Tài liệu, bài giảng, văn bản, luận văn, đồ án, tiểu luận...
Download

Truyện Ngắn Hội Nhà Văn Việt Nam - Phần 5

Lượt xem:275|Tải về:2|Số trang:0 | Ngày upload:17/01/2012

Mục lụcGò Sim_ 2Đêm trắng_ 7Một cuộc đua_ 11Rửa mặt Sông trong_ 15Nguồn cảm mới 19Chim di trú vừa bay vừa ngủ_ 21Quan liêm quan tham_ 27Người thợ sửa giày góc phố_ 32Chuyện nhặt dưới chân núi Phanxiphăng_ 36Tiếng gà_ 39Bằng lăng_ 40Trăng nơi đáy giếng_ 43Tiếng an dân_ 49Đi một ngày đường_ 55Chuyến đi vòng quanh xóm_ 60Lan Hoàng Vũ_ 66Chuyến xe chiều ba mươi 71Tiếng hót 73Cành san hô đỏ_ 74Hương vị của trái cây 74Cây bồ kếp lá vàng_ 75Khách không mời 82Người về thả khói tìm xưa_ 88Năm quan_ 93Cá

Mục lụcGò Sim_ 2

Đêm trắng_ 7Một cuộc đua_ 11

Rửa mặt Sông trong_ 15Nguồn cảm mới 19

Chim di trú vừa bay vừa ngủ_ 21Quan liêm quan tham_ 27

Người thợ sửa giày góc phố_ 32Chuyện nhặt dưới chân núi Phanxiphăng_ 36

Tiếng gà_ 39Bằng lăng_ 40

Trăng nơi đáy giếng_ 43Tiếng an dân_ 49

Đi một ngày đường_ 55Chuyến đi vòng quanh xóm_ 60

Lan Hoàng Vũ_ 66Chuyến xe chiều ba mươi 71

Tiếng hót 73Cành san hô đỏ_ 74

Hương vị của trái cây 74Cây bồ kếp lá vàng_ 75

Khách không mời 82Người về thả khói tìm xưa_ 88

Năm quan_ 93Cánh cò trở về 97

Gió lỡ thì 106Ngọn gió sân chùa_ 112

Thằng Xót 116Đầu máy hơi nước 119

Mầm sống_ 123

Gò Sim

Cô giáo Huấn vừa đến chân Gò Sim thì trời đổ mưa to. Cô nhác quay lại đằng sau, thấy chỗ đất vừa đi qua tự nhiên nẻ toác bằng miệng mương, bao nhiêu nướcmưa đục như pha máu chảy từ trên đồi thun thút đổ xuống mà không đầy. Cô lạ nhất là việc đất gò toàn đá ong, bên trên mọc đủ các loại cây như sim, chó đẻ, cứt

mưa đục như pha máu chảy từ trên đồi thun thút đổ xuống mà không đầy. Cô lạ nhất là việc đất gò toàn đá ong, bên trên mọc đủ các loại cây như sim, chó đẻ, cứtlợn, không hiểu sao nước phọt ra lại đỏ như máu.

Lên đến đỉnh gò, mưa quất rát mặt, gió như bão. Cô giáo Huấn ngấm nước mưa, run cầm cập bước vào cái quán bỏ trống. Cô sững lại khi thấy có người đứngbên trong. Đấy là một thằng học trò, thân hình to lớn vạm vỡ. Nó tên là Trổ. Cô giáo Huấn đã hai lần kỷ luật thằng Trổ vì những trò mất dạy của nó. Nó đã bị đuổi

học. Cô ngại, nhưng vẫn hỏi làm sao nó ở đây. Nó trả lời:- Tôi đi theo cô từ lúc trời chưa mưa.

- Theo để làm gì?- Để kỷ luật cô.

Nó thản nhiên đáp và nhìn chằm chằm bộ ngực lộ ra dưới áo ướt. Bất thình lình, nó giơ hai tay như hai cái càng cua quắp chặt cứng lấy cô giáo Huấn. Cô giáosợ, đơ cả người. Nó giơ chân ngáng phía sau, vật cô ngã ngửa xuống chiếc chõng tre. Cô ú ớ kêu tôi bị quỷ hiếp rồi lặng im như chết. Giữa lúc ấy bỗng có tiếng

trống khua và tiếng chân chạy huỳnh huỵch. Thằng học trò hoảng hốt xốc quần, nhổ một bãi nước bọt rồi bỏ chạy biến vào trong mưa mờ mịt.*

Sư trụ trì đang ngồi thiền dưới một gốc cây đại già sần sùi. Bỗng ông ngửi trong gió có mùi tanh. Tuy không mở mắt, ông vẫn thấy một con chó đang bò đến gầnvà mùi tanh bốc lên từ nó. Cả mùi cả tiếng động làm nhà sư phân tâm. Nhà sư mở mắt, thấy một thằng người quỳ dưới chân ông.

- Nam mô a di đà phật! Sao lại quỳ ở đây?Thằng người ngẩng lên nhìn, mắt lồi như mắt lợn luộc, môi tái như cà thâm, răng trắng và nhọn như răng chó, tưởng là vong vừa từ âm ty địa ngục đội đất chui

lên.- Bạch thầy, con bị truy đuổi, xin cho con trốn vào chùa.

- Giết người?- Không.

- Cướp của?- Chưa.

- Trộm cắp?- Tý tỉnh.

- Lừa đảo?- Thảng hoặc.

- Vậy làm sao bị truy đuổi?- Hiếp dâm.

Nó vẫn thản nhiên. Nhà sư rùng mình thốt lên:- Thiện tai. Người tục tĩu thế không ở đây được.

Thằng người rúc mặt vào chân nhà sư ở thế kiết già. Đấy là một cái rúc mặt nịnh bợ nghề ngón điêu luyện rất thời thượng. Nhà sư biết thừa là nó nịnh, nhưngkhông nịnh bợ không thành thiên hạ.

- Sư cứu con, bảo con làm chó, con cũng xin nhận.Sư trụ trì nhìn thông thống “bản lai diện mục” của thằng người này toàn ô trọc, kín bưng hôn ám. Nó là loại người-ma luôn bị giày vò bởi dục vọng. Nhưng thôi,

Phật đường là nhà chung của chúng sinh, ta không có quyền cấm cửa nó. Để nó trông vườn chùa. Vườn chùa rộng thênh thang, cây cối âm u, bọn nghiện đến chíchchoác, trai gái đến làm chuyện đực cái. Thằng này trông vườn biết đâu có duyên cơ cho nó tu tỉnh.

- Người ở lại gác chùa.- Bạch thầy, vậy cũng là chó.

Nó cười nhạt.Thế là thằng Trổ ở lại gác chùa. Nó học rất nhanh những lời nói ngon ngọt làm vừa lòng các tăng ni trong chùa. Buổi tối nó đi lại ngang dọc trong vườn, hễ chích

choác thì đuổi, đực cái thì để. Nó tự rung động theo những khoái cảm của cặp trai gái, thỉnh thoảng không kìm được lại rú lên khiến những người đang làm tình chạyđứt dép.

Từ lâu sư trụ trì nuôi một con tê giác trong khuôn viên chùa. Chiếc sừng như cái măng tre to chụp trên đầu con tê giác. Đã có lần thằng Trổ sờ lên cái sừng ấy,để cho đầu nhọn gại gại vào giữa lòng bàn tay tê tê buồn buồn. Một buổi chiều có hai người đeo kính đen trông như bọn cướp trong truyện tranh của trẻ con,

nghiêng ngó đi vào vườn. Chúng bỏ kính ra cầm trên tay, gọi thằng Trổ:- Này thằng kia, cho hỏi tí.

- Phải gọi là chú tiểu. Hỏi cái gì?- Có mà tiểu... tiện. Ông cho quả tống thì đái ra quần. Sướng tiền không?

- Vớ vẩn, tiền ai chả sướng. Định giở trò đểu gì?- Bán cho các bố mày cái sừng tê giác.

- Thiện tai, thiện tai! Thất đức quá.Hai thằng cướp đeo kính vào, cười hinh hích.

- Chúng ông lạ đéo gì mày mà đức với chả độ. Thế này nhé, mày cưa phéng cái sừng đưa cho chúng ông, chúng ông trả nhiều tiền.- Sừng tê giác để làm gì?

