguyễn Trương, 72 tuổi, nguyên đại tá hải quân, hiện gia đình ở 196 Thanh Vị, Sơn Lộc,

thị xã Sơn Tây, Hà Tây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ tôi là pháo thủ của Đại đội 78, Tiểu đoàn

387, Đại đoàn 308. Ngày nay, phiên hiệu tiểu đoàn không còn nữa và anh em trong đơn vị do hy

sinh trong hai cuộc chiến tranh hoặc do bệnh tật, tuổi cao sức yếu nay cũng chỉ còn khoảng 25-

30 người. Song cứ đến ngày 28-3 hàng năm là chúng tôi rủ nhau về tụ họp, để ôn lại truyền

thống, cũng là để thắp nén hương tưởng niệm các chiến sĩ của đại đội 78 thuộc tiểu đoàn 387 đã

hy sinh anh dũng trong trận đánh không cân sức ngày 28-3-1954, một thời khắc bi hùng của

Chiến dịch Điện Biên Phủ...

Tháng 1-1954 đang ở Khe Hồng Lếch, phía tây Mường Thanh, chúng tôi được lệnh theo các

trung đoàn 36 và 102 (Đại đoàn 308) tiến công địch ở phòng tuyến Nậm Hu trên đất bạn, để

ngăn không cho địch rút khi ta đánh vào Điện Biên. Đêm 30 Tết đón xuân Giáp Ngọ (1954) trên

đất Lào, vừa đói vừa rét. Đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ người thấp, nhỏ, khẩu súng ngắn sệ

bên hông, vai quàng ruột tượng gạo. Tuy mệt, nhưng lúc nào anh cũng tươi tỉnh, động viên

chúng tôi. Chính trị viên Ngô Hạnh Phúc quê ở miền Trung, thì luôn nhẹ nhàng khích lệ: “Sắp

đến Mường Khoa, Mường Sài rồi, hãy cố lên!”. Tôi vốn trước khi nhập ngũ học đến đệ tam

(tương đương lớp 7 bây giờ), hay làm ca dao hò vè, nghe đại đội trưởng và chính trị viên động

viên liền ứng khẩu luôn mấy câu hò, lập tức được cả đơn vị vừa hành quân vừa hò: “Ba mười

Tết nhớ Quang Trung (Hò lơ); Đuổi quân Thanh đến tận cùng (Ai đi hò lờ); Xuân Giáp Ngọ này

Ba linh tám (Hò lơ); Đánh giặc Tây khắp Hạ Lào (Ai hò lờ)... Thế rồi sau bao ngày đêm chúng tôi

đã qua Hòn Núi Lở tới được Mường Khoa, Mường Sài, đi đến đâu dân bản Lào cũng đón tiếp

thịnh tình, tiếp tế gạo, thịt, rau và đường đỏ gói trong lá chuối khô. Vừa vào đất Mường Sài (trong

lúc đó Trung đoàn 36 đã truy kích địch tới Luông Phra-băng), Đại đội trưởng Quỳ nhận được

lệnh mới của Đại đoàn trưởng: quay về nước ngay! Vậy là được tham gia trực tiếp chiến dịch

Điện Biên Phủ, anh em đều reo mừng. “Nhà thơ đại đội” là tôi, liền ứng khẩu luôn một bài: “Giúp

cho dân bạn bình yên/Đang vui chiến thắng lệnh trên gọi về/Mọi người vui sướng hả hê/Không

ngờ được về đánh trận Điện Biên...”.

Từ đầu tháng 3 trở đi, không quân địch rất lúng túng. Bay thấp để thả dù tiếp tế cho tập đoàn cứ

điểm đang bị gọng kìm ta thít chặt thì sợ pháo phòng không. Bay cao thả cầu âu, hầu hết súng

đạn, lương thực đều rơi vào trận địa ta. Trận địa phòng không của chúng tôi đã vào rất gần sân

bay Mường Thanh rồi.

Sáng 28-3. Trời còn sương mù, đại đội trưởng Quỳ cho anh em ăn cơm sớm hơn thường lệ, nói

là để sẵn sàng đánh địch. Bữa ăn vội vừa xong thì quả nhiên trọng pháo địch đã rền vang ở phía

trận địa đại đội 78 nhô cao nhất trong đội hình của tiểu đoàn. Mọi lần đại đội tôi chia làm 2 kíp,

thay nhau trực chiến. Khi đại đội trưởng trực thì kèm phó chính trị viên, còn chính trị viên trưởng

trực, kèm đại đội phó. Lần này không hiểu sao, cả hai cấp “trưởng” đều trực. Đại đội trưởng Quỳ

nhận định: Xem ra chúng sẽ đánh lớn; không loại trừ khả năng chúng đột phá được qua bộ binh

chốt ở trận địa tiền duyên rồi tràn vào đây; ta phải có cách tự bảo vệ mình. Anh em hoàn toàn

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

nhất trí. Thế là tất cả các nòng pháo 12ly7 bắn máy bay, giờ chúc xuống sẵn sàng nghênh đón

bộ binh và xe tăng địch.

Chừng 30 phút sau, tiếng chiến sĩ cảnh giới thét lên: “Địch đã tràn qua các trận địa chiến hào.

Chúng tới bãi cây chó đẻ trước trận địa ta ba trăm mét rồi!”. Chính trị viên Phúc liền hô to: “Chiến

đấu đến cùng! Xứng đáng là chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong anh hùng!”.

Lát sau, đã thấy bóng những tên lê dương Pháp thấp thoáng trong các lùm cây chó đẻ (về sau

mới biết trận đánh nống này, địch dùng 4 tiểu đoàn lính lê dương, 6 xe tăng do tên Bi-da phó tập

đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ huy. Một trận chiến đấu không cân sức, trong khi ta chỉ có lực

lượng trực chiến của đại đội phòng không 78). Trung đội 2 nổ súng trước. Đạn 12ly7 rời nòng

chát chúa. Tụi lê dương ngã hàng loạt. Toán địch thứ hai lao lên, rồi lại bị rụng, tên nào còn sống

sót liền chạy ngược về phía sau. Trận địa chợt im ắng trong ít phút. Bỗng ở cánh phải thấy lấp ló

lá cờ trắng, cùng tên lê dương râu ria xồm xoàm giơ tay vẫy vẫy ra hiệu xin hàng. Mấy pháo thủ

reo: “Thắng rồi!”. Nhưng đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ phán đoán rất nhanh, trao đổi với chính

trị viên Ngô Hạnh Phúc đứng bên cạnh, rồi anh nói to với mọi người: “Mới có mấy loạt đạn đã

hàng, sao mau thế? Đề phòng chúng trá hàng!”. Nhưng hơi muộn một chút, trung đội trưởng

Bàng cùng hai xạ thủ đã lộ mặt khỏi ụ pháo. Họ vừa đi được chừng mươi mét, tụi lê dương nổ

súng liền. May mà đạn chỉ sượt qua vai áo Bàng, anh chửi ầm lên và bắn yểm trợ cho hai xạ thủ

kịp rút về.

Lúc này địch bắt đầu trút đạn như mưa vào trận địa của đại đội 78. Khói lửa mịt mờ. Đại đội

trưởng Quỳ và chính trị viên Phúc vẫn cùng đứng nhô hẳn người khỏi miệng hào để quan sát và

chỉ huy anh em chiến đấu. Tiếng hai anh vang vang khắp trận địa. Bộ binh địch có xe tăng và

pháo yểm trợ, hò hét xông lên. Lửa đạn mỗi lúc dữ dội. Rồi đến trưa không nghe tiếng đại đội

trưởng nữa. Bỗng nghe tiếng chính trị viên gọi to: “Đồng chí Bàng lên thay đồng chí Quỳ chỉ huy

tiếp tục chiến đấu!”.

Anh em đều ứa nước mắt tiếc thương người đại đội trưởng thân yêu! Moóc-chi-ê địch vẫn bắn

dồn dập vào trận địa. Lại bỗng nghe “ối” một tiếng. Khói vừa tan, đã thấy đồng chí Bàng lảo đảo,

mặt đầy máu, nhưng anh vẫn đứng vững ở vị trí chỉ huy. Lát sau y tá Duyên chạy vụt qua hầm

súng trung đội 3. Duyên bảo: “Anh Bàng bị thương lần thứ ba rồi. Tôi đến băng cho anh”.

Địch vẫn rình rập mà chưa vào được trận địa. Nhưng cơ số đạn của đại đội 78 đã hết. Đường

dây điện thoại lại bị đứt. Các pháo thủ được lệnh sẵn sàng đánh giáp lá cà. Phải dùng đến búa,

xẻng, xà beng; cả cờ-lê, kìm, tuốc-nơ-vít, các thứ vốn để sửa chữa súng pháo. Mọi người cùng

một quyết tâm: Còn người, còn trận địa!

Khi địch chưa tràn được vào trận địa thì đến lượt chính trị viên Ngô Hạnh Phúc trúng đạn ngã

xuống. Trung đội trưởng Chu Mai lên thay.

Đến trưa. Thấy hỏa lực ta quá thưa thớt, núp sau hai xe tăng, bọn lính lê dương lại ào lên. Trận

quyết tử giáp lá cà bắt đầu. Những tên lê dương cao lớn kinh hoàng trước những con người nhỏ

bé, cực kỳ dũng mãnh lăn xả vào chúng. Có chiến sĩ với chiếc xẻng đã đánh gục mấy lính lê

dương rồi mới gục ngã, có chiến sĩ khi chết răng vẫn cắn vào cổ họng tên địch...

Hơn một giờ sau, bộ binh của Trung đoàn 88 ở phía sau vận động đến ứng cứu. Bọn địch bị

đánh bật ngay khỏi trận địa, để lại hàng chục xác và lính bị thương. Trung đoàn trưởng Nam Hà

lặng người nhìn khắp lượt trận địa pháo phòng không của đại đội 78 còn ngổn ngang lửa máu,

ứa nước mắt thốt lên: “Anh dũng quá!”.

Hôm đó tôi ở kíp nghỉ trực, đang phía bìa rừng. Nghe tiếng súng nổ ran hàng giờ liền ở trận địa,

anh em đều sốt ruột sốt gan. Đến xế chiều, thấy anh nuôi mang về còn nguyên cơm canh và

ném gánh cơm phịch xuống đất, nước mắt giàn giụa. Chúng tôi được lệnh mang ngay cáng

thương cùng tiểu đội trưởng Thế Anh ra trận địa. Tới nơi, trái tim ai cũng thắt lại khi thấy đại đội

trưởng Nguyễn Viết Quỳ còn đang đứng áp người vào thành công sự, đầu gục xuống, mảng máu

bết trên ngực. Chính trị viên Ngô Hạnh Phúc thì nằm trong hầm, đầu cuốn băng to xù, tay để lên

trán, vắt chân chữ ngũ như đang nằm ngủ. Chúng tôi không dám kéo chân kéo tay anh, nhẹ

nhàng đặt anh lên cáng, cứ để thế khiêng đi...

Trận đánh ngày 28-3 làm ta hy sinh hơn 100 người (Pháp phóng đại lên thành 300), Pháp chết

20 và bị thương 70. Trung đoàn chủ quan nên chỉ bố trí một trung đội bộ binh ở tiền duyên đại

đội cao xạ, số còn lại về hết hậu cứ nghỉ. Lại không cảnh giới cẩn thận nên khi địch tấn công bất

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

ngờ thì trận địa nhanh chóng bị tràn ngập. Mãi đến khi có báo động thì bộ binh mới ra phản kích,

đến chiều thì địch cũng rút và ta giành lại được trận địa.

Đúng là trong chiến tranh không được phép có sai lầm. Dù là nhỏ nhất....

Trận này ta còn có 1 bất lợi khác là đa số cán bộ chỉ huy đều đang đi họp ở phía sau, cho

nên ngay khi biết tin chạy về đơn vị thì lại không kịp chỉ huy phản công nữa. Vì thế phải

nói là phía ta cũng hơi bị thụ động...

Theo tài liệu bọn tây, mục tiêu của chúng nó ở đây là phá mấy khẩu cao xạ của ta rồi rút.

Cuối cùng chúng nó cũng phá được vài khẩu...

Che mắt địch bằng rơm rạ

Chiến dịch Điện Biên Phủ, cao xạ pháp 37 ly lần đầu tiên xuất trận. Việc kéo pháo vào kéo pháo

ra bằng sức người đã khó nhưng việc đào trận địa đưa pháo vào công sự rồi che giấu làm sao

để giữ được bí mật cho tới khi nổ súng còn khó hơn nhiều. Điện Biên Phủ là một cánh đồng

rộng, bằng phẳng; muốn phát huy được xạ giới, yểm trợ cho bộ binh, nhất thiết pháo phải được

bố trí giữa cánh đồng quang đãng. Lúc này là cuối năm âm lịch, đồng bào đã thu hoạch xong lúa

mùa, rơm rạ còn vứt ngổn ngang khắp nơi vì theo tập quán dân ở đây không dùng rơm rạ làm

chất đốt hoặc cho trâu bò ăn như ở dưới xuôi. Gặt xong lúa đập tại chỗ, gùi thóc về nhà phơi,

rơm rạ bỏ lại. Đến mùa sau, qua mưa nắng rơm rạ ải mục, cày bừa lấp lên biến thành một thứ

phân hữu cơ bón ruộng.

Làm cách gì che được máy bay địch quan sát từ trên trời và quân dưới mặt đất các vị trí gần đó

như Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo không phát hiện được trận địa ta trước giờ nổ súng? Ở giữa

cánh đồng Nà Lời này chúng tôi nghĩ, chỉ có thể lấy rơm rạ để ngụy trang. Trận địa 37 thường có

4 công sự ở 4 góc để bố trí pháo, mỗi hầm pháo sâu 1m, rộng chừng 25m2. Ở giữa trận địa là

sở chỉ huy đại đội gồm các hầm thông tin, trinh sát, máy đo xa và hầm của chỉ huy.

Đêm ngày N-3, tại nơi định đặt pháo, chúng tôi ôm những bó rạ xếp thành 4 đống lớn đặt ở 4 góc

và vài đống nhỏ ở giữa gần giống một trận địa thật để thăm dò địch. Ban ngày, theo dõi thấy máy

bay trinh sát kiểu L19 chúng tôi vẫn gọi là "Bà già" bay đến quần đảo, ngó nghiêng các đống rạ

rất kỹ rồi lại bay đi. Đêm N-2, chúng tôi vào đào trận địa đủ 4 công sự đặt pháo, các hầm của sở

chỉ huy đại đội xong lại ôm các bó rơm rạ chất đống lên đó và mọi việc đều làm xong trong đêm.

Ngày N-1, theo dõi thấy máy bay L19 cũng đến nghiêng ngó lượn vòng, hạ độ cao, giảm tốc độ

để tên phi công ngó đầu ra quan sát bằng mắt thường xuống các đống rạ. Không thấy có gì nghi

ngại, máy bay lại bỏ đi, không thấy nó chỉ điểm cho pháo ở Mường Thanh bắn ra hoặc gọi bọn

khu trục đến ném bom. Thế là ổn. Đêm N-1 chúng tôi dùng sức người kéo pháo từ bìa rừng vượt

gần 2 cây số vào đặt ở công sự đã đào sẵn từ đêm qua. Còn người thì tản ra các ngách hào đã

được chất rơm rạ lên nóc. 4 khẩu pháo hạ thấp nòng cũng phủ đầy những bó rạ lên trông hệt

như những đống rạ khác vứt rải rác ngoài cánh đồng. Ngày N (13-3-1954) khi sương mù đã tan

hết, các loại máy bay địch lại tới quần đảo ngó nghiêng nhưng không phát hiện được gì. Cả bọn

địch ở mấy vị trí gần đó dùng ống nhòm quan sát nhưng cũng chỉ thấy ở cánh đồng Nà Lời toàn

rạ là rạ. Chúng không sao biết được dưới một số đống rạ đó là những trận địa cao xạ của đối

phương. Suốt ngày hôm đó, các trận địa của ta vẫn giữ được bí mật tuyệt đối.

Đến 17 giờ 06 ngày 13-3-1954, pháo các cỡ của ta bắt đầu bắn vào Mường Thanh và đồi Him

Lam mở đầu cuộc tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Lúc này pháo cao xạ được

lệnh bỏ ngụy trang để nổ súng, yểm hộ cho bộ binh đánh chiếm Him Lam. Và ngày hôm sau 14-

3-1954, các đơn vị pháo cao xạ chúng tôi bố trí ở cánh đồng Nà Lời đã bắn rơi tại chỗ một máy

bay trinh sát L19 và hai máy bay khu trục Bi-ê-cát của địch. Đây là 3 máy bay đầu tiên của quân

Pháp bị bắn hạ tại chỗ ngay ngày thứ hai ở mặt trận Điện Biên Phủ.

Ra trận lần đầu

Ngày 13-3-1954 quân ta mở màn chiến dịch, tiến công tiêu diệt đồi Him Lam 1, tiền tiêu quan

trọng của phân khu 1 ở phía bắc của quân địch.

Cũng đêm hôm đó, tiểu đoàn 394 chúng tôi được lệnh kéo pháo vào chiến đấu, vượt đường 42

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

và vượt qua suối Thác Bay kéo qua bãi lầy men theo sườn núi Phu Pha Xông quanh co nhiều

dốc, vực thẳm, đường rất hẹp lại trơn lầy. Xe pháo cứ ì ạch, mỗi giờ không đi nổi 1km. Trời rất

tối nhưng sợ lộ không bật đèn. Chúng tôi có sáng kiến cử 2 đồng chí khoác tấm vải trắng đi hai

bên đầu xe làm tiêu. Phải hết sức thận trọng, nếu sơ suất một tý là tất cả lao xuống vực thẳm.

Một đêm đầy gian khổ, lo lắng 7-8 giờ sáng xe pháo còn cồng kềnh trên mặt ruộng bản Tâu.

Nguy hiểm rồi. Máy bay trinh sát của địch đã phát hiện được chúng tôi. Nó thả liền mấy quả đạn

khói báo có mục tiêu. Lập tức các cơ pháo từ đồi Độc Lập và Mường Thanh bắn ra tới tấp. Đạn

pháo nổ xung quanh chúng tôi. Đồng chí Tuyết, đại đội trưởng đại đội 829 động viên mọi người

hãy bình tĩnh, dũng cảm, đưa nhanh pháo vào trận địa.

Lúc này, một khẩu pháo, một xe đạn đang bị lửa bén cháy. Mặc dù đạn pháo địch nổ xung

quanh, mọi người nhảy lên xe phân tán hết các hòm đạn và dập lửa cứu xe pháo. Mấy đồng chí

bị thương nhưng vẫn không rời trận địa.

Tiểu đoàn chúng tôi chiếm lĩnh trận địa dưới làn bom đạn địch, kéo pháo vào sát đồi Độc Lập

400m, bảo vệ bộ binh ta tiến công tiêu diệt địch.

Trong 3 ngày đầu chiến dịch, quân ta đã đánh chiếm 3 cứ điểm quan trọng ở phía bắc: đồi Him

Lam, Độc Lập và Bản Kéo. Quân địch điên cuồng huy động hàng trăm máy bay các loại phối hợp

cùng các loại pháo đánh phá rất ác liệt vào các trận địa của tiểu đoàn 394. Chúng cho nhiều tốp

đến từ nhiều hướng ở độ cao nhiều tầng liên tục đánh phá. Cây cối xung quanh bị phạt sạch,

khói của bom đạn và bụi của đất cát làm tối lại cả vùng trời.

Trên trận địa của các đại đội, chiến sĩ ta vẫn vững vàng trên mâm pháo, rất kiên cường chiến

đấu với máy bay địch. Đạn pháo cao xạ của ta ở các hướng vun vút bay lên đan thành lưới lửa.

Mới có 3 ngày đầu pháo cao xạ của ta đã bắn rơi 4 máy bay địch trong đó có một chiếc B26 do

đại đội 827 bắn rơi. Phải chiến đấu liên tục, nòng pháo quá nóng, cháy hết lá ngụy trang và bị

giãn nở không kịp thay nòng dự bị. Các đồng chí nuôi quân dũng cảm đem cơm dưới làn bom

đạn pháo của địch tới từng khẩu đội đưa cho mỗi người một nắm cơm mà vẫn không kịp ăn.

Ngày 17-3-1954 các trận chiến đấu diễn ra quyết liệt nhất. Đại đội 827 của tiểu đoàn 394 bị trúng

hai quả bom vào trận địa, hỏng mất 2 khẩu pháo. Song, đau buồn hơn là đồng chí Dương Bá

Xanh, đại đội trưởng, đồng chí Bùi Văn Phú, đại đội phó và một số đồng chí khác bị hy sinh.

Toàn tiểu đoàn vô cùng thương nhớ, ai cũng ứa nước mắt, quyết tâm chiến đấu đến cùng, còn

một người, một viên đạn, một khẩu pháo cũng chiến đấu để trả thù cho đồng đội.

Bây giờ đã là cuối tháng 4-1954. Thời gian càng về cuối lại càng quyết liệt hơn. Thời tiết thay đổi

đã có mưa gió làm cản trở đến cuộc vận động chiến đấu. Các hầm hào đều có nước, chúng tôi

phải luôn cơ động kéo pháo di chuyển trận địa về phía Tây và tiến sát sân bay Mường Thanh

bảo vệ bộ binh ta phát triển vào sâu trung tâm, thít chặt vòng vây tiến công tiêu diệt địch.

Tiểu đoàn 394 chúng tôi hợp đồng chiến đấu cùng các đơn vị pháo binh và tiểu đoàn pháo cao

xạ 383 của anh Vũ Thanh Giang ở phía đông nam, tạo thành thế cánh cung khống chế vùng trời

Điện Biên, không cho chúng bay thấp bắn phá và thả dù như trước.

Không quân địch rất hoảng sợ lưới lửa của pháo cao xạ ta. Lúc này chúng đã bị bắn rơi gần 50

chiếc máy bay đủ các loại. Quân địch ở dưới mặt đất chỉ trông chờ vào sự tiếp tế của cầu hàng

không, giờ đây đã tuyệt vọng.

Quân Pháp đã thả xuống Điện Biên 30 ngàn chiếc dù, nhưng lọt vào tay bộ đội ta hơn 20 ngàn

chiếc. Trong đợt 2 của chiến dịch, các đơn vị pháo cao xạ các tiểu đoàn 394, 383 và 381 tham

gia chiến đấu bám sát bảo vệ bộ binh ta tiếp cận trong lòng chảo Điện Biên Phủ, liên tục bắn rơi

máy bay của địch, có ngày bắn rơi 3 chiếc liền.

Quân địch thất bại nặng nề cả ở hai mặt trận dưới mặt đất và trên không. Chúng cay cú điên

cuồng huy động mọi lực lượng của chiến trường Đông Dương lên đánh phá rất ác liệt suốt ngày

đêm để lấy lại tinh thần cho quân quan của chúng ở Điện Biên Phủ. Ngày 25-4-1954, quân địch

gần đến ngày tận số còn dã man ném bom giết hại 444 người đồng bào dân tộc thiểu số hầu hết

là người già, phụ nữ và trẻ em đang tập trung ở bản Noong Nhai. Bộ đội ta trên toàn mặt trận lại

càng căm thù quân giặc dã man, quyết tâm chiến đấu đến cùng tiêu diệt hết quân địch ở Điện

Biên Phủ để trả thù cho đồng bào và đồng đội.

Tiểu đoàn 394 pháo cao xạ không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, kiên cường chiến đấu suốt

56 ngày đêm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ các trận địa pháo binh đơn vị bạn và các đơn

vị bộ binh của ta, ngoan cường chiến đấu đã bắn rơi hơn 10 máy bay của địch. Đặc biệt là ngày

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

12-4-1954, đại đội 828 bắn đứt đôi chiếc pháo đài bay B24 đầu rơi cách thân 500m tại rừng Tông

Khao. Tiếp đó, ngày 18-4, đại đội 829 lại bắn rơi chiếc pháo đài bay B24 thứ hai của địch.

Ra trận lần đầu ở chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng pháo phòng không cao xạ của đoàn 367

đã bắn rơi 52 máy bay các loại và bắn bị thương hơn 100 chiếc khác của địch.

Anh hùng Phùng Văn Khầu kể lại trận đấu pháo trên đồi E

Cùng với những dãy núi phía đông sát đồi A1, đồi E, và những dãy núi phía Bắc và Đông Bắc

hình thành một cánh cung vây hãm địch ngay dưới chân đồi. Địch bắt đầu nhận ra "chiếc thòng

lọng thép" đã thít kề "cổ". Nhưng lực lượng của chúng lúc này, kể cả bản thân tập đoàn cứ điểm

và sự chi viện tiếp ứng của địch còn rất mạnh. Chúng điên cuồng tổ chức phản kích quyết liệt

trên các mũi, các hướng tiến công phía Đông và Bắc. Đây là giai đoạn ta và địch giành giật từng

tấc đất, từng đoạn hào, từng mỏm đồi.

Ở hướng Đông, trên đồi A1 địch có hệ thống lô cốt hầm ngầm kiên cố rất lợi hại, làm bàn đạp để

chuyển quân và vũ khí bí mật phản kích lại ta (hầm này sau ta phải dùng bộc phá hàng tấn mới

tiêu diệt được).

Ở hướng Đông Bắc dưới chân đồi E là trận địa pháo 4 khẩu "105" của địch, được tổ chức tăng

cường thành cụm hỏa lực mạnh. Từ đây chúng dùng hỏa lực chi viện cho các mũi phản kích,

bắn chặn các hướng tiến công của ta.

Phải tiêu diệt bằng được trận địa pháo lợi hại này, bảo vệ bằng được đồi E, đó là chỉ thị, là mệnh

lệnh của mặt trận, là quyết tâm của mỗi người, của đại đội pháo binh 755 chúng tôi. Khẩu đội

sơn pháo 75 do tôi làm khẩu đội trưởng đặt ngay trên đỉnh đồi E bắn thẳng xuống trận địa pháo

địch dưới chân đồi. Chúng cũng tập trung tìm cách tiêu diệt bằng được "đối phương". Hai bên

nhìn rõ nhau, ngắm thẳng nòng pháo bắn trực tiếp, vì cự ly cách nhau chỉ hơn 200 mét. Ta có lợi

thế ở trên cao, nhưng địch lại có trận địa được cấu trúc kiên cố từ trước. Và lợi hại hơn, chúng

còn có máy bay đánh phá dữ dội, kết hợp với xe tăng, bộ binh, từng đợt, từng đợt phản kích

quyết liệt, nhằm tiêu diệt trận địa pháo, chiếm lại đồi E, chặn đứng mũi tiến công của ta.

Để hạn chế thương vong và bảo vệ pháo chiến đấu, ta dùng nhiều bao cát xếp đầy, lấp kín cửa

hầm trận địa, chỉ để một lỗ đủ lọt nòng pháo đã nạp đạn và ngắm sẵn mục tiêu. Khi không bắn, lỗ

này cũng phải dùng bao cát chắn, để che kín phía trước. Đồng thời phải thay đổi "lỗ bắn" luôn,

để địch khó phát hiện. Khi chiến đấu cả khẩu đội phải hiệp đồng chặt chẽ, khi bắn để tránh địch

"phản pháo" phải thật nhanh chóng, chớp nhoáng lật bao cát che đầu nòng, giật cò bắn rồi lập

tức đậy bao cát lại.

Hơn 20 ngày đêm chiến đấu một mất, một còn với địch để bảo vệ đồi E, để chi viện cho bộ binh

và bộ đội đào hầm hào, đánh vây lấn, ba khẩu pháo của đại đội thì 2 bị hỏng, pháo thủ phần lớn

đã bị thương và hy sinh, chỉ còn lại khẩu đội tôi. Tiếp sau một trận đánh ác liệt kéo dài, cả khẩu

đội lại bị thương và hy sinh, chỉ còn lại mình tôi trong tình trạng, bị sức ép của bom, đạn nhiều

lần. Trận địa bị bom đạn vùi lấp. Phía trước là địch, phía sau máy bay và pháo binh của chúng

liên tục đánh phá con đường hào duy nhất nối trận địa đi qua thung lũng yên ngựa về hậu cứ,

ngăn chặn việc chi viện tiếp tế cho trận địa. Không có liên lạc, không thấy đơn vị bổ sung quân

số chiến đấu. Anh em thương binh, liệt sĩ cũng không chuyển được về tuyến sau. Đường dây

liên lạc bị cắt đứt cả với sở chỉ huy và các đơn vị bạn xung quanh.

Trước tình hình ấy, có giây phút tôi cũng hoang mang, lúng túng, nhưng rồi nhìn thấy đồng đội hy

sinh, và bất chợt tôi nghĩ tới tấm huân chương Chiến công và chiếc huy hiệu Bác Hồ gửi tặng

cho tôi trong đợt 1 chiến dịch, sau trận tiến công tiêu diệt cứ điểm đồi E, tôi bình tĩnh lại, thấy

mình có thêm nghị lực. Và rồi thực tế khắc nghiệt lúc bấy giờ buộc tôi phải nghĩ ngay tới điều chủ

yếu: hoặc là tiếp tục chiến đấu cho dù có phải hy sinh, hoặc là để địch tiêu diệt mình? Chính cái

giây phút "hiểm nghèo" ấy đã đưa tôi đến quyết định: "Một mình một pháo cũng đánh". Tôi nghĩ:

Nếu mình tiếp tục chiến đấu, địch sẽ không biết khẩu đội đã bị cô lập và chỉ có một người. Tôi

chăm sóc thương binh, đưa liệt sĩ vào ngách hầm bên trong, củng cố lại cửa hầm, xếp lại bao

cát, thử làm các thao tác bắn một mình, và làm thêm một vài "lỗ bắn" dự bị. Bây giờ còn có một

mình, tôi tự xác định "không được ngủ" và kiên trì "phục" theo dõi địch suốt ngày đêm không một

phút lơi lỏng. Hễ địch "sơ hở" hoặc bắn phá là tôi bắn tiêu diệt. Kết cục một mình một pháo, tôi

đã tiêu diệt hoàn toàn trận địa pháo "105" của địch, góp phần cùng đơn vị đánh tan các mũi phản

kích của chúng, tiến tới tổng công kích giải phóng Điện Biên".

