Tài liệu, bài giảng, văn bản, luận văn, đồ án, tiểu luận...
/28

Luật ném bóng QT

UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO  Số: 1236/QĐ-UBTDTT  CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 6 tháng 08 năm 2003    QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO  (Về việc Ban hành Luật Bóng ném quốc tế) BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO - Căn cứ Nghị định số 22/2003/CĐ-CP ngày 11/03/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Thể dục Thể thao. - Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn Bóng ném; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao II. QUYẾT ĐỊNH Điều 1: Áp dụng Luật bóng ném quốc tế gồm 18 Điều. Điều 2: Luật bóng ném này được áp dụng thống nhất trong các cuộc thi đấu toàn quốc và thi đấu quốc tế ở nước ta. Điều 3: Luật này thay thế cho luật Bóng ném ban hành trước đây và có hiệu lực kể từ ngày ký. Điều 4: Các ông Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Vụ trưởng Vụ Thể thao Thành tích cao II, Giám đốc các Sở Thể dục Thể thao, Sở Văn hoá - Thông tin - Thể thao, Thủ trưởng các Vụ, Đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. BỘ TRƯỞNG - UỶ NHIỆM UỶ BAN TDTT Nguyễn Danh Thái (đã ký) PHẦN I LUẬT THI ĐẤU BÓNG NÉM ĐIỀU LUẬT CHUNG Bóng ném là môn thể thao thi đấu đối kháng giữa hai đội, mỗi đội có 7 người (6 cầu thủ và 1 cầu thủ môn). Mục đích của mỗi đội là ném bóng vào khung thành (cầu môn) đối phương và ngăn cản không cho đối phương giành được bóng hoặc ghi bàn thắng. Người chơi có thể chuyền bóng, bắt bóng, dẫn bóng, lăn bóng, ném bóng hoặc đập nhẹ vào bóng theo bất cứ phương hướng nào nhưng phải tuân theo luật thi đấu. Chú ý: Để đơn giản hoá, sách luật này chủ yếu dùng từ anh ta khi nói đến các đấu thủ, chỉ đạo viên, trọng tài và những người khác. Tuy nhiên, điều luật được áp dụng cho cả nam và nữ, trừ trường hợp các điều có liên quan đến bóng (xem Điều 3). ĐIỀU 1. SÂN BÃI 1.1. Sân thi đấu (hình 1) là một hình chữ nhật có chiều dài 40 mét và chiều rộng 20 mét, gồm 2 vùng cấm địa (Điều 1:4 và Điều 6) và một khu vực thi đấu. Các đường biên dài hơn gọi là đường biên dọc, đường biên ngắn hơn gọi là đường khung thành (ở giữa 2 dọc gôn) hoặc những đường ở bên ngoài khung thành (về hai phía của khung thành). Cần có một hành lang an toàn ở xung quanh sân thi đấu. Hành lang này có độ rộng ít nhất là 1 mét tính từ đường biên dọc và 2 mét tính từ đường khung thành. Các điều kiện của sân thi đấu không được thay đổi trong suốt trận đấu để tạo lợi thế cho một bên. 1.2. Khung thành (hình 2a và 2b) được đặt ở chính giữa mỗi đường cuối sân, gắn chặt với mặt sân hoặc mặt tường phía sau. Mặt trong của khung thành có chiều cao 2 mét và rộng 3 mét. Các cột dọc được nối với xà ngang. Mặt sau của cột dọc thẳng hàng với mép ngoài của đường khung thành. Điểm giao nhau giữa cột dọc và xà ngang là hình vuông, mỗi cạnh dài 8cm. Tại 3 mặt có thể nhìn thấy từ trong sân phải được sơn bằng 2 màu xen kẽ, có gam màu tương phản nhai và nổi bật lên so với phần nền phía sau khung thành. Khung thành phải có lưới được lắp đặt sao cho khi bóng bay vào khung thành thì thường là nằm yên trong lưới. 1.3. Tất cả các đường trên sân đều được tính vào khu vực thi đấu. Đường khung thành có độ rộng 8cm ở phần giữa hai cột dọc (xem hình 2a), còn tất cả các đường khác rộng 5cm. Các đường nằm giữa 2 khu vực sát nhau có thể được thay thế bằng cách vẽ màu khác nhau. 1.4. Trước mỗi khung thành có một vùng cấm địa (xem Điều 6). Vùng cấm địa được xác định bởi vạch cấm địa (đường 6 mét), được vẽ như sau: (i) một đường thẳng dài 3 mét ngay phía trước khung thành, đường này song song với đường khung thành và cách đường khung thành 6 mét (đo từ mép ngoài của đường khung thành đến mép trước của vạch cấm địa); và (ii) 2 đường 1/4 cung tròn, mỗi cung có bán kính 6 mét (tính từ mép bên trong của cột dọc), nối đường thẳng dài 3

+ Xem thêm
Download

Tài liệu miễn phí

thêm vào bộ sưu tập

Lượt xem:74|Tải về:1|Số trang:28

Thông tin tài liệu

Ngày tạo: