/6

Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn THPT

Upload: OngGiaNoel.dokovn|Ngày: 18/07/2013|Lượt xem: 519|Tải về: 12

Më bµi trong v¨n nghÞ luËn A. ®Æt vÊn ®Ò. Chất lượng môn ngữ văn ở trường THPT thường thấp. Bởi tập làm văn là một phân môn khó- đặc trưng của phân môn này là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã được học ở phân môn văn và tiếng việt vào việc làm văn. Mặt khác, ý thức học môn văn của học sinh chưa cao. Không hiếm tình trạng giáo viên chỉ chú trọng đến giờ văn học, xem nhẹ giờ làm văn, chỉ dạy qua loa, chiếu lệ. Biểu hiện rất rõ của học sinh trước một đề văn là thường tỏ ra lúng túng ngay ở khâu tìm hiểu đề, xác định các yêu cầu, cho đến công đoạn vận dụng kiến thức văn chương, lịch sử, xã hội… và năng lực tư duy ngôn ngữ để triển khai, lập dàn ý. Đáng lưu ý hơn nữa là tình trạng mò mẫm trong công đoạn tạo văn bản hoàn chỉnh. Nhiều bài viết của học sinh còn bộc lộ tình trạng làm bài mà không hề có ý thức về việc vận dụng kiến thức mà môn làm văn đã cung cấp, bỏ qua công đoạn phân tích, tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý, cứ đề ra thì bắt tay vào viết: nghĩ sao viết vậy, lắp ghép câu chữ tùy tiện, quanh quẩn lặp lại những điều đã viết, đến lúc không nghĩ ra được điều gì nữa thì kết thúc bài. Đó là những bài văn lạc đề, lệch đề, không có kết cấu, đoạn mạch rõ ràng, đầy những câu văn “bất thành cú”, từ ngữ thiếu chính xác, sai chính tả. Sau đây là trích một số đoạn của HS: (1) “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng. Đây mùa thu tới, mùa thu tới, Với áo mơ phai dệt lá vàng.” Khổ thơ trên nói lên hình ảnh của một người con gái đã có chồng thì bây giờ chồng qua đời cô cảm thấy cô đơn, cô lo nghĩ không biết số phận mình ra sao, cuộc đời cô thật bất hạnh đã chịu sự đau thương tang tóc trước sự mất mát to lớn đó không thể nào bù đắp được cho cô. (2) Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng: giọt lệ như mưa, một nỗi buồn vẫn mêng mông bao la, nỗi xa người yêu là thế. Mọi người chúng ta ai ai đều có sự yêu thương vậy mà thực dân chủ nghĩa tư bản Phương tây nó không có trái tim hay sao? Nó không có nước mắt hay sao. Đó là những bài văn cho thấy rõ kiến thức văn học và kĩ năng làm văn của học sinh quá kém cõi. Làm thế nào để học sinh phổ thông có những bài văn nghị luận hành văn trôi chảy, lôgic, mạch lạc? Đó là câu hỏi của rất nhiều giáo viên dạy bộ môn văn. Vậy để điều đó trở thành hiện thực đòi hỏi người giáo viên phải tốn nhiều công sức tìm phương pháp phù hợp. Riêng đối với tôi, qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra được một số phương pháp giúp học sinh làm tốt một bài văn nghị luận. Nhưng do điều kiện khách quan, do yêu cầu một bài sáng kiến kinh nghiệm người viết chỉ chọn một vấn đề của bài văn nghị luận: cách viết mở bài. Trong bài văn phần mở bài là phần phụ, không quan trọng, nhưng có thể nói phần này lại là phần “hồn” của bài văn nghị luận. Đọc phần mở bài, giáo viên có thể nhận biết trình độ, năng khiếu viết văn của học sinh, có thể đánh giá năng lực học văn của học sinh. B. gi¶i quyÕt vÊn ®Ò I. C¸ch thøc tiÕn hµnh: 1.Viết các câu dẫn nhập. Viết các câu dẫn nhập nói chung là khó. Bởi vì câu dẫn nhập đầu tiên là câu văn “khởi động” cả quá trình tạo văn bản phức tạp. Nó chi phối, quy