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Mặt trời đã đứng bóng, anh hùng Phùng Văn Khầu ngừng kể. Nhiều người còn muốn hỏi, muốn

biết thêm về anh từ sau chiến thắng Điện Biên và gia đình anh hiện tại. Loạt mưa bóng mây qua

nhanh, hơi đất bốc lên càng nóng, mồ hôi từng giọt, từng giọt lăn tròn trên khuôn mặt hồng tươi

của anh. Anh xin để dịp khác, phần vì thời gian đã muộn, phần anh không muốn nói nhiều về

mình.

Cuộc đọ sức đầu tiên

Ngày 13-3-1954 chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn nhưng từ ngày 20-11-1953 đã có một đơn vị

nổ súng đánh ngay vào đội hình của quân Pháp khi chúng bắt đầu nhảy dù xuống cánh đồng

Mường Thanh. Đó là tiểu đoàn 910, thuộc trung đoàn 148 trực thuộc Quân khu Tây Bắc. Cụ thể

tiểu đoàn 910 có 4 đại đội, 3 đại đội bộ binh và 1 đại đội trợ chiến. Vị trí của các đại đội như sau:

Tiểu đoàn bộ và đại đội 220 ở bản Nông Pết, đại đội 221 ở bản Cò Mỵ, đại đội 225 và 634 ở bản

Hồng Lếch.

Sau nhiều lần thả biệt kích thăm dò lực lượng ta, ngày 20-11-1953 địch bắt đầu nhảy dù với đội

hình lớn xuống Điện Biên Phủ. Trong hai ngày 20, 21-11 địch đã thả xuống tới 4 tiểu đoàn.

Trước đó mấy ngày máy bay trinh sát của địch liên tục lượn vòng trên bầu trời Điện Biên. 8 giờ

sáng ngày 20-11, sau nhiều vòng lượn của máy bay trinh sát (moran) thì máy bay cường kích

(Hen-cát-Spít phai-Kingcobra) xuất hiện và oanh tạc trực tiếp xuống các bãi chuẩn bị nhảy dù.

Khoảng 10 giờ các toán máy bay Đakota, 3 chiếc một lừng lững bay vào và bắt đầu đổ quân

xuống. Dù của chúng chủ yếu là dù trắng, có một số dù hoa và một ít là dù đỏ. Khi đổ quân các

loại máy bay công kích vẫn tiếp tục oanh kích các khu vực xung quanh bãi nhảy dù, kể cả bắn

đạn giấy vào sát đội hình của chúng để uy hiếp quân ta. Khi máy bay trinh sát địch xuất hiện

nhiều, chỉ huy tiểu đoàn 910 phán đoán có nhiều khả năng địch nhảy dù nên đã lệnh cho các đại

đội di chuyển ra vị trí và nếu thấy quân nhảy dù thì tự động nổ súng đánh địch, không cần chờ

lệnh và cứ hướng địch mà đánh, lấy tiếng súng làm mệnh lệnh hiệp đồng. Như dự kiến khi các

cánh dù trắng đỏ của địch vừa bung ra, các mũi tiến công của ta cũng bắt đầu nổ súng, các loại

tiểu liên, trung liên, đại liên, súng trường đều bắn vào quân địch khi chúng còn đang lơ lửng trên

không. Bộ đội vừa bắn vừa vận động áp sát đánh các lực lượng đã tiếp đất, không cho chúng

sắp xếp, chấn chỉnh đội hình.

Các đại đội 221-220 đã nổ súng đánh địch đầu tiên và tiến công rất dũng mãnh. Đại đội 225 do

ngỡ ngàng lúc đầu nên vận động ra chậm một chút nhưng vẫn đánh được địch. Đại đội 634 (trợ

chiến) chậm hơn nên kết quả đánh địch khi chúng đang đổ quân có hạn chế nhưng khi chúng đã

tiếp đất thì đại liên, cối 82, ĐKZ 57 lại bắn rất tốt vào đội hình đứng chân chưa vững của chúng.

Trận đánh diễn ra quyết liệt từ khoảng 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Các loại hỏa lực từ trên

không và mặt đất của địch (của những bộ phận đã củng cố được đội hình) đều bắn dữ dội vào

các mũi tiến công của ta. Sau khi đánh địch còn lơ lửng trên không và mới tiếp đất, các đại đội

đã chuyển sang tiến công vào các tốp, các cụm quân địch đã gom được đội hình. Khoảng 4 giờ

chiều thì trận đánh kết thúc, bộ đội ta thu dọn chiến trường và lui quân về phía sau. Kết quả trận

đánh ta ước tính địch chết và bị thương khoảng 200 tên. Sau này các tài liệu của địch xác nhận

khoảng 300 tên.

Sau trận đánh này, tiểu đoàn 910 cùng với các đơn vị khác của trung đoàn 148 chuyển sang bao

vây, quấy rối, đánh tỉa, đánh lẻ quân địch.

Hai lần 174 đánh đồi A1, đường dây điện thoại liên lạc với sở chỉ huy đại đoàn 316 đều bị đứt,

lần đầu làm ta tấn công muộn 30 phút thương vong nhiều, cũng may mà lần sau giờ nổ súng đã

được phổ biến xuống trung đoàn.

Mình nghi ngờ rằng lúc đó hàng ngũ của ta bị cài gián điệp, ko phải vô tình mà hai lần đánh cứ

điểm A1 quan trọng nhất đều bị đứt dây điện thoại như thế

Nói chung, sách Tây về ĐBP thì em vẫn đánh giá cao E.Bergot với J.Pouget nhất. Có lẽ 2 lão

này từng trực tiếp dự trận nên viết vẫn chân thực hơn đám sử gia sau này. Điều đặc biệt là chính

2 lão lại ít viết về mấy cái "biển người" nhất

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

*****************************************************

Tiện đây, em xin trích 1 đoạn trong "ĐBP, 170 ngày đêm bị vây hãm - Erwan Bergot":

"...Mặt trời đã mọc từ từ. Ở sườn đồi phía Đông Elliane 2, trung sĩ Preignon vẫn tiếp tục chiến

đấu. Ông đã vứt bỏ khẩu 57 bị hết đạn, trở thành vật vô ích từ lâu....Nhưng súng trường kô thiếu,

cả súng Pháp lẫn súng do TQ chế tạo. Vấn đề là chọn đạn cho thích hợp với từng loại. Hơn nữa

Preignon còn có 1 số súng dự trữ. Ông đã nhặt được 1 khẩu AK-47 của 1 bộ đội bị thương, đang

hấp hối...." tr.383.

Đây là 1 trong những điều chưa biết về ĐBP (ít nhất là với em!).

Theo Lịch sử Sư đoàn 308 Quân tiên phong tập 2, thì Sư đoàn chủ lực giàu truyền thống nhất

của QDND cho đến đầu những năm 1960 mới được "thay thế vũ khí mới hàng loạt cho bộ

đội...làm tăng hoả lực chiến đấu...".

Vậy thì khẩu AK47 kia chắc là vô tình rơi ra từ 1 chiếc máy bay nào đấy của ông LX bay qua bay

lại trên bầu trời ĐBP xem đánh nhau???

Liệu có phải lỗi dịch hay lỗi sắp chữ kô ạ?

Để đánh đồi A-1, ta chỉ có 1 đường tấn công duy nhất từ chân đồi cháy lên. Cái này bọn

tây cũng biết hơn nữa A-1 là vị trí quan trọng số 1 trong hệ thống phòng thủ của ĐBP cho

nên bọn nó yểm trở pháo binh tối đa vào khu này cũng như khu ngay đằng sau để phá rối

đội hình xung kích của ta. Chính vì thế lần nào tấn công, đường dây điện thoại với tuyến

sau đều bị pháo cắt đứt hết, đơn vị tấn công thường phải tấn công một mình không có

yểm trợ trực tiếp của đại đoàn.

Em có nghe mấy cựu chiến binh kể lại rằng lúc này cách duy nhất để liên lạc giữa đơn vị

là những những người giao liên, mà giao liên là phải chạy thật nhanh dưới bom đạn địch

để kịp mang tin tức đến nơi. Chính vì thế mà phía giao liên hi sinh cũng rất là nhiều.

Thu nhặt dù ở Điện Biên

Trong suốt thời gian chiếm đóng, địch thả hàng vạn dù xuống Điện Biên Phủ. Sau khi cao xạ 37

ly của ta xuất hiện và trận địa bao vây của ta thít dần lại, máy bay địch buộc phải bay cao, việc

thả dù trở nên kém chính xác, dù bay tản mạn khắp nơi, một phần không nhỏ rơi vào khu vực

trận địa của ta.

Cả địch và ta đều tổ chức đi thu nhặt hàng tiếp tế thả dù xuống. Ở các đồn phía đông, việc tiếp tế

khó khăn nên địch đi thu các thùng rơi gần đồn, sau đến các dù ở xa hơn, tức gần về phía ta. Ta

tổ chức bắn tỉa để ngăn chặn chúng đi nhặt dù. Việc bắn tỉa rất hiệu quả, riêng tiểu đoàn tôi cũng

hạ được vài chục tên. Địch sợ không dám cho lính Tây đi làm việc này mà đẩy lao công người

Việt đi làm. Ta có bắn vào những người này không, đó là vấn đề phải suy tính vì đây là những

đồng bào của ta bị bắt giữ từ đồng bằng lên để phục vụ quân Pháp. Không bắn thì địch thu được

hàng.

Chúng tôi chủ trương bắn dọa để cảnh cáo làm cho đám lao công có cơ để không đi làm. Bẵng

đi được vài ngày, địch lại buộc lao công đi nhặt, chúng tôi cho tổ bắn tỉa vào các thùng tiếp tế kể

cả các thùng đã vác trên vai. Nhưng địch rất xảo quyệt, biết bộ đội ta không bắn đồng bào của

mình nên vẫn thúc lao công đi thu hàng. Chúng tôi không có cách nào khác là phải cho mấy tay

thiện xạ bắn bị thương vào chân một vài lao công mới chấm dứt được việc lao công bị đẩy ra lấy

hàng.

Về phía ta, chúng tôi rất tích cực đi thu nhặt dù để bổ sung tiếp tế cho ta. Ở gần trận địa ta thì

nhặt ban ngày, ở gần đồn địch thì lấy ban đêm. Ta cũng định thứ tự ưu tiên cho việc thu nhặt:

trước hết lấy các vũ khí đạn dược cần cho tác chiến như đạn pháo 105, đạn cối 81, 120 ly..., rồi

đến các thùng thực phẩm và nhu yếu phẩm khác.

Địch thả dù cả các loại bao cát để làm lô cốt và ụ súng; chiến sĩ ta phòng thủ trên đồi Cháy cạnh

đồi A1 cũng thu được vô số bao cát về đắp công sự của mình. Một lần tôi kiểm tra thấy một bao

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

có đề chữ “sucre” nghĩa là đường, tôi nói anh em lấy lưỡi lê chọc ra xem thì quả là đường trắng.

Suýt nữa thì bỏ phí của quý, thế là đơn vị có đường ăn dồi dào một thời gian!

Có thời gian giữa hai đợt chiến đấu, nước rửa cực kỳ khan hiếm, mặt mũi chân tay rất bẩn,

người hôi hám rất khó chịu; khi ăn cơm, phải xé vải dù bọc tay để cầm cơm nắm, đêm cũng phải

lấy vải dù lau chân trước khi ngủ. Giữa lúc khó khăn đó thì nhặt được một dù toàn cây nước đá,

thế là chia cho nhau, đập ra để rửa mặt mũi chân tay, thậm chí để tắm rửa. Sau đó mới pha

nước chanh, nước cam, cà phê đá.

Có lần chúng tôi thu được một dù toàn rau tươi: xà lách, húng Láng, hành tỏi, kinh giới, tía tô...

Thật thú vị khi cả tháng không được ăn rau xanh, nay được địch tiếp tế cho ăn thoải mái vài bữa

liền! Tôi vốn dân làng Mọc gần làng Láng (Hà Nội), khi ngồi thưởng thức món rau từ quê hương

mà thấy nhớ nhà đến thế và ước vọng toàn thắng trở về quê lại càng da diết.

Lần khác chúng tôi thu được một thùng toàn sách báo trong đó có một gói của vợ Đờ Cát gửi

cho chồng, gồm 2 tiểu thuyết và một phong thư. Tôi báo cáo lên trên, ít lâu sau có chỉ thị báo

bằng bộ đàm (radiophonie) cho Pháp bảo Đờ Cát cử người mang cờ trắng ra chân đồi chúng tôi

nhận. Quả nhiên chỉ sau một thời gian lính Pháp đã đến chỗ hẹn, thực hiện đúng quy định và

nhận được gói quà.

Cứu đồng bào bị máy bay Pháp tàn sát ở Noọng Nhai

Đêm về sáng, sương mù nặng hạt, trời lành lạnh, ở trận địa, bộ đội bắt đầu dậy chuẩn bị chiến

đấu. Trong bản Noọng Nhai, trẻ con và các ông bà già còn ngủ ngon, chỉ có những anh chàng gà

trống được thiên nhiên giao phó đua nhau cất tiếng gáy vang báo hiệu trời sắp sáng. Trên trời,

chiếc máy bay “bà già” của Pháp mò lên rất sớm, bay vo vo trong mây mù dọc đường 41, lượn

vòng tròn trên bầu trời bản Noọng Nhai và ở trên trận địa của ta. Liền sau đó, máy bay khu trục

của địch kéo đến. Từ xa vọng lại tiếng ù ù như tiếng cối xay lúa, rồi ào ào như cơn mưa rào bất

chợt đổ về, rồi ầm ầm như thác nước từ trên cao giội xuống, tiếp đến những tiếng rít xé trời

khủng khiếp, rung chuyển mặt đất.

Chúng thả liên tiếp hết đợt này đến đợt khác từng chùm bom nổ như sét đánh đùng đùng, đoàng

đoàng... đinh tai nhức óc. Dân bản chạy tán loạn la hét thất thanh, kêu khóc thảm thiết. Máy bay

của Pháp tiếp tục nã từng tràng dài súng máy vào ông bà già và trẻ con.

Ở trận địa, còi báo động rúc liên tục, chuông điện thoại réo leng keng hết đợt này đến đợt khác.

Các chiến sĩ đã vào vị trí chiến đấu bắn máy bay địch và ở tư thế sẵn sàng đánh bộ binh. Ở bản

Noọng Nhai, từng đám lửa đỏ quạch, màu da cam, bùng lên ngùn ngụt. Những đám khói đen

đặc cuồn cuộn vừa lan rộng vừa bốc lên cao như những đám mây, cơn giông ùn ùn phủ kín bản

Noọng Nhai. Tiếng súng cao xạ, súng máy trọng liên của ta bắn trả râm ran.

