/5

TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC 10

Upload: ShellyMoon.dokovn|Ngày: 18/07/2013|Lượt xem: 780|Tải về: 6

Tổng kết phần văn học PHẦN I: VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX STT Tên tác giả Tên tác phẩm Thể loại Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật  1 Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) Tỏ lòng (Thuật hoài) Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại, thể hiện “hào khí Đông A” của thời đại nhà Trần. Bài thơ Đường luật ngắn gọn, thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng khát quát, đạt tới độ súc tích cao.  2 Nguyễn Trãi (1380 – 1442) Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) Thất ngôn bát cú Đường luật, xen lục ngôn Bài thơ này tả cảnh ngày hè cho thấy tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước. Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm, hình gần gần gũi, câu chữ ngắn gọn, dồn nén cảm xúc.  3 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) Nhàn Thất ngôn bát cú Đường luật Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt trên danh lợi. Hình ảnh thơ giản dị, biểu cảm, cách ngắt nhịp linh hoạt, sử dụng nghệ thuật đối lập.  4 Nguyễn Du (1765 – 1820) Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) Thất ngôn bát cú Đường luật Cảm xúc suy tư về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài văn chương trong XHPK. Điều đó cũng nói lên một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp. Từ ngữ ngắn gọn, hàm súc, cô đọng, hình ảnh ước lệ tượng trưng, sự phá cách khuôn mẫu thơ Đường luật.  5 Thiền sư Pháp Thuận (915 – 990) Vận nước (Quốc tộ) Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật Bài thơ có ý nghĩa như một lời tuyên ngôn hoà bình; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu nước, khát khao đất nước được thái bình, nhân dân ấm no hanh phúc của tác giả. Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, so sánh độc đáo.  6 Thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) Thể kệ Bài thơ bộc lộ tâm trạng, lạc quan, bình thản của tác giả trước cuộc đời. Qua đó giáo dục con người phải có bản lĩnh sống và biết lựa chọn một cuộc sống có ý nghĩa. Ngôn ngữ hàm súc, uyên thâm.  7 Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) Hứng trở về (Quy hứng) Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Bài thơ bộc lộ lòng yêu nước và niềm tự hào về dân tộc của một con người giàu tình, nặng nghĩa với quê hương. Hình ảnh thơ bình dị, dân dã, sử dụng biện pháp đối lập.  8 Trương Hán Siêu (? – 1354) Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú) Thể phú Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp của việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử. Là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam: bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt, ngôn từ vừa trang trọng, vừa gợi cảm; hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình sắc trực tiếp, vừa mang ý nghĩa khái quát triết lí.  9 Nguyễn Trãi (1380 – 1442) Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo) Thể cáo Đại cáo bình Ngô được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai; đồng thời nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chân lí độc lập của dân tộc, tố cáo tội ác của kẻ thù xâm lược, tái hiện quá trình kháng chiến hào hùng, tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử. Kết hợp hài hoà hai yếu tố: chính luận sắc bén và văn chương trữ tình. Tác phẩm mang đậm cảm hứng anh hùng ca, một áng “ thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta.  10 Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh và năm mất) Tựa “Trích diễm thi tập” Văn xuôi Trích diễm thi tập thể hiện niềm tự hào dân tộc, sự