định các câu tiếp theo, nên có thể gây khó khăn hay tạo điều kiện thuận lợi cho người viết trong việc dẫn nhập. Tuy nhiên về phương diện tâm lý, nếu có ý thức rõ về bước “khởi động” quan trọng này, viết dẫn nhập vẫn không phải là chuyện nan giải. Trước hết cần xác định rõ điểm “xuất phát” và khoảng cách giữa điểm “xuất phát” với đề tài được bàn luận trong bài. Chẳng hạn, nếu đề tài được bàn luận là nhân vật thì điểm xuất phát gần nhất là tác phẩm, xa hơn nữa là tác giả, hoàn cảnh sáng tác, là bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội có liên quan đến tác phẩm; xa hơn nữa là trào lưu sáng tác, giai đoạn văn học…..Có thể minh họa điều này bằng một ví dụ cụ thể. Trong trường hợp đề văn yêu cầu phân tích nhân vật Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” của nhà văn Nam Cao, thì trong phần mở bài có thể chọn điểm xuất phát và từng bước dẫn vào như sau: (1) Vị trí của Nam Cao trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt nam thế ký XX, giai đoạn 1930-1945. (2) Hai loại đề tài mà Nam Cao thường khai thác trong các sáng tác trước năm 1945. (3) “Đời thừa”- một thành công tiêu biểu của Nam Cao về đề tài người trí thức nghèo. (4) Nhân vật Hộ trong tác phẩm ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn Nam Cao. Trên cơ sở xuất phát điểm đã xác định, người viết từng bước dẫn vào đề bài bằng những câu trần thuật nêu nhận định, câu nghi vấn, hay phối hợp câu trần thuật với câu nghi vấn. Chẳng hạn, có thể viết mở bài về nhân vật Hộ như sau: Nam Cao là một trong những đại biểu xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ở giai đoạn văn học này nhà văn tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống cùng quẫn, thê thảm của người nông dân ở nông thôn và cuộc sống mòn mỏi, bế tắc của người trí thức nghèo ở thành thị. Trong những truyện viết về người trí thức, có thể nói “Đời thừa” là một thành công tiêu biểu. Nhân vật trung tâm của truyện là nhà văn Hộ, một nhân vật ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn Nam Cao. Nếu bài viết bàn về truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân, có thể chọn điểm xuất phát và các bước dẫn vào đề bài: (1). Kim Lân, một hiện tượng đặc biệt trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. (2). “Vợ nhặt” một kiệt tác của Kim Lân và của nền văn xuôi Việt Nam thế kỉ 20. (3). Nạm đói năm Ất Dậu và hướng khai thác đề tài độc đáo, sáng tạo của Kim Lân. Trên cơ sở đó, có thể dẫn nhập: Kim Lân là một hiện tượng đặc biệt trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Cả cuộc đời cầm bút, ông viết không nhiều. Nhưng khi đề cập đến thành tựu của truyện ngắn hiện đại Việt Nam, không ai không nghĩ đến “Vợ nhặt” của ông, một kiệt tác văn xuôi của thế kỉ XX. Đề tài của truyện là nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, đã được nhà văn khai thác một cách độc đáo, đầy sáng tạo. Cũng có thể lấy ngay đề tài làm điểm xuất phát để dẫn nhập, nghĩa là câu mở đầu của bài viết nêu lên nhận định về chính đề tài. Chẳng hạn có thể vào “Vợ nhặt” như sau: “Vợ nhặt” là một kiệt tác của Kim Lân, đồng thời cũng là kiệt tác của nền văn xuôi thế kỉ XX. Yêu cầu hµng đầu của việc dẫn nhập là “tự nhiên” và có “hướng đích xác định”. CÇn tránh lối dẫn nhập màu mè, gượng ép hay phô trương kiÕn thức