Được lệnh của tiểu đoàn, Trần Cửu phải ở lại trận địa chỉ huy một phần lực lượng sẵn sàng đánh

địch từ Hồng Cúm nống ra. Lê Sương cùng Đào Tuyên chỉ huy toàn bộ lực lượng còn lại phối

hợp với các đơn vị bạn cùng vào Noọng Nhai cứu dân. Một bộ phận do Lê Sương chỉ huy. Bộ

phận khác do Đào Tuyên. Mỗi bộ phận chia thành nhiều tốp nhỏ vượt qua các đám lửa lao vào

các ngôi nhà sàn đã đổ sập, úp sụp. Các chiến sĩ khiêng, cõng vác, dìu... những người bị thương

ra suối khô để băng bó cấp cứu, đưa những thi hài cháy đen hoặc những thi hài bị bom xé, máu

me đầm đìa ra dưới những lùm cây ven suối và phủ lên những mảnh vải dù trắng.

Sau một hồi nghe báo cáo tình hình cứu chữa, thương vong của chiến sĩ và bà con dân tộc, Trần

Cửu bình tĩnh nói lại nhận định và chỉ thị của trung đoàn:

- Hôm nay, rất ít khả năng địch nống ra, vì vậy mỗi đơn vị chỉ để lại một lực lượng nhỏ sẵn sàng

chiến đấu, còn tập trung lực lượng cứu đồng bào bản Noọng Nhai.

Trong một nhà sàn đổ ụp đang bốc cháy có tiếng trẻ em khóc thét. Trần Cửu, Đào Tuyên chạy

vòng quanh nhưng không tìm được cửa vào. Mái nhà lá cọ quá dày, không hy vọng dỡ mái mà

nhảy xuống được. Đầu nhà, một tấm phên cháy tung ra một khoảng trống nhỏ. Trần Cửu, Đào

Tuyên cùng chui vào đám khói dày đặc. Trần Cửu đạp chân chạm vào một người. Anh vội bế xốc

ra ngoài. Một cháu bé bị ngạt khói, người nhũn. Trần Cửu đưa cháu bé ra chỗ thoáng hà hơi cấp

cứu, gọi to để tốp y tá, y sĩ của trung đoàn lên đưa cháu về phía sau. Bất giác, Đào Tuyên như

nhớ tới những lời mĩ miều của nhà cầm quyền Pháp, nào là bình đẳng, bác ái, nhân đạo, nào là

khai phá văn minh? Nhưng lại đem bom và đại bác giết chết hàng trăm người già và trẻ em nơi

rừng núi xa xôi ở bản Noọng Nhai miền Tây Bắc này. Mải nghĩ, anh vấp ngã, hất Tùng xuống

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

đất, cháu bé người dân tộc thiểu số được đại đội trưởng Trần Cửu cứu thoát trong ngôi nhà sàn

cháy rụi lúc trước cũng ngã theo. Đào Tuyên nhổm dậy nâng Tùng và cháu bé đứng lên. Chính

trị viên Tuyên xuýt xoa xin lỗi liên lạc Tùng:

- Xin lỗi em, xin lỗi em, anh vừa đi vừa mải nghĩ.

Anh quay sang xin lỗi cháu bé. Tùng tỉnh hơn thấy có thể tự đi được, nhất định không cho chính

trị viên cõng. Tùng nghĩ, cháu bé còn đi được nữa là mình-thanh niên-người lớn! Lê Sương vẫn

còn mệt, chưa đi, chưa nói được. Trần Cửu cố gắng cõng Lê Sương đi nhanh đến tổ cấp cứu để

có thuốc tiêm trợ sức.

Cháu bé như sợ chú bộ đội bỏ mình bơ vơ nên cứ bám chặt lấy ống quần của Đào Tuyên. Đi

được một lúc, nó bắt đầu khóc sụt sịt, rồi khóc nấc lên, nước mắt, nước mũi giàn giụa. Đào

Tuyên nghĩ: có lẽ chỉ có bọn quỷ sứ mới không biết xót thương trẻ em. Quân giặc thì giết trẻ con

không chùn tay. Nhân đạo của quân xâm lược là nhân đạo của chó sói. Ở bản Noọng Nhai mấy

trăm con người, hầu hết là bà già và trẻ con đã chết!

Phía trước, một tốp người mặc quần áo màu chàm đi tới. Người đeo túi thổ cẩm, người đeo túi

dệt vải bạt, cũng có người đeo ba lô kiểu của giải phóng quân Trung Hoa buộc dây vải như chiếc

bánh chưng hình chữ nhật. Trần Cửu và Đào Tuyên gặp một người nói tiếng Kinh lơ lớ, tự giới

thiệu là đoàn cán bộ của huyện, của tỉnh. Một người phụ nữ từ phía sau đi lên quỳ trước mặt

cháu bé nịnh nó, dỗ nó, rồi bế nó. Nhưng cháu bé lại giằng ra, ôm chặt lấy ống chân Trần Cửu.

Chị cán bộ đứng lên. Đào Tuyên và Trần Cửu ngồi xuống trước mặt đứa bé. Mặc dầu không hiểu

được tiếng nói của nhau nhưng cháu bé vẫn ôm vòng lấy cổ chú bộ đội, không khóc nữa... tỏ ra

hiểu được điệu bộ của Trần Cửu và Đào Tuyên. Chị cán bộ lại ngồi xuống giảng giải cho cháu

bé. Nó chìa tay ra để chị dắt đi theo đoàn cán bộ của huyện và tỉnh.

Đúng ba ngày, sau trận máy bay giặc Pháp ném bom giết hại hàng trăm đồng bào ở bản Noọng

Nhai, Trần Cửu, Đào Tuyên và liên lạc Tùng vào rừng thăm viếng những ngôi mộ mà đồng bào

Noọng Nhai đã yên nghỉ. Những bóng đèn mờ mờ chập chờn ẩn hiện như những vong hồn của

những người ở thế giới bên kia trở về và sẽ theo sang tận nước Pháp hỏi tội những kẻ gây ra tội

ác tày trời này. Tội ác này sẽ đeo đẳng suốt đời họ và con cháu họ ở ngay tại nước Pháp.

Làm bản đồ ĐBP

Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ rất cần loại bản đồ tỷ lệ lớn 1/25.000 vùng Tây Bắc và Điện

Biên Phủ để nghiên cứu chuẩn bị chiến trường. Mặc dù loại bản đồ này đã được Xưởng sản xuất

bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu) làm, nhưng do thiếu tư liệu nên chưa phủ kín cả nước, riêng thung

lũng Điện Biên Phủ chỉ có bản đồ tỷ lệ 1/100.000, không biểu thị được đủ các chi tiết địa hình

dùng cho các đơn vị chiến đấu.

Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho xưởng làm bản đồ Điện Biên Phủ tỷ lệ 1/25.000. Toàn

xưởng đang khẩn trương sưu tầm tư liệu thì vào cuối tháng 1 năm 1954 (sáng ngày 28 Tết Giáp

Ngọ 1954), đồng chí Trần Ba, cán bộ đồ bản Cục tác chiến mang về một tấm bản đồ tỷ lệ

1/25.000 do quân báo ta lấy được từ tên Tham mưu trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và

yêu cầu trong 3 ngày đêm phải làm xong để mang về cho Bộ chỉ huy chiến dịch. Trong giai đoạn

này, đối với quân đội ta nói chung, đặc biệt là các đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đây

là loại bản đồ quý hiếm nên toàn xưởng rất vui mừng, từ Xưởng trưởng Nguyễn Bá Đạm đến

chiến sĩ bắt tay vào làm việc ngay.

Bản đồ Điện Biên Phủ do quân đội Pháp làm theo phép chiếu hình Bon (Bonne), chất lượng

tương đối tốt nhờ áp dụng phương pháp chụp ảnh bằng máy bay rồi vẽ ra bản đồ, nên nội dung

luôn được bổ sung mới, thông tin về địa hình chi tiết đến từng con suối cạn, đường mòn, mồ mả,

nhà cửa, giếng nước. Riêng dáng đất không vẽ đường bình độ mà thay bằng các đường sống

núi, tên địa danh bằng chữ Việt Nam, có phần giải thích bằng chữ Pháp, được in tại Sở địa dư

Đông Dương, đóng ở Đà Lạt, trên giấy dày, trắng tinh.

Theo định mức, xưởng phải vẽ 30 công mới xong bản đồ này, nay chỉ được phép trong 2 ngày

đêm. Trưởng ban họa, Nguyễn Văn Tích cắt tờ bản đồ thành 4 mảnh nhỏ giao cho các đồng chí

Trần Văn Thụy, Phạm Triền, Nguyễn Ke, Lê Văn Mưu, Ngô Văn Sách, Ngô Chí Tạo, Lê Thị

Khánh, Vũ Thị Tân, Ngô Dư, Lê Văn Huấn, Đỗ Danh Liễu, Vũ Đình Nhân, Trần Thanh, Nguyễn

Thế Hiệp, chia thành mỗi nhóm 3 người thực hiện, 1 người vẽ, 2 người nghỉ và chuẩn bị, mỗi ca

4 giờ, thay nhau vẽ suốt ngày đêm cho kịp thời gian.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Căn cứ vào bản đồ của Pháp (còn gọi là nguyên đồ), các đồng chí vẽ các yếu tố vào tờ can bằng

giấy bóng do hãng “Thanh Ba” sản xuất (thay cho phim ảnh, kính ảnh trong sản xuất thủ công).

Tờ can đòi hỏi người vẽ chính xác, tỉ mỉ, lực nét, cỡ chữ đúng khuôn khổ, kích thước và có hiểu

biết kiến thức quân sự nhất định, vì chỉ cần sai lệch một nét vẽ, một tên địa danh… là ảnh hưởng

rất lớn đến quyết tâm chiến đấu và xương máu của bộ đội ngoài mặt trận. Các đồng chí đặt tờ

can lên trên nguyên đồ, dùng bút chì kẻ khung trong bản đồ, đường kinh tuyến, vĩ tuyến, rồi vẽ

các yếu tố của bản đồ từ các địa vật độc lập, đường, sông, núi… Sau khi vẽ xong bằng bút chì,

các đồng chí dùng bút mực đen vẽ phủ lên các nét bút chì đã vẽ, với nét chữ đẹp, nhẵm mặt như

các ký hiệu và chữ đã in trên bản đồ. Vẽ xong, tờ can được dán lại, trưởng ban Nguyễn Văn Tích

kiểm tra đối chiếu với nguyên đồ không sai sót và chuyển sang ban kẽm.

Thời gian này xưởng đã dùng kỹ thuật in bản đồ hàng loạt, nhiều màu trên bản kẽm bằng máy in

gỗ quay tay và truyền hình vẽ từ tờ can xuống bản kẽm bằng phương pháp nhật chiếu, tức là

phơi bản dương đơn giản bằng ánh sáng mặt trời. Ban kẽm do đồng chí Nguyễn Duy Thiết làm

trưởng ban đã phân công nhiệm vụ cho các tổ chuyên môn. Một bản kẽm trước khi đến tổ nhật

chiếu được đồng chí Trần Văn Dương làm cho sạch các chất béo, chất nhờn, mặt kẽm là một

mặt phẳng trên đó hiện ra những hạt kẽm nhỏ mịn, làm cơ sở vững chắc, chân nét để in được

nhiều lần. Muốn đạt được như vậy người mài kẽm cần có kỹ thuật và sử dụng thành thạo máy

mài kẽm thủ công do đồng chí Hà Hữu Tài cải tiến. Người mài đặt tấm kẽm vào máng, chốt cố

định 4 góc cho tấm kẽm không xê dịch, sau đó rải bi kín mặt máng và cho thêm 1/2 số bi đã rải

lên trên, 2 bát cát khô, dùng tay đẩy cho máy chạy rồi vẩy đều khoảng 1/2 bát nước cho bi và cát

quyện với nhau để mài phá, tẩy xóa hết các yếu tố bản đồ trên mặt bản kẽm đã in trước đây, thời

gian mất khoảng 1 giờ; sau đó mất khoảng 1 giờ 30 phút chuyển sang mài màu, đến khi bản kẽm

có màu bóng láng là được. Khi mài xong, đồng chí lấy bản kẽm ra khỏi máng, rửa sạch bằng

nước lã, tránh để bị xước và ôxy hóa ảnh hưởng đến chất lượng in.

Bản kẽm mài xong chuyển cho bộ phận nhật chiếu do đồng chí Nguyễn Văn Vũ, Nguyễn Văn

Sính và Dương Văn Sửu phụ trách. Tại đây bản kẽm được đưa vào quay trong máy li tâm cho

bớt nước, có độ ẩm để rải màng thuốc cảm quang (bắt ánh sáng) cho đều. Thuốc cảm quang là

hợp chất của keo cá, thứ keo sinh vật, loại tinh chế, có độ dính nhất định, tuyệt đối không có chất

béo với Bicrômát cũng là loại tinh chế, không có tạp chất (gọi là phèn đỏ). Thời gian này keo cá

đã hết, xưởng thay bằng keo da trâu. Da trâu được ngâm nước từ 1 đến 2 giờ, cho vào nồi nấu

cách thủy, để nguội, dùng vải xô lọc kỹ, rồi cho Bicrômát vào hòa tan với nhau thành thuốc cảm

quang. Hai đồng chí dùng thuốc cảm quang tráng đều lên bản kẽm, đem sấy khô. Sau đó các

đồng chí đặt bản kẽm vào trong khung ép có mặt kính, úp mặt vẽ tờ can sát mặt thuốc cảm

quang, rồi mang ra phơi ánh sáng mặt trời từ 3 đến 5 phút (nếu trời âm u từ 5 đến 10 phút) cho

ánh sáng mặt trời đi qua làm hóa cứng những chỗ không có nét vẽ, ở chỗ có nét vẽ bằng mực

đen, thuốc cảm quang không bị ánh sáng mặt trời tác động vẫn còn nguyên và sẽ bị tan đi trong

nước, lộ ra nét trắng của tờ can. Do bản đồ in các màu: chữ và nét màu đen, đường sá màu đỏ,

dáng đất và các vật kiến trúc kiên cố (đình, chùa, nhà thờ, lô cốt) màu nâu, sông suối màu xanh,

nước, rừng già màu xanh lá cây đậm, rừng non màu xanh lá cây nhạt, nên mỗi màu là một bản

kẽm, nghĩa là tách màu trên bản kẽm. Để tách màu trên mỗi bản kẽm các đồng chí dùng nước

gôm A-rập pha loãng, những yếu tố lấy để in thì để lại, những yếu tố không lấy thì bôi phủ đi,

xong chà mực chế bản…

Sau khi nhật chiếu, tách màu xong, bản kẽm không thể dùng ngay để in mà các đồng chí Nguyễn

Đức Lâm, Trịnh Văn Thái, Nguyễn Thế Vỹ, Lê Ngọc Xích phải sửa chữa, cạo bỏ những nét thừa,

vẽ nét thiếu, tô đậm những nét yếu bằng mực vẽ trên kẽm (mực béo, có chất nhờn nhưng hòa

tan trong nước) hoặc tẩy xóa những yếu tố không cần thiết trên mặt bản kẽm. Bản kẽm còn phải

sửa trong quá trình in, vì bản đồ in nhiều màu lại phân màu trực tiếp trên bản kẽm và do ảnh

hưởng thời tiết mùa đông hanh khô làm cho bàn in đặt giấy khó giữ được phẳng lâu, cùng nhiệt

độ ở bản kẽm truyền lên giấy bị co duỗi, làm cho việc in khớp màu rất khó, nhất là màu sông

suối, ao hồ.

Bản kẽm sửa xong được chuyển sang ban in, trưởng ban Nguyễn Văn Ngự đã giao việc in bản

đồ và xén cho các đồng chí có tay nghề cao, kỹ thuật vững Nguyễn Đắc Vỹ, Đỗ Văn Bồi, Hà Hữu

Nghĩa, Đỗ Văn Cư, Nguyễn Văn Sức, Vũ Văn Trình, Trần Văn Thọ, Đỗ Văn Bằng, Lê Đình Bút,

Lê Đình Thắng, Lê Đình Cận. Trưởng ban in Nguyễn Văn Ngự vốn là công nhân của Sở địa dư

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Đông Dương, có kỹ thuật chuyên môn đã nâng lên kỹ năng, kỹ xảo và bản tính đặc biệt cẩn trọng

trong việc đánh mực pha màu, sao cho mực thật nhuyễn, màu thật đúng, chỉ dẫn cho anh em

từng động tác sử dụng máy in. Chi ủy viên Nguyễn Đức Lâm luôn có mặt ở những nơi khó khăn

nhất, vừa làm vừa động viên anh chị em. Ban in thường xuyên xem xét bảo dưỡng, cải tiến máy

in, giảm bớt động tác thừa, làm cho bản đồ in trên máy gỗ quay tay nhưng đạt trình độ khá, có

bản in không thua kém gì mấy so với các bản in bằng máy cơ khí, hiệu suất đạt trung bình từ 150

đến 200 ấn suất/ngày.

Nguyên lý làm việc của máy in gỗ quay tay là mực in truyền từ bản kẽm trực tiếp lên giấy nhờ

một bàn ép được kéo qua một thanh gạt có 2 chiếc lò xo ép thanh gạt xuống… Bản đồ được tiến

hành in thử khớp màu rồi in thật.

Do thiếu giấy in ngoại, bản đồ phải in trên giấy bản loại tốt và để khắc phục độ bền của loại giấy

này xưởng đã in tăng cơ số lên gấp đôi, từ 200 bản lên 400 bản. Với quyết tâm phấn đấu quyết

liệt, suốt 3 ngày đêm không nghỉ, xưởng đã làm được 400 bản đồ Điện Biên Phủ tỷ lệ 1/25.000

vào đúng 17 giờ chiều 30 Tết. Xưởng tổ chức một đoàn chuyển bản đồ, vừa đi vừa hát vui như

trẩy hội từ bản Giạo đến cây số 31, quốc lộ 3 kịp giao cho Cục Tác chiến và 20 giờ ô tô chuyển

bánh đi chiến dịch.

Mặc dù đã làm nhiều loại bản đồ, sơ đồ phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Trung

ương Đảng chỉ đạo kháng chiến, từ Xưởng trưởng Nguyễn Bá Đạm, Bí thư chi bộ Nguyễn Thế

Tùy cho đến các ban chuyên môn, các đồng chí nuôi quân làm việc quên cả trời rét nước đóng

băng, ban đêm phải lấy chăn phủ lên bàn chân, quấn lên người cho ấm. Trong điều kiện không

có đèn hoa kỳ, đèn bão, mỗi người phải dùng từ 2 đến 3 chiếc đèn chiếu sáng thắp dầu hỏa

được làm bằng vỏ hộp thuốc đánh răng GIB (như vỏ hộp xi đánh giày hiện nay), vỏ ống tiêm.

Bàn làm việc ghép tới 10 cây nứa, thành một cái bàn dài, mặt bàn trên lót tấm kẽm (đã loại khỏi

dây chuyền sản xuất bản đồ), có 4 chân gỗ cắm xuống đất, ghế ngồi là một cây gỗ tròn, đặt trên

2 cái cọc có chạc để đỡ, cũng cắm xuống đất cho đủ tầm ngồi làm việc. Do khả năng của xưởng

có hạn nên làm bản đồ vùng nào là bộ đội sẽ mở chiến dịch ở đó, đồng thời qua nhiều khâu

chuyên môn, nhiều người thực hiện, nên việc tuyệt đối giữ bí mật ý đồ chiến lược trong quá trình

làm bản đồ được chi ủy viên phụ trách bảo mật Đỗ Khả cùng toàn xưởng triệt để thực hiện 3

không (không nghe, không thấy, không biết).

Sát cánh cùng toàn xưởng, bộ phận nuôi quân do đồng chí Nguyễn Văn Khoái làm bếp trưởng

cùng Nguyễn Thị Phương đảm bảo cho bộ đội ăn 3 bữa cơm nóng, mỗi đêm bồi dưỡng 2 bát xôi

sắn. Đề phòng máy bay Pháp bắn phá, các chợ trong khu vực họp vào ban đêm, 5 ngày một

phiên, chiến sĩ tiếp phẩm Nông Văn Thiểm với đôi quang gánh, chiếc đèn bão, đi xa hơn chục

cây số xuyên qua đường mòn trong rừng có nhiều thú dữ kịp đến các chợ Quán Vuông, chợ

Chu, phố Ngữ… mua thực phẩm tươi về bồi dưỡng sức khỏe kịp thời cho bộ đội và chuẩn bị Tết

Nguyên đán.

Bản đồ phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ tỷ lệ 1/25.000 được Xưởng sản xuất bản đồ (nay là Xí

nghiệp bản đồ 1, Công ty trắc địa bản đồ, Cục bản đồ, Bộ Tổng tham mưu) làm tại bản Giạo, xã

Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Xí nghiệp bản đồ 1 hôm nay mặc dù được trang

bị những máy in hiện đại, tự động hóa, điều khiển theo chương trình, làm ra những sản phẩm

chất lượng cao phục vụ quốc phòng và kinh tế, nhưng không bao giờ quên những ngày tháng

gian khổ mà hào hùng của cha anh lớp trước, vươn lên trong sản xuất kinh doanh giỏi, xứng

đáng với danh hiệu là “cái nôi” của ngành bản đồ quân sự Việt Nam.

Chứng tích của trung đoàn dân công xe thồ vận chuyển lương thực

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13-3-1954 đến ngày 7-5-1954. Nhưng thực chất chuẩn

bị cho chiến dịch, quân và dân ta đã tiến hành từ cuối năm 1953. Việc chuẩn bị này bao gồm làm

đường giao thông, bưu điện, hệ thống các kho tàng quân trang quân dụng, các trận địa pháo, sở

chỉ huy chiến dịch, sở chỉ huy các sư đoàn, trừ gian, tiễu phỉ v.v... Nhưng quan trọng hơn cả là

phải chuẩn bị lương thực cho hàng vạn người ăn trong cả chiến dịch. Quân Pháp đã chủ quan

cho rằng quân ta không thể vận tải hàng vạn tấn lương thực ra mặt trận trong điều kiện rừng núi

hiểm trở, dốc cao, suối sâu được. Nhưng chúng đã lầm. Nếu quân Pháp chuyên chở lương thực,

khí tài, quân trang quân dụng lên Điện Biên Phủ bằng máy bay, thì nhân dân ta lại thay phương

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

tiện hiện đại đó bằng chiếc xe đạp thồ vẫn đảm bảo cho quân ta đánh thắng.

Tình cờ trong đống tài liệu hết hạn lưu trữ, tôi đã tìm thấy một hồ sơ về chứng tích một đoàn dân

công xe thồ từ Quảng Xương, Thanh Hóa lên Điện Biên Phủ. Hồ sơ bao gồm nhiều chứng từ viết

tay của đội trưởng hoặc đội viên nhận tiêu chuẩn gạo muối trên đường thồ gạo, muối ra mặt trận.

Cũng may mắn là đa số các chứng từ đều viết bằng bút mực trên giấy dó nên trải qua mưa nắng

suốt 50 năm qua nhưng chữ còn rõ, có thể đọc được. Thật cảm động vì có người đau ốm giữa

đường vẫn gắng gượng hoàn thành bằng được nhiệm vụ được giao.

Tập hồ sơ gồm 32 tờ có nội dung tóm tắt như sau:

Chứng từ là một tờ giấy nhận gạo do ông Nguyễn Văn Bá, người xã Quảng Chính, Quảng

Xương nhận 4,8kg gạo của ông Khắc nhân viên kho thóc ở Mộc Châu để ăn tại đó vào ngày 18-

12-1953. Đây là ngày sớm nhất của chứng từ số 1.

Chứng từ 2: “Tôi Nguyễn Văn Ổn ở Trung đoàn xe thồ Quảng Xương, đại diện nhận cho anh em

một số gạo ăn: 24kg tại cửa hàng mậu dịch Mộc Châu vào ngày 20 tháng 12 năm 1953”.

Chứng từ số 3: Ông Lê Văn Nghiễm, C trưởng dân công xe thồ Quảng Xương nhận số gạo

470kg cho anh em trong đại đội ăn trên đường từ Mộc Châu về suối Rút vào ngày 21-12-1953.

Chứng từ số 4: Ông Lê Văn Hoàn là trưởng đoàn dân công xe thồ huyện Hoàng Hóa nhận

6.673,6kg muối do ông Bùi Văn Lâm, cán sự Sơn La giao để chuyển từ suối Rút lên công trường

làm đường Sơn La vào ngày 21-12-1953.

Chứng từ số 5: Biên nhận của đoàn dân công xe thồ Quảng Xương do ông Lê Văn Nghiễm làm

C trưởng nhận 66.000đ (sáu mươi sáu nghìn đồng ngân hàng) tạm ứng cho đại đội dân công di

chuyển từ xóm Má lên Sơn La vào ngày 25-12-1953.

Chứng từ số 6: Ông Lê Văn Nghiễm nhận 10,56kg muối cho đại đội ăn trên đường hành quân

vào ngày 25-12-1953.

Chứng từ số 7: Ông Bùi Văn Lâm nhận vận chuyển số muối 3.790kg từ chi sở muối Hòa Bình

đóng tại Cò Nòi-Sơn La chuyển ra mặt trận vào ngày 25-12-1953.

Chứng từ số 8: Ông Lê Trọng Thắm, người phụ trách trung đoàn dân công xe thồ Quảng Xương

nhận 660kg gạo cho trung đoàn ăn trên đường di chuyển từ xóm Má lên Sơn La vào ngày 25-12-

1953.

Chứng từ số 9: Ông Lê Văn Nghiễm, đại đội trưởng dân công xe thồ Quảng Xương nhận 475kg

muối; 50kg gạo ăn; 5.000đ từ ông Trần Đức Thiện, nhân viên cửa hàng Mộc Châu để chuyển lên

mặt trận và ăn đường vào ngày 29-12-1953.

Chứng từ số 12: Ông Nguyễn Văn Bá ở Quảng Chính, Quảng Xương thuộc C ông Lê Văn

Nghiễm nhận 4kg ăn đường vào ngày 1-1-1954 tại Mộc Châu.

Chứng từ số 13: C trưởng Lê Văn Nghiễm nhận 230,4kg cho đại đội ăn đường từ ngày 5-1-1954

đến ngày 9-1-1954. Trung đoàn đang hành quân về phía trước.

Chứng từ số 14: Ông Lê Văn Ổn, Lê Văn Hượng xã Quảng Hòa thuộc đơn vị ông Lê Văn

Nghiễm và ông Nguyễn Đăng Giáp xã Hoàng Giang, Hoàng Hóa nhận 24kg để ăn đường trở về

từ Mộc Châu vì các ông bị bệnh không thể đi được về phía trước (6-1-1954).

Chứng từ số 15: Ông Lê Văn Nghiễm, C trưởng nhận 145.000đ cho đại đội vào ngày 4-1-1954.

Chứng từ số 16: Ông Lê Văn Nghiễm nhận 23,3kg muối ăn đường cho đại đội vào ngày 4-1-

1954.

Chứng từ số 17: Ông Nguyễn Văn Ba (đơn vị ông Nghiễm) nhận số gạo là 6,4kg vào ngày 6-1-

1954.

Chứng từ số 18: Ông Phạm Văn Tư,ồ trung đội phó thuộc đại đội ông Nghiễm nhận 5,4kg gạo ăn

cho đơn vị vào ngày 6-1-1954.

Chứng từ số 19: Ông Lê Trọng Thắm bàn giao 3.481,6kg muối cho cửa hàng Mường La do ông

Khổng Văn Thịnh đứng ra nhận vào 12-1-1954.

Chứng từ số 20 : Ông Lê Trọng Thắm phụ trách đoàn xe thồ Quảng Xương nhận của công

trường Quyết Thắng một số tiền là 110.100đ về khoản tiền thức ăn cho đoàn dân công Quảng

Xương làm nhiệm vụ đợt II vào ngày 27-1- 1954.

Chứng từ số 21: Ông Lê Văn Nghiễm nhận vận chuyển 555kg muối và 50kg gạo ăn đường.

Chứng từ số 22: “Cửa hàng mậu dịch Tạ Khoa chứng nhận đoàn dân công xe đạp thồ do ông Lê

Trọng Thắm phụ trách đến cửa hàng hồi 19 giờ ngày 18-1-1954 phải chờ đợi lại 2 ngày vì thu

xếp hàng không kịp”.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Chứng từ số 23: Lệnh chuyển kho từ Tạ Khoa tới Mai Ly bao gồm 17 mặt hàng trong đó có nhiều

vải, quần áo và 2.421kg muối, do ông Lê Trọng Thắm ký nhận chuyển đi vào ngày 21-1-1954.

Chứng từ số 24: Ngày 10-1-1954 ông Lê Trọng Thắm phụ trách đoàn dân công xe đạp thồ

Quảng Xương nhận của công trường Quyết Thắng số tiền 1.550.000đ để thực hiện vận chuyển

hàng ra chiến trường.

Chứng từ số 25: Ngày 27-1-1954 các chặng vận chuyển từ Tạ Khoa về Cò Nòi, với công vận

chuyển là 1507,37kg gạo đã vay ăn 1297,2kg còn lại 210,13kg. Từ Tạ Khoa đi Mai Ly.

Chứng từ số 30: Tổng kết số hàng của đoàn dân công Quảng Xương vận chuyển được là

246.478kg đi xa 1.701km. Tổng số tiền trả công cho dân công là 170.976.713đ. Tính ra mỗi tạ

gạo, muối chuyển đi chi phí hết 740g gạo.

