/14

SKKN Phụ đạo học sinh yếu kém

Upload: KitaPhan.dokovn|Ngày: 18/07/2013|Lượt xem: 248|Tải về: 4

Mở đầu : - Hiện nay trong dạy học toán học , có tình trạng là nhiều học sinh không giải được bài toán , do đó những học sinh này không có điều kiện để hiểu rõ thêm những tri thức toán học , mà còn dễ bi quan , thiếu tự tin ,mất hứng thú trong học tập .Vì sao lại có tình trạng này , trước tiên chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân : Về phía giáo viên : - Thiên về cung cấp bài giải , cho học sinh tiếp thu một cách thụ động , việc trình bày một bài giải có sẵn cũng làm cho nhận thức của học sinh > tức là học sinh có hiểu . Nhưng việc hiểu một cách thụ động như thế không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ . Sự bừng sáng như vậy có một tính chất tâm lý hoàn toàn khác vơí sự bừng sáng nảy sinh, khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tòi cách giải . -Thường bằng lòng và kết thúc công việc khi đã tìm được một cách giải nào đó , chưa chú trọng ý hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm tòi cách giải khác, cách giải hay hơn , hoặc khai thác thêm ở bài toán vừa giải nhằm phát huy tư duy linh hoạt và sáng tạo của học sinh ; chúng ta thường chú ý đến số lượng hơn chất lượng bài giải. Về phía học sinh : -Rất lúng túng , không biết làm gì , bắt đầu từ đâu , đi theo hướng nào , không biết liên hệ những điều nói trong bài toán với những kiến thức nào đã học , không phân biệt điều đã cho với điều cần phải tìm, nên không biết cách làm. -Suy luận kém , chưa hiểu thế nào là chứng minh , cho nên lý luận thiếu căn cứ , không chính xác , không chặt chẽ , không nắm được phương pháp tư duy, phương pháp cơ bản giải toán, suy nghĩ rất hời hợt , máy móc. Không biết rút kinh nghiệm về bài vừa giải , nên thường lúng túng trước những bài toán khác đôi chút với bài quen giải . -Trình bày bài giải không tốt , hình vẽ không chính xác, rõ ràng,ngôn ngữ và ký hiệu tuỳ tiện ; câu văn lủng củng , không ngắn gọn , sáng sủa , lập luận thiếu căn cứ, không khoa học , không lô-gich. Những khuyết điểm trên đây của học sinh , do chúng ta chưa quan tâm đầy đủ đến việc uốn nắn trong những bước đi ban đầu . Cho nên, học sinh thường mắc những sai lầm ngay cả khi thực hiện nhũng thao tác rất đơn giản. Vậy chúng ta cần có những biện pháp để học sinh giải được toán, nhất là đối với học sinh yếu kém , giáo viên cần hưóng dẫn học sinh, khi giải một bài toán nên thực hiện các bước sau đây : + Tìm hiểu đề bài + Cách tìm lời giải + Cách giải + Khai thác bài toán + Các bài tâp tương tự( Học sinh tự giải ) Nội dung : *Phần đại số : Bài 1: Tính giá trị các biểu thức sau : a)  -  Với x =  b)  Với x = 1+  Tìm hiểu đề bài : Đề bài cho các biểu thức dưới dạng có thể rút gọn được , sau đó yêu cầu tính giá trị ứng với các giá trị đã cho của các chữ . Hướng dẫn cách tìm lời giải: Các biểu thức dưới dấu căn đều là hằng đẳng thức đáng nhớ dạng ( A- B ) 2. Khi rút gọn lưu ý đến hằng đẳng thức = / M / Thay giá trị của x vào biểu thức  và lưu ý cách viết 2 =  để rút gọn cho nhanh . Cách giải : a)  = / 3x2- 1 / - / 2x2 –3 / Thay giá trị x =  ta có giá trị biểu thức biểu thức là : / 3.()2 – 1 / - / 2 .()2 - 3 / = 8 – 3 = 5 Thay x = 1 +  vào biểu thức đã cho được: . Khai thác bài toán : Gặp trường hợp  +  ta làm như sau : = = 2 ( vì 1 ) Ở câu b) nếu ta cho x = 2+ thì giá trị biểu thức sẽ là : . Ở câu a, nếu bài ra cho : Tìm điều kiện để biểu thức sau có nghĩa , tức là ta đổi dấu tất cả số hạng dưới dấu căn , thì trước hết phải viết như sau :  Biếu thức dưới dấu thứ nhất chỉ có nghĩa khi –( 3x2 – 1)2  tức là (3x2-1)2  nhưng (3x2-1)2 không thể âm nên 3x2 –1=0 hay x2 = x= Tương tự biểu thức dưới dấu căn thứ hai có