một cách vô bổ mà không có giá trị thông tin. 2. Viết câu luận đề: Nêu luận đề là bước nối tiếp dẫn nhập, nếu người viết muốn nêu luận đề ngay trong phần mở bài. Luận đề có thể được nêu trong cả câu luận đề hay một thành phần câu, một cú nào đó. Câu luận đề có thể là câu đơn, câu ghép, và là câu trần thuật, khẳng định, nêu lên một nhận định khái quát, với hai thành tố nội dung cơ bản: Đối tượng và đặc trưng của đối tượng. Yêu cầu cơ bản của câu văn này là phải bao quát được luận đề và xác định về đối tượng và nội dung nhận định. Chẳng hạn, có thể viết câu luận đề tiếp nối theo hai chuỗi câu dẫn nhập ở trên tạo thành hai phần mở bài hoàn chỉnh Mở bài 1: Nam Cao là một trong những đại biểu xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ở giai đoạn văn học này nhà văn tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống cùng quẫn, thê thảm của người nông dân ở nông thôn và cuộc sống mòn mỏi, bế tắc của người trí thức nghèo ở thành thị. Trong những truyện viết về người trí thức, có thể nói “Đời thừa” là một thành công tiêu biểu. Nhân vật trung tâm của truyện là nhà văn Hộ, một nhân vật ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn Nam Cao. Qua cuộc đời của nhà văn Hộ, Nam Cao đã làm nổi bật lên sự sa sút, thui chột về tài năng và nhân cách của người trí thức trong hoàn cảnh bần cùng, bế tắc. Mở bài 2: Kim Lân là một hiện tượng đặc biệt trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Cả cuộc đời cầm bút, ông viết không nhiều. Nhưng khi đề cập đến thành tựu của truyện ngắn hiện đại Việt Nam, không ai không nghĩ đến “Vợ nhặt” của ông, một kiệt tác văn xuôi của thế kỉ XX. Đề tài của truyện là nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, đã được nhà văn khai thác một cách độc đáo, đầy sáng tạo.Qua sự kiện Tràng tình cờ nhặt được vợ, Kim Lân đã làm nổi bật lên vấn đề giá trị, nhân phẩm của con người và những phẩm chất tốt đẹp của người lao động cùng khổ trong hoàn cảnh xã hội khủng hoảng, đen tối. Ngoài cách nêu luận đề một cách rõ ràng xác định người viết có thể nêu luận đề một cách lấp luẫn: có nói đến khái niệm vấn đề kèm theo sự đánh giá nhưng không nói rõ nội dung của vấn đề là gì. Trong phần mở bài, người viết còn có thể không nêu vấn đề, chỉ dẫn nhặt bình thường hay dẫn nhập vào tình huống mang tính chất tranh luận rồi bỏ lửng. Trong những trường hợp này, luận đề sẽ được người viết khái quát lại nêu ra sau, ở cuối phần thân bài hay kết bài. Chẳng hạn, có thể mở bài cho bài nghị luận phân tích truyện “Chí Phèo” của Nam Cao: cách dẫn vào tình huống tranh luận về chủ đề của tác phẩm này. “Chí Phèo” là một kiệt tác của Nam Cao và là kiệt tác của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay, chung quanh chủ đề của tác phẩm này, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có quan niệm cho rằng chủ đề của “Chí Phèo” là sự tha hoá biến chất của một bộ phận nông dân Việt Nam dưới ách áp bức, bóc lột cùng cực của bọn thực dân phong kiến.(Hà Minh Đức chủ biên: “Lý luận văn học”- NXB Giáo Dục, 2000) Quan niệm khác thì lại cho rằng: “Vẽ nên hình ảnh người nông dân lưu manh đầy thú tính, Nam Cao không bôi nhọ nông dân, mà trái lại đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân ngay trong khi họ bị rạch nát bộ mặt người, giết chết tâm hồn người” (“Li