Qua các chứng từ nêu trên, có thể hình dung con đường của đoàn dân công Quảng Xương đi

như sau: từ Quảng Xương đi Hòa Bình, lên đường số 41 (đường số 6 ngày nay), đến Mộc Ly,

lên Yên Ly, tới Cò Nòi, lên Mộc Châu, suối Rút, qua thị xã Sơn La tới Mường La. Có đại đội phải

đi đường rẽ một chút như từ Cò Nòi sang Tạ Khoa (đường sang Yên Bái). Hoặc từ Nà Sản sang

Mai Ly (đường sang Lào). Con đường 1.701km là con đường gian lao vất vả của trung đoàn dân

công xe thồ Quảng Xương Thanh Hóa. Họ thực sự là những công dân của nước Việt Nam anh

hùng. Tên tuổi của họ xứng đáng được lịch sử ghi nhớ trong những chiến công chói lọi của dân

tộc ta chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.

Người viết bài này cũng hy vọng các cơ quan, đoàn thể có trách nhiệm tới thăm hỏi những người

có tên trong bài viết này và nếu họ còn sống thì nên triệu tập đoàn lại họp mặt để ôn lại lịch sử

của trung đoàn dân công xe thồ cách đây đã 50 năm góp phần vào chiến thắng vẻ vang của

chiến dịch Điện Biên Phủ anh hùng. Hy vọng rằng truyền thống của trung đoàn được lưu giữ mãi.

Thợ cối đi chiến dịch

Khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp mở màn thì ở quê tôi cũng rộn lên một không khí thật sôi nổi.

Cách đó hơn hai tháng, quê tôi đã có một đợt tuyển dân công đi phục vụ chiến dịch Điện Biên

Phủ. Đợt ấy cả xã mới tuyển được hơn hai chục nam nữ thanh niên lên đường. Số khác phải ở

nhà nhưng ai cũng mong chờ sẽ có dịp khác, thế nào cũng được đi.

Họ mong chờ có lý. Cán bộ cấp trên huy động dân công đã về xã. Lần này huy động đông hơn

nhiều so với trước. Cả xã có tới gần một trăm thanh niên nam nữ được ghi tên vào danh sách,

chỉ chờ ngày lên đường.

Lớp trẻ được đi dân công đợt này ai cũng vui mừng. Các cô gái mười sáu, mười bảy tuổi cũng

có trong danh sách. Năm, bẩy ông trung niên cũng rất háo hức. Vào một buổi tối các ông họp

nhau lại, cùng nhau hút thuốc lào, uống nước chè và bàn chuyện. Không có chuyện gì ngoài

chuyện đi dân công. Ông Hai Đài là người nhiều tuổi nhất trong họ nói với các bạn rằng:

- So với bọn trai trẻ sức khỏe chúng ta không kém. Tinh thần lại càng không kém. Nếu anh nào

muốn xung phong đi dân công đợt này, thì sáng sớm mai cùng đi với tôi lên gặp cán bộ tuyển

dân công.

Tất cả sáu ông trung niên đều đồng ý với nhau. Ông Diên còn nói thêm:

- Các ông lên gặp cán bộ phải ghi danh sách đầy đủ anh em mình. Chúng ta đều là du kích, có

kinh nghiệm đánh địch. Được đi làm dân công cho chiến dịch chúng ta sẽ áp dụng những kinh

nghiệm đánh địch, phổ biến cho mọi người thì càng tốt chứ sao.

Sáng sớm hôm sau, ông Hai Đài và ông Thiện đã đại diện cho các ông ở lứa tuổi trên bốn mươi

lên gặp cán bộ tuyển dân công. Ông Hai Đài vừa gặp cán bộ đã bộc bạch, lời nói của ông thẳng

như ruột ngựa:

- Đồng chí cán bộ tuyển dân công à! Hai anh em chúng tôi đại diện cho số trung niên trên bốn

mươi tuổi, lên đề nghị với đồng chí phải ghi danh sách anh em chúng tôi đi dân công Điện Biên

đợt này.

Anh cán bộ ngập ngừng:

- Cấp trên phổ biến yêu cầu đợt tuyển dân công này, lấy thanh niên nam nữ trẻ khỏe.

- Cấp trên như vậy là không thực tế chút nào. Tuy ngoài bốn chục tuổi, nhưng số anh em chúng

tôi, ai cũng khỏe mạnh cả. Ai cũng là thợ cày, bừa, chủ trong gia đình. Chúng tôi còn khỏe hơn

cả thanh niên nam nữ trong xã. Đề nghị đồng chí ghi danh sách anh em chúng tôi.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

- Các bác có bao nhiêu người ạ?

- Khoảng hai chục. Nếu có yêu cầu, chúng tôi còn hơn. Có thể tới bốn, năm chục cơ đấy.

- Thế thì nhiều quá. Bây giờ thế này vậy. Vì tinh thần xung phong, vì sự nhiệt tình, tôi sẽ phải làm

sai ý cấp trên, ghi danh sách khoảng bốn, năm bác vậy.

- Cho thêm một người nữa đi. Tất cả là sáu. Sáu thằng chúng tôi, tối hôm qua đã họp nhau rồi.

Còn lại thì xin đi đợt sau vậy.

- Các bác đọc tên từng người, cả tuổi nữa ạ.

- Anh ghi nhé: Nguyễn Văn Hai (tức Hai Đài), 45 tuổi; Nguyễn Văn Thiện, 40 tuổi; Lưu Văn Hưng,

41 tuổi; Phùng Văn Diên, 42 tuổi, Nguyễn Đình Ấm, 44 và Phùng Văn Nguyên, 44.

Hai ông ghi được danh sách cả sáu anh em thì rất lấy làm phấn khởi. Về nhà ông Hai, cả sáu

ông đều có mặt. Ông nào cũng có vẻ mặt tươi hơn hớn.

Ngày lên đường đã đến. Số dân công của cả xã đợt này là tám mươi người. Đáng lý đều tuổi

còn trẻ. Nhưng có sáu người phải lùi lại, nhường cho các ông trung niên có danh sách “chen

ngang”. Tất cả tám chục người gấp gáp chuẩn bị quang sọt để đựng gạo. Ai cũng đan đôi sọt

của mình bằng nan cật tre. Họ lấy mo nang tre lót xung quanh và đáy, mặt trên đã chuẩn bị các

tấm lá cọ vừa đủ che nắng, mưa, giữ cho gạo không ngấm nước. Tiếp đến là tập trung đến kho

lấy gạo. Quả thật ngay bước đầu chuẩn bị các bác nhiều tuổi đã phát huy kinh nghiệm gói gạo

thật gọn và thật kín. Các bác đã giúp mấy chàng trai và cô gái trẻ gói gạo. Mọi người gánh gạo

về nhà mình để chiều mai sẽ tập trung lên đường.

Hành lý của người đi dân công rất đơn giản. Mỗi người chỉ có hai bộ quần áo để dành và một bộ

quần áo mặc. Mỗi đôi sọt để gạo phía dưới, còn trên là mỗi bên một bộ quần áo. Đoàn dân công

đã tập trung đủ tám chục người. Họ chia ra mỗi tổ từ sáu đến tám người, có già, có trẻ, có nam

có nữ. Chia nhỏ như thế để tiện giúp đỡ nhau và tiện ăn uống trên dọc đường đi. Họ phân công

nhau mỗi người đều mang thêm một thứ để nấu ăn. Người mang nồi nấu cơm, người mang nồi

nấu canh... đủ dùng trong sinh hoạt.

Lúc chuẩn bị lên đường thì có cán bộ đi đến từng tổ kiểm tra cụ thể từng người. Mọi người đều

mang đúng quy định, riêng ông Hai Đài thì có lý do của ông. Ngoài đôi quang sọt ông còn đeo

vào người một cái túi dết, trong đó đựng dụng cụ đồ nghề đóng cối của ông. Ông là thợ đóng cối

nổi tiếng trong vùng, ai cũng biết thế và còn được nghe ông giảng giải:

- Tôi mang đồ nghề để khi nào đến bản của bà con dân tộc thiểu số thì tranh thủ đóng giúp họ

một chiếc cối xay thóc. Bà con trên Tây Bắc từ lâu đời chỉ dùng con nước làm cối giã thóc, cứ hai

ngày đêm mới được một cối, lâu lắm. Cối xay thóc của tôi đóng chỉ trong một buổi sớm đã xay

được mười cối gạo. Đem giã cối tay cũng được mà đem ra cối nước cũng chỉ trong nửa ngày là

được một cối, có phải nhanh gấp nhiều lần không.

Nghe ông Hai Đài giảng giải ai cũng thấy là đúng. Đoàn dân công đã xếp hàng lên đường. Họ đi

vào lúc mặt trời vừa lặn để tránh máy bay địch.

Khoảng hơn một tuần, họ đã tới đất Sơn La. Họ phối hợp với dân công các địa phương khác đi

nườm nượp hàng ngàn người vui như đi hội. Đoàn dân công xã tôi đêm đó dừng chân nghỉ lại

trong một bản người dân tộc Thái. Bản này nằm bên một con suối. Suốt ngày đêm, những cọn

nước quay kẽo kẹt để giã thóc. Nghe thật vui tai, đúng là khúc nhạc của miền rừng Tây Bắc.

Ngủ một đêm đến gần sáng, ông Hai Đài đã dậy sớm hơn mọi người, ra suối để đánh răng, rửa

mặt. Ông nhìn thấy những cọn nước quay uể oải giã thóc của bà con bản người Thái, ông nhoẻn

miệng cười và về nhà ngay.

- Mấy thằng nhiều tuổi chúng mình ơi. Cậu nào thấy còn khỏe thì đi với tớ.

- Đi đâu?

- Cứ đi rồi sẽ biết.

Theo sau ông Hai Đài là ông Ấm và ông Thiện. Ba ông leo lên nhà sàn của một gia đình người

Thái. Gặp chủ nhà, ông Hai nói luôn:

- Chúng tôi là dân công ở Phú Thọ lên đây. Chúng tôi đi tải gạo cho bộ đội đánh địch ở Điện

Biên, ở dưới xuôi chúng tôi làm ra gạo phải có cối xay thóc. Sau khi xay thành gạo xay thì đem

giã. Làm như thế nhanh lắm, mà hơn nữa tránh được gió mưa. Nhà ta có muốn đóng cối xay

thóc, tôi đóng giúp cho một cái mà dùng trong gia đình.

- Lấy cái gì mà đóng cối?

- Lấy đất tổ mối, lấy gỗ dẻ, tre để làm.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

- Những thứ ấy thì sẵn lắm, thiếu gì. Ông làm thử cho nhà tôi, rồi nhiều người họ thấy tốt sẽ làm

theo mà.

Ngay hôm ấy ông Hai Đài, ông Thiện, ông Ấm bắt tay làm ngay. Ông Hai Đài làm các phần việc

chính. Ông Ấm và ông Thiện làm các việc do ông Đài phân công. Ba ông làm cật lực, đến ngang

chiều đã xong chiếc cối xay thóc. Ông chủ nhà đem đổ thóc vào xay ngay. Ông mừng quá phải

kêu lên:

- Tốt quá, tốt quá, nhanh gấp mười lần cối nước.

Ông chủ mổ ngay một con gà trống to, chiêu đãi ba người. Bà con trong bản người Thái thấy lạ

đã kéo đến xem lũ lượt và ai cũng tấm tắc khen. Họ muốn đón các ông đến đóng cối xay thóc

cho nhà mình ngay. Ông chủ nhà phải lên tiếng can ngăn:

- Để cho các ông ấy nghỉ để lấy sức đi đường xa.

- Các ông nhớ lần sau đến đóng nhiều cối xay thóc cho dân bản chúng tôi.

Đoàn dân công xã tôi đã rời bản người Thái lên đường đi về phía Điện Biên Phủ. Sau khi giao

xong gạo cho đơn vị bộ đội, đoàn trở lại để đi tiếp các chuyến khác.

Dân công tải gạo lên Điện Biên chịu vô vàn khó khăn gian khổ. Lần nào được trú ở các bản

người dân tộc thiểu số thì đỡ vất vả hơn. Được dừng chân ở các bản nhỏ chỉ có ít, hầu hết là

phải ngủ ngoài rừng. Gió rừng Tây Bắc rét như cắt thịt da, mọi người phải gắng sức mà chịu

đựng. Đã chịu rét lại phải chịu muỗi và vắt rừng. Thời đó làm gì có màn mà ngủ, nhưng mọi

người phải phát huy sáng kiến chống lại muỗi rừng. Họ lấy lá chuối làm chiếu. Muốn chống được

muỗi, họ phải lấy giẻ rách đốt cho khói để đuổi muỗi đi. Họ còn lấy các loại lá có mùi hắc, hay có

mùi thơm rải ra cùng với lá chuối. Muỗi và vắt bỏ đi khi ngửi thấy mùi này. Ngủ đã khổ nhưng ăn

là khó nhất. Gánh gạo nặng nhưng không ai được ăn. Họ ăn suất gạo dành riêng cho mình. Gạo

không được ngon, có khi đã mốc vẫn phải ăn. Trừ trường hợp đặc biệt có người ốm hoặc bị

thương thì xin cấp trên lấy ra vài bát nấu cháo.

Rừng Tây Bắc hồi đó rất rậm rạp và có nhiều thú dữ. Có một đơn vị dân công ngủ đêm ở ven

đường đã bị con hổ dữ bắt mất một người. Người chết mất cả xác, anh em có tổ chức đi tìm xác

để mang về nhưng không thấy được.

Đoàn dân công xã tôi cũng như các đoàn khác không quản ngại hy sinh, khó khăn gian khổ. Tất

cả vì chiến dịch Điện Biên Phủ mà mỗi người đều tự xác định và động viên nhau vượt qua tất cả

bao nỗi khó khăn.

Lần thứ hai dân công xã tôi vẫn tải gạo lên Điện Biên. Lần này đoàn cũng được ở trong các bản

người dân tộc thiểu số. Ông Hai Đài và mấy người khác đã phát huy nghề nghiệp của mình. Các

ông lại đóng cối xay thóc giúp bà con. Bà con đề nghị với cấp trên cho ông Hai Đài và mấy ông ở

lại giúp bà con đóng cối. Họ đã cử người thay thế các ông.

Theo nguyện vọng của bà con các bản, ông Hai Đài và hai người bạn được ở lại đóng cối xay

thóc giúp đồng bào. Trong gần một tháng các ông đã đóng được gần hai chục cối xay thóc giúp

bà con. Họ vui mừng khôn xiết. Nhà nào được các ông giúp đều mổ gà, thậm chí có gia đình mổ

cả lợn thết đãi các ông. Ông Hai Đài còn dạy các trai bản biết đóng cối xay thóc cho nhà mình.

Khi chiến dịch yêu cầu có nhanh gạo, các bản người dân tộc thiểu số đã ngày đêm thi nhau xay

thóc giã gạo để kịp tiếp tế cho bộ đội đánh giặc.

Ông thợ đóng cối Hai Đài đã đóng góp một thành tích đặc biệt vào chiến dịch, tạo nên chiến

thắng lịch sử của dân tộc ta.