- Thần dược đấy.- Mô phật. Nôn bao nhiêu?

- Một ngàn đô, xong chưa?Thằng Trổ chóng mặt, suýt ngã khi nghe đến con số một ngàn Mỹ kim. Nó không ngờ kiếm tiền dễ đến thế.

Đêm ấy trăng rằm tãi sáng vườn chùa. Nó xoa xoa tay lên mông con tê giác to như mông con trâu mộng rồi bất thình lình chọc kim vào đấy, bơm một liều thuốcmê. Con tê giác đổ vật xuống, nó lấy cưa điện cưa đánh xoẹt. Cái sừng rời ra, nó lấy lá chuối khô bọc vào. Một lúc sau nó lấy chân đá con tê giác. Con tê giác

không sừng giống như kỵ sĩ không đầu vùng dậy chạy xiêu vẹo trong vườn. Bọn nghiện tưởng quỷ đuổi, vứt cả kim tiêm mà bán xới. Thằng Trổ bật cười khanhkhách nghĩ rằng chúng có chạy trốn pháp luật cũng không nhanh như thế. Nó ôm nắm lá chuối bên trong có cái sừng tê giác đi xuống chỗ hẹn, ngật ngưỡng niệm

hồng danh Đức Phật theo kiểu nó đã học lõm bõm từ nhà sư trụ trì:“Om ma ni pát mê hồng...”

Gặp hai thằng cướp, nó vừa bán được cái sừng tê giác vừa dò la được tin về cô giáo Huấn. Hóa ra chẳng có cô giáo nào chết, cũng chẳng có ai truy đuổi nó.Cô giáo vẫn đi dạy học như không có gì xảy ra. Cô giấu biến chuyện trên Gò Sim. Hay ho gì mà kể toáng lên. Thế là thằng Trổ nghĩ tới việc mau chóng bỏ chùa.

Cô giáo vẫn đi dạy học như không có gì xảy ra. Cô giấu biến chuyện trên Gò Sim. Hay ho gì mà kể toáng lên. Thế là thằng Trổ nghĩ tới việc mau chóng bỏ chùa.Nhà sư vẫn thấy con tê giác thấp thoáng trong vườn thì yên tâm nhưng không biết nó đã mất sừng. Cũng như thấy thằng Trổ còn quanh quẩn đấy nhưng không

biết bụng dạ nó đã bỏ đi. Đến một buổi chiều thấy ni cô ngồi khóc, nhà sư hỏi:- Cớ sao khóc?

- Bạch thầy, thằng súc sinh sàm sỡ...- Nó đâu?

- Nó đang bỏ đi kia kìa.Số là chiều ấy thằng Trổ quyết định bỏ chùa. Ra đến cổng, nó thấy ni cô vừa đi xe Uây-vờ vừa nói chuyện bằng máy điện thoại di động Nôi-ka màu trắng.

Thằng Trổ nghĩ thày tu ngày xưa không thế. Nó dừng ni cô lại, giằng lấy điện thoại, nhân thể thọc tay vào ngực người ta bóp nhéo chơi. Ni cô cay cú không phải vìchuyện nhũ hoa bị xâm phạm mà vì bị mất chiếc Nôi-ka giá mười triệu đồng nên ra khóc dưới gốc mít.

Ra khỏi chùa, thằng Trổ nghĩ ngay tới việc đi liên hiệp xí nghiệp thịt chó phè phỡn. Nó rất thích xem người ta cắt tiết chó, hứng cái chậu nhựa đón tiết rồi thọc tayvào khoắng. Xưa, có lần liên hoan, lớp nó cắt cổ con chó mực mười bảy cân, nó cũng thọc tay vào chậu máu như thế. Máu ấm như pha nước nóng. Cô giáo Huấn

đứng cạnh, buột miệng nói: tiếc thay tay đã nhúng chàm. Nó quay lại nhìn, thấy cái cúc áo ở ngực cô vô tình bật ra. Nó nghĩ đến việc kỷ luật cô từ đấy. Vừa đi vừamiên man nghĩ ngợi rượu thịt, thằng Trổ đã đến chỗ rẽ vào làng. Bỗng có người gọi nó:

- Này anh kia, mua thịt em đi. Đùi, mông, bụng đây, vừa ngon vừa rẻ bất ngờ!Nó quay lại, thấy cô mũm mĩm bán thịt lợn, một tay giữ đùi, một tay ngoáy con dao xoèn xoẹt gại như múa. Thằng Trổ xấn ngay đến, mắt sáng lên nhìn người đàn

bà quần xắn móng lợn, áo phin cộc tay, trông vào đâu nó cũng thấy rực người lên. Người đàn bà biết thằng đàn ông trước mặt đang thèm mình, cũng rực lên. Chúngnó kéo nhau ra ngay Gò Sim để làm việc ấy. Dưới là cỏ, trên là mặt trời, thằng Trổ làu bàu đếch làm được nhiều. Con bán thịt lợn kéo nó úp vào mình, nói:

- Thôi, để tối em cho nữa.Con này tên Nị, Nị Ba Chỉ. Từ đấy chúng ở với nhau, nó bảo: như cậu với mợ.

*Bây giờ thằng Trổ đã thành chủ đầu tư bất động sản, tóc nhuộm vàng, đeo kính đen, dây chuyền vàng nặng hai lượng như cái xích xe mi ni trên cổ, đồng hồ thủy

quân lục chiến đa chức năng trên tay. Riêng điện thoại thì nó vẫn dùng cái cướp được của ni cô. Nó bảo đấy là vật kỷ niệm thời hàn vi. Con Nị đã có dáng bà lớnnhưng không bỏ được thói quen xắn quần móng lợn. Mông má đắp điếm thế nào thì gốc gác vẫn tòi ra. Chúng nó ăn ở với nhau hợp lắm, đầu óc thằng Trổ đầy trò

đểu giả, con Nị thừa mẹo moi tiền.Hôm nay mười bốn ta, con Nị sắm về đủ thứ lễ, kéo áo Trổ nói:

- Hôm nay mười bốn mai rằm, anh muốn ăn oản thì đem những thứ này lên mà thăm trụ trì. Em biện lễ cả rồi đây.Nị lúng liếng cặp mắt lá răm kéo Trổ ngồi lại bên mình.

- Nghe nói sư thầy đang có ý định tô lại tượng hai ông hộ pháp?- Xì đểu hả?

- Anh đem tiền nộp vào công đức chục triệu.- Nhiều thế, mới nộp dăm chục triệu tháng trước.

- Biết bao nhiêu cho vừa! Mà dăm chục triệu của anh bây giờ không bằng tiền mươi mét đất trong số hơn dăm sào đất lấn chùa anh mua đâu nhé.Trong lúc hai đứa đang nói những chuyện như thế thì có người đi vào nhà. Trổ nhìn lên, nhận ra Tộ, thằng lái trâu ở đầu làng. Tộ là người tốt nghiệp đại học

nhưng không tìm được việc gì nhiều tiền hơn là buôn trâu thịt. Trổ còn nghe nói thằng này đang có dự án buôn ngựa giả làm thịt bò bỏ cho khắp các hiệu phở. Thằngnày chân chưa bước vào nhà mồm đã tưa lưa:

- Em chào anh, em chào chị. Nắng nóng cứ ngồi nhà điều hòa như anh chị thế này thật dễ chịu quá.Nị nheo đôi mắt lá răm, hỏi:

- Chú có việc gì mà chưa sáng ra đã xỏ xiên?- Không dám, bé gan như em làm sao dám xỏ chị. Em đến nhờ anh chị một việc, có chút lòng thành để anh chị uống nước trong ngày nóng.

Đôi mắt lá răm nhẹ liếc chiếc phong bì vừa đặt lên bàn. Trổ hỏi:- Mày định bàn về dự án thịt ngựa chứ gì? Anh chị sẵn sàng đầu tư, tuy nhiên thịt ngựa giả làm thịt bò liệu có khả thi không?

- Ông anh còn lạ gì mà hỏi em. So với đất ruộng đem ra nặn thành cứt Cổ Nhuế để bón rau, chó chết ở bãi rác Sóc Sơn nhặt về nấu rựa mận bán nhắm rượu thìthịt ngựa giả bò còn lương thiện chán. Nhưng mà em không bàn việc đó. Bây giờ nhiều thứ giả quá rồi, lộng giả thành chân.

- Tiên sư thằng lái trâu nói chữ, anh hiểu làm sao được.- Em xin lỗi. Em nhờ anh việc khác.

- Việc gì?- Anh chị chạy cho em chân chú tiểu.

Lúc ấy Nị đang công nhiên đếm tiền trong phong bì, nghe Tộ nói thế cũng phải dừng tay, thô lố mắt nhìn lên.- Em ngắm kỹ rồi. Cái dăm sào đất của anh chị nó bén ngay vào mẫu vườn chùa. Trước đây anh là chú tiểu, đã gác vườn chùa, anh biết, nhà chùa cần quái gì

nhiều đất thế. Em chạy được cái chân tiểu, em làm tay trong cho anh chị, thế nào một mẫu đất ấy cũng táp vào chỗ dăm sào của anh chị. Bao nhiêu là đất nôngnghiệp, đất nông trường còn chuyển đổi được, một mẫu đất vườn chùa ăn thua gì.

Trổ và Nị ớ ra ngạc nhiên rồi hoan hỉ. Nị cảnh giác ngay:- Phần chú được gì?

- Em là người môi giới dự án, chỉ xin 5%, luật rồi. Công việc khó khăn, anh chị thưởng cho em 5% nữa, cả thảy là 10%. Xong xuôi, tự nhiên em có một sào đất.Một sào đất, buôn trâu cả một kiếp cũng không có.

Trổ gào lên đầy phấn khích:- Giỏi, thằng này giỏi. Kế hoạch thực hiện thế nào?

- Phải có kế hoạch ba bước. Bước một, phấn đấu trở thành tiểu. Anh sợ em là loại rượu thịt, không đủ cơ duyên, đúng không? Xin đại ca yên tâm, cũng mua cảấy mà. Tiếp theo, vươn tới làm trưởng ban công đức. Lúc ấy anh chị cứ bơm thật nhiều tiền vào. Tiền xối xả như đạn liên thanh, tập trung công phá như tên lửa Tô-

ma-hốc là thành công. Cuối cùng phải đạt được cái trưởng ban trị sự chùa, đấy là lúc dứt điểm.Thằng Trổ cười hú, khoái trá.

- Tao không ngờ mày lại nắm chắc quy luật tiền sinh ra đất, đất đẻ ra vô khối tiền đến thế.Ba đứa hăm hở đi ngay lên chùa. Nị thuê người đội hai mâm xôi oản, trên có gà sống thiến luộc vàng ngậy mỏ ngậm đóa hoa hồng. Trổ và Tộ đi sau Nị. Bước

vào cổng chùa, bọn chúng khoái trá hít hà mùi thơm hoa đại. Sư thầy đang ngồi kiết già, biết có người đi vào bèn mở mắt nhìn chúng. Nị nói, con mắt lá răm đongđưa:

đưa:- Bạch thầy, hôm nay mười bốn, chúng con lòng thành sắm sửa lễ xôi thịt hương hoa cúng tế trời phật. Lại có chút lễ dầu đèn cho nhà chùa. Lại nữa, chúng con

xin được cung tiến trăm triệu để nhà chùa tân trang hai ông hộ pháp. Để các ông này ngày càng oai.- Thí chủ rộng rãi quá. Nhà anh Trổ dạo này làm ăn tấn tới lắm phải không?

- Được thế là nhờ sư thầy. Chúng con vẫn không quên ủng hộ chùa. Chỉ xin nhắc nhà chùa nhớ khắc tên chúng con vào bia công đức để thiên hạ biết thằng Trổnày cung tiến nhiều hơn hết đấy.

- Làm ăn là lẽ thường nhưng cốt phải giữ lấy chữ tâm. Có tiền nhưng còn phải có tâm nữa.- Bạch thầy, nhà chùa ngày càng mở mang, phật tử bốn phương đến chùa ngày càng nhiều, phật sự ngày càng nặng nề, con muốn tiến cử vào chùa một chú tiểu,

có thể giúp thầy trụ trì, xin sư thầy không từ chối.Sư trụ trì chắp tay trước ngực, lầu bầu mô phật. Hương khói cúng bái xong thằng lái trâu ở lại làm tiểu, Trổ và Nị về, trong lòng rất xúc động. Trổ kéo tay Nị nói:

- Em lên phố với anh mua mấy chữ tâm. Nhà mình đủ cả nhưng đúng như sư thầy nói vẫn còn thiếu chữ tâm.Nị cùng Trổ phóng xe a còng đánh roẹt lên phố. Người bán chữ đang ngồi lơ mơ ngủ, thấy có khách xộp liền tỉnh như sáo, hỏi mua chữ gì. à, chữ tâm đây. Giờ

nhiều người sắm chữ tâm, nhưng mỗi người lại thích một dạng. Cô cậu lấy dạng chữ nào, béo, gầy, dài, ngắn? Trổ quay nhìn Nị, Nị lúng túng, đôi mắt lá răm ngơngác. Nị nào biết chữ tâm cũng có béo có gầy. Nó bảo Trổ:

- Anh cứ lấy phéng cái chữ giống đôi guốc cao gót của em kia kìa, cái đế nó nhọn thế, đứa nào loắng quắng trước mặt mình thì xéo bỏ mẹ nó đi.- Đúng đấy, ông chủ cho tôi cái chữ có cái đế nhọn như mũi dao kia

kìa. Chữ tâm ấy mới uy. Này, cho vào cái khung tốt nhất đấy nhé, tiền “nâu” vấn đề.*

Nhà sư ra khỏi chùa vào quá nửa đêm, trên đầu ông là trăng sáng, xung quanh ông là mùi thơm hoa đại. Không gian chỉ có thể thanh khiết thế này vào lúc đa sốcon người chìm vào giấc ngủ. Lòng nặng nề, ông bước những bước nặng nề, dấu chân in mặt đường cát trắng, gót quay vào cửa chùa, năm ngón chân xòe ra năm

hướng. Con tê giác cụt sừng ngu ngơ nhìn theo chủ rồi bất thình lình chạy vào chỗ tối. Ông vẫn đi về phía trước, để lại những dấu chân ở đằng sau. Phía trước ông,bên kia dòng sông là rừng trúc. Ông vừa đặt chân xuống mép nước thì nghe giọng thằng Trổ oang oang gọi:

- Bạch thầy, sao đang đêm người lại bỏ chúng con mà đi như thế?Nhà sư ngoái đầu lại, chân vẫn dưới mép nước.

- Nửa đêm là lúc thanh khiết nhất. Bỏ đi là vì ta không còn cái gì ở đấy nữa.Thằng Trổ cười khẩy.

- Thế cũng được, nhưng sư thày vẫn phải để lại một thứ.- Ta có còn gì nữa đâu.

- Vẫn còn. Cái áo nâu người đang mặc.Nhà sư nghĩ ta trụ trì mà để bọn vu vơ bao vây thì mất chùa là phải. Than ôi, toàn trong nhà mà ra cả. Nghĩ vậy, nhà sư cởi chiếc áo trên mình quẳng lại. Ông

bước tiếp, bên kia sông là rừng trúc đang vi vút trong trăng sáng và gió mát.Thằng Trổ giơ tay bắt lấy cái áo, đi vào chùa tìm Tộ.

- Này ông chủ tịch hội đồng trị sự chùa, việc xong rồi. Sổ đỏ cả mẫu đất mang tên ta, giấy tờ chuyển giao có chữ ký ông đàng hoàng. Không có một sào nàocho ông đâu.

Thằng lái trâu lồng lên:- Đồ bất tín. Tao không được thì mày cũng đừng hòng có gì.

- Ha ha, tao giữ được chữ tín thì mới là điều lạ. Thay vì một sào đất, mày xứng đáng cầm lấy cái này.Thằng Trổ khoác lên thằng Tộ cái áo mà sư thày đã rũ bỏ. Thằng Tộ uất quá, máu hộc qua mũi thành hai dòng đỏ lòm. Thằng Trổ đã ra khỏi chùa, khi nó đi tới

Gò Sim thì đất cát bỗng lở ầm ầm, đá sỏi văng ra như mưa trút. Trong trăng sáng, những tảng đá to bằng cái lốp xe bay vèo vèo trước mặt nó, rít lên như tiếng quỷbay. Cái chõng tre bỗng lù lù hiện ra cùng với cô giáo của nó. Thằng Trổ sợ hãi co cẳng chạy.

Một viên sỏi văng vào giữa thái dương nó với tốc độ một viên đạn, máu túa ra như máu chó...(Tạp chí Nhà văn)

Đêm trắng

Tôi về bến sông Trinh Nữ, trăng giữa tháng đã nhô lên khỏi đèo Eo Bát. Sương sớm tràn ra đồi Dâu, ùa vào trại Chuối như khói bay là là mặt đất và lập lềnhngang gối chân. Chỉ một lúc nữa, đồng Cỏ và cả dãy Tam Điệp kia cũng nhập nhòa sương trắng. ở vùng bán sơn địa quê tôi cứ chập tối và mờ sáng thường hay có

sương giăng; mùa đông hầu như tối nào cũng mù. Còn những đêm trăng lạnh, mờ đục, nền trời bàng bạc là sương giăng trắng suốt đêm.Chú Rạng đã biên thư bảo tôi về ngay. Về ngay! Không hiểu điều gì đã xảy ra với u tôi, với anh rể tôi và hai đứa cháu gái?

Tiếng sóng vỗ lóc bóc và cá toài óc ách. Đã cuối thu, nước trong đồng cạn dần, cá chuối, cá rô theo nhau tìm đường ra sông. Tôi cúi nhìn cống Vòm, không thấybờ khăm chỉ có ánh đèn loang loáng. Tiếng khỏa nước và lội uồm uồm. Tôi nhận ra một người đàn ông như đang bơi trong sương mù từ dưới cống Vòm lên bờ. Hóa

ra là anh rể.- Anh Na... am!

- Ơ kìa! Dì Vân. Sao về muộn thế?- Tàu về chậm. Tắt mặt trời em mới xuống ga Gành.

Anh Nam xách giỏ cá nặng, đèn ló gắn trên đầu lấp lóa chiếu sáng một vệt sương bay như khói trắng.- Diêm trong lều ấy. Dì Vân đốt lửa hộ tôi.

Hai hàm răng anh Nam va vào nhau lập cập. Tôi chui vào lều coi cá khăm, lều trống trơn nhưng còn ấm hơi người. Anh cũng chui vào, xuýt xoa luôn miệng. Tôinhoáng nhoàng nhóm lửa. Lửa bừng sáng, nhìn rõ đôi vai vâm váp và ngực trần vạm vỡ của anh loang loáng nước. Tôi lấy áo để ở góc lều choàng lên hai vai anh. Tôi

cảm nhận được mùi mồ hôi đàn ông và mùi bùn non ngai ngái anh mang theo từ cống Vòm lên. Tôi than thở:- Khổ thân anh! Sao không bơi thuyền vỏ trấu, anh Nam?

- Anh cho... mượn rồi?Lửa reo lách tách, nhìn rõ mấy túi phân hóa học bón hoa ở bên, tôi hỏi:

Lửa reo lách tách, nhìn rõ mấy túi phân hóa học bón hoa ở bên, tôi hỏi:- Nhà mình có trồng hoa đâu, anh Nam?

- ừ. à... Anh mua giúp... người ta ấy mà.Nói chuyện, anh Nam toàn lỡ lời, lúng túng, ậm à ậm ừ như cố giấu điều gì. Tôi lấy nốt quần dài đưa cho anh, nhưng lại đụng phải túi ni lông đựng cái nịt vú và

quần lót phụ nữ. Mắt tôi bung hoa cà hoa cải cùng sự nghi ngờ căng cứng đầy suy diễn... Đưa quần dài cho anh Nam, tôi bước phắt ra ngoài.Bầu trời sáng bàng bạc. Sông Trinh Nữ uốn lượn ngoằn ngoèo như dải lụa ngà rơi xuống biển sương mù. Con sông quen thuộc quá, tôi chưa đến đầu nguồn. Chỉ

nghe người ta nói ngược lên vẫn thấy sông Trinh Nữ len lỏi qua thung, qua eo, qua đồi núi của dãy Tam Điệp.Một người đàn bà chèo cái thuyền hình vỏ trấu trên sông. Chị ta đang xõa tóc bồng bềnh, đang ngụp lặn trong màu trắng đục kỳ ảo vô bờ bến của sương đêm.