Kỷ luật là sức mạnh của quân đội

"...Có 1 vụ án do vi phạm kỷ luật chiến trường đến nay ít người nhắc tới. Đó là vụ xử tiểu đoàn

trưởng tiểu đoàn 18 VK . Toà án binh thiết lập ngay ở mặt trận. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, tổng

thanh tra quân đội, ngồi ngay ghế chánh án. VK bị buộc tội dao động, bỏ vị trí chỉ huy, tự động

cho bộ đội rút lui trong trận tiến công cứ điiẻm A1, đưa đến hậu quả là bộ đội thương vong nhiều,

không hoàn thành nhiệm vụ.

Cuộc chiến đấu trên đồi A1 vô cùng quyết liệt, tình hình nhiều lúc không rõ ràng. Trong đội hình

trung đoàn 102, tiểu đoàn 18 tấn công địch trong điều kiện không hề biết địa hình và sự bố trí

của địch, mất liên lạc với cấp trên, tiểu đoàn trưởng cũng không nắm được quân. Không có lệnh

nhưng trước tình thế tuyệt vọng, một số chiến sỹ đã tự động rút. Trước toà, VK không được

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

phép biện hộ cũng không có ai biện hộ cho. Vì vậy lời buộc tội của công tố uỷ viên không khỏi

làm cho anh thắc mắc.

Phụ trách cơ quan chính trị, tôi thường nắm tình hình cán bộ của trung đoàn, nhất là các cán bộ

tiểu đoàn, đại đội. Trong số các tiểu đoàn trưởng, VK là 1 cán bộ có kinh nghiệm qua nhiều chiến

trận, đã từng là đại đội trưởng đại đội chủ công. Giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đoàn "Bình Ca" cho

VK, cấp trên đã cân nhắc, chọn lọc. Nhưng làm sao lường hết được những diễn biến tư tưởng

lúc gian nguy, đối mặt với cái chết? Chiến đấu ngoài mặt trận không phải chỉ là đấu tranh với

địch mà còn phải đấu tranh với chính mình. Đấu tranh với mình cũng có thắng có bại, có thắng

lúc này, có bại lúc khác. Bại rồi lại thắng, rèn luyện sao cho bại ít thắng nhiều. Hiếm người chỉ có

thắng mà không có bại. VK bị kết án 20 năm tù giam. Nhưng thực tế anh chỉ bị lao động cưỡng

bức có 3 tháng 17 ngày, kể từ khi bị bắt nhốt trong 1 hầm cá nhân ngay tại mặt trận. Khhông ai

giải thích tại sao anh được thả tự do, ra tù anh được tham gia đoàn cán bộ cải cách ruộng đất, ít

lâu sau anh trở lại cuộc sống của người dân thường.

Mãi gần đây, nhân viết sách này, tôi đến thăm anh. Vốn tính cương nghị, có phần ngang bướng

bẩm sinh, người thợ giày từng là cán bộ chỉ huy ấy có lẽ coi thường mọi thứ, kể cả sinh mệnh

chính trị của mình. cũng vì thế mà anh chịu ôm hận hàng bốn chục năm, không trình bày, cầu xin

với ai hết. Vẫn nét mặt phớt đời như hồi ấy, tuy già đi nhiều, VK kể lại cuộc chiến đấu của tiểu

đoàn 18 ở ĐBPvà bi kịch mà anh đã phải trải qua. Mặc dù đau xót và thắc mắc, anh vẫn không

một lời oán trách, chỉ tự rút ra bài học cho riêng mình. Với tay nghề cũ, anh trở về làm thợ, có lần

làm chủ nhiệm hợp tác xã giầy da ở thủ đô. Và hàng năm, anh vẫn đến dự họp truyền thống các

bạn chiến đấu Quân Tiên Phong, ít khi vắng mặt ..."

Trích từ "Đại đoàn 308 với chiến dịch ĐBP, Phạm Chí Nhân, NXBQĐND 2004

Đọc Hồi Ức "Điện Biên Phủ, Điểm Hẹn Lịch Sử"

Của Võ Nguyên Giáp

"Có Dân là có tất cả"

Trong bài trước bình phẩm quyển hồi ức đầu tiên "Những năm tháng không thể nào quên" (nxb

QĐND Hànội, 1999) của tướng Võ Nguyên Giáp, chúng ta chỉ nghe tiếng chuông của Giáp và

nhận xét của các tác giả Peter MacDonald (Anh) và Cebil B. Currey (Hoa kỳ). Bài này liên hệ đến

quyển hồi ức thứ hai "Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử" của Giáp, sẽ bổ túc bằng những tài liệu

cụ thể liên hệ đến hai vấn đề hệ trọng: 1) Vai trò của Nga, Tàu sau lưng đảng CS Việtnam theo

một số văn kiện được giải mật và 2) Thử đối chiếu sách lược của Hànội trước 1975 với hình thức

chiến tranh mới do Hoa kỳ áp dụng tại Kosovo.

Vai trò của Nga, Tàu trong chiến tranh Việt Nam

Mở đầu hồi ức "Điện Biện Phủ, Điểm hẹn lịch sử" (ĐBP), xuất bản tháng 4-2001 tại Hànội (nxb

Quân Đội Nhân Dân), Võ Nguyên Giáp cho biết từ đầu 1948, Hồ đã tiếp xúc với Đảng CS Trung

Quốc để phối hợp hoạt động. Hồ cũng có xin Liên Xô giúp trang bị cho 10 đại đoàn bộ binh và

một trung đoàn pháo cao xạ, Xtalin nói: "Yêu cầu của VN không lớn. Nên có sự phân công giữa

Trung Quốc và Liên Xô. Liên Xô hiện đang phải lo nhiều cho các nước Đông Âu. Trung quốc sẽ

giúp cho VN những thứ đang cần. Những thứ gì Trung quốc chưa có, thì hãy lấy trong số hàng

Liên Xô đã viện trợ cho Trung quốc chuyển cho VN, và sẽ dược Liên Xô hoàn trả". Xtalin nói vui:

"Trung quốc sẽ không thiệt vì trao cho VN những thứ đã dùng rồi, sẽ nhận lại ở Liên Xô những

thứ mới!" Trong quan hệ quốc tế phải có đi có lại. Liên Xô viện trợ cho Trung quốc một xe tăng.

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Trung quốc trả lại một con gà, một khẩu pháo, trả một quả trứng. VN trả Trung quốc thế nào thì

tùy..." (ĐBP, trang 14-).

Sau 5 năm chiến đấu "trong vòng vây", từ tháng 9-1945 đến Mùa Hè 1950, Hồ quyết định cho

mở chiến dịch tại Cao Bằng - một căn cứ chiến lược "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ - sát biên

giới Quảng Tây và là đầu mối của những trục dường cực kỳ quan trọng. Lúc đó, về quân số,

CSVN thua kém Quân đội Viễn chinh Pháp khá nhiều (166.000/ 180.000) và trang bị rất yếu kém.

Tháng 3.1950, Hồ qua Bắc kinh và Mạc Tư Khoa cầu viện. Trung Quốc giữ lời trang bị 5 trung

đoàn Việt cộng và - với nhiều nước xã hội chủ nghĩa - công nhận Chính phủ Hànội. Hồ xin Mao

gởi Cố Vấn. Tháng 6-1956, Lã Quý Ba đến Việt Bắc với cương vị Đại sứ Tàu đầu tiên và Trưởng

phái đoàn cố vấn, gồm có Vi Quốc Thanh (quân sự), Mai Gia Sinh (công tác tham mưu) và Mã

Tây Phu (công tác hậu cần). Về sau, có thêm đại tướng Trần Canh, bạn thân của Hồ từ 1920.

Các cố vấn này đều có mặt trong những trận đánh hệ trọng, thắng hay thua. Không thấy Giáp

nói tới sự hiện diện của một đơn vị tác chiến Trung cộng nào.

Trong ĐBP, Giáp nhiều lần nhắc và đề cao vai trò của hậu cần. Đặc biệt nơi trang 108-109, Giáp

ghi: "Trong toàn chiến dịch Cao Bắc Lạng, các chiến sĩ hậu cần đã cung cấp 1.886 tấn gạo, thực

phẩm, 41 tấn đạn, cấp cứu 1.200 thương binh, nuôi dưỡng 3.500 tù binh. Sức chịu đựng của họ

thật là kỳ lạ. Đây là công lớn của Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp... Cho tới hết

năm 1950, ta đã tiếp nhận của Trung quốc 1.020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang, quân

dụng, 2.634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 2.634 tấn gạo, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu

và phụ tùng ô tô. Viện trợ của Trung quốc là nguồn cung cấp quan trọng và hiệu quả của chiến

dịch".

Trong quyển đối thoại "Mây Mù Thế Kỷ", nxb Đa Nguyên, CA, 1998; nơi trang 115 và tiếp theo,

Bùi Tín khẳng định "hoàn toàn không có đơn vị chiến đấu Liên Xô và Trung quốc ở chiến trường

VN". Theo Tín, tháng 8-1950, đoàn cố vấn quân sự Tàu đầu tiên đến Việt Bắc, đông gần 100

người, mang mật danh "Tổ công tác Trung Nam". Trong chiến dịch biên giới bắt đầu từ tháng 9-

1950, hơn 40 cố vấn Trung quốc có mặt ở các sư đoàn, trung đoàn "không có ai tham chiến trực

tiếp", Trần Canh đóng vai trò hệ trọng. Bùi Tín xác nhận thêm: tại Điện Biên Phủ, Vi Quốc Thanh

dự chiến dịch, các sư đoàn đều có tổ cố vấn, nhưng "họ không tham gia chiến đấu". Trong vụ

tấn công Lai Châu và Điện Biên, cố vấn Tàu chủ trương "khoái đả, khoái diệt" nhưng ngày 20-1-

1954, Giáp đổi phương châm tác chiến thành "đánh chắc, tiến chắc" vì tình hình thay đổi, các cố

vấn "cũng đồng ý". Bùi Tín viết nơi trang 118-119: "Trong cuộc chiến đấu chống không quân Mỹ

ở Miền Bắc, từ cuối năm 1967 có một số đơn vị cao xạ Trung quốc tham gia nhưng không

nhiều... Binh lính Liên Xô không có mặt ở VN.

Tháng 8-1993, sử gia gốc Trung Hoa Chien Jiang, giáo sư tại Clark University, Hoa kỳ, có đăng

một bản phúc trình dài "China and the First Indochina War 1950-1954" trong tạp chí The China

Quarterly căn cứ vào các tài liệu được Băc kinh giải mật về vai trò của Trung quốc trong cuộc

chiến giữa Pháp và Việt Minh. Vì nhu cầu ngăn chận Hoa kỳ trên ba mặt trận: Đông Dương, Triều

Tiên và Đài Loan, Mao chấp nhận ủng hộ hết lòng Hồ chiến thắng Pháp. Mao và Bộ tham mưu

gồm có Châu Ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ và Bành Đức Hoài đã dốc tâm trí và tài nguyên qua

Bắc Việt. Phái bộ cố vấn, gồm có Luo Guibo (Lã Quý Ba), Mei Jiaoshing (Mai Gia Sinh), Den Yifan

(Đặng Nhất Phấn), Wei Guoqing (Vi Quốc Thanh) và Chen Gen (Trần Canh), đặt kế hoạch và

nắm quyền chủ động trong các chiến dịch Biên giới (1950), Tây Bắc (1952), Châu thổ Hồng Hà

(1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (16-1-1954 đến 7-3-1954).

Năm 1949, Ủy viên Trung ương Hoàng Văn Hoan được gởi qua Bắc kinh để phát triển mối hữu

nghị Hoa-Việt. Đại sứ VN đầu tiên này đào tẩu qua lục địa năm 1970 và qua đời tại đây năm

1991. Hoan đã xác nhận vai trò quyết định của các cố vấn Tàu. Hồ đã ít nửa ba lần qua triều yết

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Mao nhận lệnh và cầu viện: tháng giêng 1950, tháng 9-1952 trước chiến dịch Thượng Lào và

tháng 7-1954 trước Hiệp định Genève. Theo Chien Jiang, đặc biệt trong chiến dịch Thượng Lào,

về việc chiếm đóng Nghĩa Lộ và chiến dịch Tây Bắc, về quyết định chuyển toàn bộ mục tiêu về

châu thổ Hồng Hà, Giáp bất đồng ý kiến với cố vấn Trung quốc nhưng cuối cùng bị lép vế vì có

áp lực của Hồ. Tháng 7-1950, phái bộ 70 cố vấn Tàu ngụy trang dưới danh hiệu "Nhóm công tác

Nam Hải" được huy động đến cấp tiểu, trung và sư đoàn. Trong các trận nổ lửa ở Hòa Bình,Tây

Bắc và Điện Biên Phủ, quân lệnh được nhận thẳng từ Bắc kinh. Tại Điện Biên Phủ, Bắc kinh viện

trợ cho Bắc Việt 200 xe vận tải, 10.000 thùng dầu, 3000 súng đủ loại, 2.400.000 đạn dược,

60.000 đạn đại bác, và khoảng 1.700.000 tấn thóc. Một sư đoàn pháo Trung cộng tham chiến

theo hồi ký của Ye Fei, trang 644-645. Bắc kinh còn khuyến khích không nên tiết kiệm đạn và

đồng thời, thúc áp dụng chiến thuật biển người.

Trong nhật ký, quyển 2, trang 23- 31, cố vấn Trần Canh (Chen Gen) chê Giáp và một số tướng

lãnh Việt "thiếu tinh thần tự giác Bôn Sê Vích và thường bất mãn với những chỉ trích của các cố

vấn". Trong một đoạn Trần Canh nói Giáp "lươn lẹo, không thực lương thiện với các đồng chí

Trung quốc". Tình thế đôi khi căng thẳng đến mức trong thơ gởi cho Tướng Vi Quốc Thanh ngày

29-1-1951 (Tuyển Tập Mao, Quyển 2, trang 90), Mao nhắc các cố vấn "không nên áp chế ý kiến

mình lên các đồng chí Việt".

Tại Hội nghị Genève, vì lo ngại CS Việtnam hoàn toàn kiểm soát Đông Dương, Bắc kinh không

còn là "đồng minh môi hở răng lạnh" với Hànội nữa. Ngày 18-5-1954, mười ngày sau khi Hội nghị

khai mạc, một phụ tá của Ngoại trưởng Châu Ân Lai nói thẳng với một thành viên của phái đoàn

Pháp: "Chúng tôi tới Hội nghị để tái lập hòa bình chớ không phải để hỗ trợ Viêt Minh". Bắc kinh

và Hànội sống trong cảnh đồng sàng dị mộng cho đến ngày Đặng Tiểu Bình cho xua quân năm

1979 qua Lạng Sơn để phạt người em đồng minh phản bội.

Dù sao Bắc Việt chiến thắng nhờ Trung cộng hỗ trợ hết mình. Chiến thuật du kích đem thắng lợi

cho Quân Đội Nhân Dân phần lớn nhờ Giáp và Bộ tham mưu học hỏi kinh nghiệm của chuyên gia

Bắc kinh, đặc biệt của Mao đã dày công nghiên cứu sau cuộc Vạn Lý Trường Chinh và viết ra

thành sách tại Diên An. Bộ sách này được dịch ra Anh Ngữ gồm ba cuốn nhan đề On Guerrilla

Warfare, On The Protracted War và Strategic Problems Of China's Revolutionary War, căn cứ vào

thất bại của dĩ vãng và đúc kết tổng hợp binh pháp của Tôn Tử tức Sun Tzu, Thủy Hử tức Shui

Hu Chua và của thời Tam Quốc Sunkuo.

Trong quyển sách "After the war was over, Hànội and Sàigòn" (nxb Random House Inc, NY), ký

giả Mỹ Neil Sheehan - người được giải Pulitzer với tác phẩm "A bright shining lie" về chiến tranh

VN - đã trở qua Hànội năm 1992 để phỏng vấn một số lãnh tụ CS, trong đó có Võ Nguyên Giáp.

Sheehan ghi lại hai điểm đáng lưu ý sau đây: 1) Khi được hỏi nghĩ sao về Hoa kỳ, Giáp trả lời:

"Ông hỏi tôi còn ác cảm đối với người Mỹ không? Làm thế nào tôi ác cảm được với Thiếu tá

Thomas (tên đầy đủ của ông là Allison Thomas, một nhân viên tình báo OSS tức CIA cũ). Ông ấy

đã ở bên cạnh tôi tại Thái Nguyên khi chúng tôi chống Nhựt. Các người Mỹ đến VN không phải

chỉ để chống chúng tôi, You Americans didn't always come here to fight us". Và sau đó, Giáp đã

đích thân chỉ cho Neil Sheehan nơi núp ẩn của Hồ và Giáp tại một biệt thự ở trung tâm Hànội,

bên kia đường là chỗ trốn của nhóm nhân viên OSS trong giai đoạn chiến tranh bí mật. 2) Đề cập

đến hiện trạng nghèo đói của VN, Giáp nói: "Xứ chúng tôi như một con bệnh đau từ lâu. Các

quốc gia ở xung quanh đã tiến tới rất nhiều, chúng tôi phải chịu giặc giã." Giáp nhìn nhận: Người

VN cần thay đổi suy tư và huấn luyện lớp người trẻ về khoa học và kỹ thuật". Và Giáp kết thúc

cuộc phỏng vấn bằng một câu thơ của thời niên thiếu: "Mỗi ngày đổi mới, một lần nữa mỗi ngày

đổi mới, Each day anew, once more each day anew". Neil Sheehan nhận xét về Giáp: "Giáp khôn

ngoan để không về hưu trong Quân đội vì ông biết mình là ai, đã làm được gì và không ai có thể

tước đoạt ông được điều này".

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

Trong ba quyển hồi ký "Hoa Xuyên Tuyết" (nxb Nhân Quyền, CA 1991), "Mặt thật" (nxb Saigon

Press, CA, 1993) và "Following Hồ Chí Minh" (nxb Hurst & Co, London, 1995), Bùi Tín trình bày

trường hợp CSVN hạ bệ Giáp năm 1982 trong Đại hội 5 và sau đó, rỉa hết tay chân của Giáp

trong Quân đội bằng cách cho về hưu một số, giam cầm và điều tra một số khác, trong vụ "Xét

lại, chống Đảng". Vài tướng lãnh thân cận Giáp bị đột tử. Từ 1945, Lê Duẫn - sau này là Tổng bí

thư - bắt tay với Lê Đức Thọ, Ủy viên trung ương kiêm Trưởng ban Tổ chức, để chiếu tướng

Giáp. Đặc biệt, Lê Duẫn đã công khai mạ lỵ Giáp trong vụ Vịnh Bắc Việt (1964), và chiến dịch

Mùa Xuân 1975, bằng những danh từ khiêu khích như "vừa đánh, vừa run,... thực tế là không chỉ

huy,... nhát như thỏ đế.. v..v..". Ngoài ra, Lê Duẫn còn bắc thang cho Văn Tiến Dũng, Tham mưu

trưởng, qua mặt Bộ trưởng Quốc phòng Giáp bằng cách viết hồi ký "Đại Thắng Mùa Xuân" (nxb

Quân Đội Nhân Dân,Hànội 1976) tố Giáp đã giành công cấp dưới. Trớ trêu thay, Dũng lại bị

Thượng tướng Trần Văn Trà trong Mặt trận Giải phóng Miền Nam, sửa lưng trong hồi ký "Kết

thúc cuộc chiến tranh 30 năm" (nxb Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1978) với câu mở đầu: "Ăn trái

phải nhớ kẻ trồng cây!" Trà xác nhận chính y có công hãn mã.

Chiến tranh du kích của CSVN và Cyberwar của Hoa kỳ ngày nay

Hồ và các đồng chí khai thác tận cùng lòng yêu nước và sự câm phẫn của dân tộc Việt đối với Đế

quốc để đưa cuộc chiến đến thành công. Chiến tranh du kích là hình thức đấu tranh của một dân

tộc nghèo, thiếu phương tiện và võ khí nhưng bù đắp bằng can đảm, ý chí, sáng kiến và hy sinh

không giới hạn. CS đã khôn khéo và quỷ quyệt vận dụng lòng ái quốc VN để xích hóa đất nước.

Về tâm lý, Hồ đánh trúng đích. Trong ĐBP, trang 47, Võ Nguyên Giáp ghi lại như sau: "Sau trận

Đông Khê, những ngày chờ địch, Bác nói: Dân mình ghê thật! Chỉ mới năm năm sau 80 năm mất

nước mà đã như thế này! Người ta tính sau 300 năm bị đô hộ thì một dân tộc sẽ bị đồng hóa.

Giao Chỉ bị đô hộ một ngàn năm! Hai ngón chân cái thay đổi, nhưng dân Việt vẫn tồn tại. Bên

trên thay đổi gì thì thay, dưới thôn, làng vẫn thế! Vẫn đền miếu thờ phụng Hai Bà Trưng, Bà

Triệu... Lần này sẽ có một trận như Chi Lăng!" Ở một trang khác, Giáp nhắc lời của Hồ "Có dân

là có tất cả!"

Ngày nay, Bắc bộ phủ đang mất dân. Dân không còn là thành trì bảo vệ chế độ. Quân Đội VN

không xứng đáng được gọi Quân Đội Nhân dân vì đang xa dân để giữ ghế cho Đảng như một tổ

chức cảnh sát đồng lõa, một cánh tay sai biểu của mafia. CSVN đã mị dân, đang mất dân và sẽ

mất tất cả! Điều này khỏi cần được Hồ xác nhận để trở thành chân lý. Hào khí chiến đấu lúc xưa

nay chỉ là kỷ niệm xa xôi, tan theo mây khói. Lửa thiêng đã tắt. Nếu một cuộc chiến xảy ra, tìm

đâu ra những chiến sĩ sẵn lòng vào sanh, ra tử?

Mặt khác, về quan niệm và phương thức chiến tranh, thế giới kỹ thuật ngày đang tiến với đôi hia

ngàn dặm và sẽ không ngừng tại đây. Cuộc chiến cyberwar ở Kosovo giữa NATO và Chính phủ

Milosevic là một thí nghiệm đầu tay điển hình. Chiến thuật mới dựa vào kỹ thuật thông tin thám

thính và kiểm soát khoa học (télésurveillance globale), pháo kích không trật từ trên không gian

bằng tia sáng laser, xử dụng sức mạnh không quân tối đa với một quân số tối thiểu phát xuất từ

các căn cứ hải quân ngoài xứ địch, với mục tiêu chính là làm rối loạn và tê liệt (disruption) thay

vì tàn phá (destruction) đối phương. Tướng Hoa kỳ Wesley Clark, Tổng chỉ huy lực lượng NATO,

mệnh danh chiến lược này là "chiến lược zéro mort, không người chết, tôn trọng sinh mạng."

* * *

Chiến tranh VN là một bài học để suy ngẫm. Đặc biệt về Chính nghĩa và Dân tộc. Dân tộc tạo ra

Chính nghĩa. Lý thuyết chính trị nào, dù sâu sắc đến dâu, thiếu sự ủng hộ của dân, cũng không

thể dùng làm nền tảng cho Chính nghĩa. Lý thuyết ấy chỉ là một trò bịp bợm, trước sau gì cũng lộ

bộ mặt thật. Có thể gạt được một số người, một giai cấp, trong một thời gian nhưng không thể

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

gạt tất cả một dân tộc dài dài và mãi mãi. Các chế độ nắm quyền liên tiếp tại Việtnam - trong

Nam lẫn ngoài Bắc - đến nay vẫn chưa phải thật sự là của dân, do dân chọn tự do, vì thế thất

bại. Vấn đề sống chết của ngày mai là làm sao thu phục và giữ vững lòng dân, thống nhứt nhân

tâm về một mối.

Đừng quá xa vời viển vông. Mộng của người dân Việt đơn sơ, khiêm nhường và thực tế: có đủ ăn

đủ mặc, yên ổn sanh sống, thờ phượng ông bà, được tự do tín ngưỡng, tự do đi lại và tự do ăn

nói, làm chủ căn nhà mình ở, miếng đất mình trồng trọt, không bị cường hào ác bá hiếp đáp đe

dọa và nhứt là có quyền bầu người đại diện xứng đáng. Thỏa mãn được những điều kiện tối

thiểu đó là tạo sức mạnh vô địch cho Chính phủ, hết lo nơm nớp "diễn biến hòa bình" và bất sợ

ngoại xâm. Là có hy vọng thu hút lớp chuyên viên trẻ trở về chung lưng tái thiết đất nước xinh

đẹp hơn. Là xóa mối nhục chậm tiến triền miên 50 năm nay! Lật đổ CS không phải là chuyện

giản dị. Thay thế CS bằng một chế dộ thật sự của dân, bởi dân và vì dân, càng phức tạp hơn.

Ngay cả bom nguyên tử cũng không diệt nổi lòng dân. Không chiến lược hay chiến thuật nào có

hy vọng thành công xóa bỏ một quốc gia xuất phát 100% từ dân. Vì lương tri của Thế giới và

Nhân loại không bao giờ cho phép. Đúng vậy, có dân là có tất cả! Nhưng,.. làm thế nào có Dân?

Một câu hỏi cho lớp người tự xưng là sĩ phu. Giải đáp được thì không còn cộng sản tại Việtnam.

Giải pháp nằm trong tay dân tộc.

LÂM LỄ TRINH

Thủy Hoa Trang

Californie

***

T?I LIỆU THAM KHẢO:

1- "Mây mù thế kỷ" by Bùi Tín (nxb Đa Nguyên, CA, 1998)

2- "China and the first Indochina War 1950-1954" by Chien Jiang in The China Quarterly, 1998,

NY)

3- "On Guerrilla Warfare, On the Protracted War" by Mao Tse Dong (Series Strategic Problems of

China's Revolutionary War, 1980,NY)

4- "After the war was over" by Neil Sheehan (Edit. Random House Inc. NY 1990)

5- "Following Hồ Chí Minh" by Bùi Tín (nxb Hurst & Co.London 1995)

6- "Đại thắng Mùa Xuân" by Văn Tiến Dũng (nxb Quân Đội Nhân Dân, Hànội 1976)

Sau thế chiến thứ 2 tất cả các quốc gia thuộc địa được trao trả độc lập vì vậy 1 số quốc gia ko do

1 đảng phái lãnh đạo nào cũng được tự do, độc lập .Các nước đế quốc như Anh khi trao trả

chính quyền cho dân bản xứ họ đều giúp đỡ, chỉ bảo dân bản xứ cai quản vì vậy 1 số quốc gia

đều đồng lòng sống chung dưới liên hiệp Anh .

Scotland ngày xưa là thuộc địa của Anh cũng có những người đứng lên chống lại thực dân Anh

như Wiliams Wallace nhân vật đã được dựng lên thành phim Trái Tim Dũng Cảm. Vậy chính

quyền Scotland do dân Anh dựng lên có bị coi là ngụy quyền ko? Còn các nước khác như Ailen

,Xứ gan chính quyền cũng do Anh dựng lên chắc cũng bị coi là ngụy quyền cả à ?

. Ví dụ rõ nhất Nước Đức khi phe đồng minh Anh Pháp Mỹ và Liên Xô cùng tiến vào tiêu diệt

chính quyền hitle 2 bên đã đồng ý chia đôi nước Đức mỗi bên do mình cai quản .Vậy chính

quyền Đông Đức và Tây Đức lúc đó sao ko gọi là ngụy luôn ? Còn biết bao các nước khác chính

quyền đều do nước khác dựng lên ( ngay cả chính quyền Nhật Bản & Hàn Quốc đều do Mỹ dựng

lên và thân Mỹ )Nhưng quan trọng là chính quyền và nhân dân đó có được quyền tự do ,quyền

tự quyết hay ko ? Dân Nam Hàn , Nhật Bản , Tây Đức... khi bất đồng quan điểm với Mỹ người

dân dám biểu tình phản đối còn các nước XHCN Đông Âu thời bấy giờ có dám phản đối Liên Xô

^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^

hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com

Allrights reseved by Rosea

HD100506032 http://danghoanghai.999.org

ko? ( LX đã giải phóng họ khỏi phát xít đấy ) và mọi quyết định của họ đều phải được sự đồng ý

cho phép từ phía LX.

VNCH là 1 chính phủ được công nhận và có đại sứ tại các nước thiết lập quan hệ ngoại giao

(Anh , Đài Loan...) chuyện nguoiquansat ko công nhận chắc chỉ 1 mình thôi nhỉ .

.Chẳng biết nhân dân nước đó có nghĩ mình là dân ngụy ko? Nếu gặp 1 người dân Scotland bạn

bảo họ tách ra khỏi liên hiệp Anh làm 1 quốc gia độc lập chắc họ sẽ cười vào mặt bạn đấy . Còn

các nước ''''ngụy'''' ôi sao họ lại được tự do và kinh tế khá giả đến thế nhỉ . Chẳng trách người

dân Đông Đức lại luôn trèo qua bức tường Beclin vượt biên sang Tây Đức , dân Bắc Hàn thì

nghèo đói luôn tìm cách vượt biên sang Nam Hàn , dân Hongkong thì chẳng muốn sống chung

dưới sự cai trị của TQ cả .(trước 1997 đã ồ ạt di dân )

VNCH bị coi là ngụy là do chính quyền miền Bắc muốn thống nhất nên dạy nhân dân như thế để

kích thích lòng chiến đấu của dân miền Bắc & sự chống đối với chính quyền của nhân dân miền

Nam . Cái tài của họ là ở chỗ đó ,nhưng đã để lại cho dân tộc 1 vết thương quá lớn . Chiến tranh

31 năm đã qua rồi quan trọng nhất là bây giờ cả nước 2 miền Nam Bắc hãy cùng nhau góp sức

xây dựng để đưa đất nước đi lên giàu mạnh dân chủ văn minh xin đừng nhắc đến chuyện cũ và

đừng gọi những người thua trận là ngụy nữa . Ko biết nguoiquansat ,chiangsan và tất cả mọi

người có đồng ý ko ?