Bất chợt, từ dưới sông tiếng hát vọng lên, nghe buồn da diết:Đàn bầu ai gảy thì nghe

Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu...Rồi lại:

Thân em như hạt mưa saHạt vào vại nước hạt ra ngoài đồng...

Giọng hát lúc dìu dặt, lúc sâu lắng làm tôi nhớ đến chị Ngàn chèo đò ngang ở bến sông Trinh Nữ năm xưa. Chị Ngàn ở bên kia sông. Giọng trong trẻo lắm, chịvừa vung chèo quẫy nước, vừa hát. Lũ trẻ ranh cùng tuổi tôi ngồi trên mình trâu ở triền sông cũng dỏng tai lắng nghe.

Chị Ngàn đã làm bao chàng trai khổ sở, ngẩn ngơ. Họ tơ tưởng cô gái chèo đò đến mức chẳng có việc gì cũng kiếm cớ xuống thuyền sang sông. Chẳng qua là đểngắm cái bắp chân tròn thon, cái cổ cao ba ngấn trắng ngần ngó sen, cái mặt trắng hồng, cái eo hông thắt lại và ngực căng đầy dưới làn áo phin mỏng của chị. Anh

Nam cũng từng sang sông, và nhiều lần ngồi trên bờ ngẩn ngơ nhìn con đò nghe chị Ngàn hát. Thế rồi chiến tranh biên giới, anh Nam đi bộ đội biên phòng. Một thờigian sau, chị Ngàn cũng đi bộ đội thông tin. Từ bấy đến giờ chẳng bao giờ tôi được nghe chị Ngàn hát nữa.

Cái thuyền mỏng mảnh hình vỏ trấu áp sát vào bờ sông. Người đàn bà bước lên bờ rất khó nhọc, thập thễnh và chui vào lều kéo vó. Anh Nam bồn chồn đứngnhìn. Có cảm giác không có tôi là anh chạy ngay xuống đó. Tôi lại nghĩ đến cái nịt vú và gói quần áo phụ nữ trong lều coi cá khăm, rồi tưởng tượng đủ chuyện.

- Anh Nam có việc... thì mình em về trước cũng được.- Ai lại thế. Anh đưa dì về.

Nhà tôi ở đầu làng, từ cống Vòm về chỉ một đoạn ngắn. Tôi bước đi bên anh Nam xuống dốc đê và ngổn ngang bao điều trong lòng chưa cắt nghĩa được. Đếnchỗ lội, anh xắn cao quần bước xuống rồi quay lại ngập ngừng giơ tay ra:

- Dì Vân để anh...Bước ào xuống nước, tôi lội uồm uồm qua trước mặt anh Nam. Lên bờ, mới biết mình không xắn quần bị ướt quá đầu gối. Chân tôi vấp phải cái cầu tạm ghép

mấy cây luồng bị quăng trên bờ, đau điếng.- Trẻ trâu nghịch quá. Để anh bắc lại cầu... Dì Vân xách cá về trước, giúp anh.

- Muộn rồi, anh Nam còn đi đâu? Hay là...- Trúm lươn. Còn mấy ống, anh... anh... chưa đặt xong.

Anh Nam do dự rồi chụp đèn ló lên đầu tôi. Hóa ra anh không về. Anh chỉ đưa tôi qua chỗ lội. Tôi đón giỏ cá vội như giật lấy, bước luôn. Từ lúc đó về đến nhà,lầm lũi bước. Tôi lại nghĩ đến người đàn bà bơi thuyền vỏ trấu, và tưởng tượng...

Trăng tràn vào sân quyện với sương giăng. Tôi bần thần đứng ở ngoài thềm hè.- U ơi!

Vắng ngắt.- Sa, Sim ơi! Hai cháu đâu?

Nhà tối om. Tiếng chuột kêu rích rích. Tôi quét đèn ló loang loáng. Trời ơi! Hai đứa cháu tôi nằm ngặt nghẽo, quay ngược nhau. Đầu tóc không cặp, xõa sượiphủ lên mặt, lên cái cổ gầy nhẳng. Chăn chiên bị đạp tung ra, mặc phong phanh áo mỏng. Tôi xoay đứa nọ cùng chiều đứa kia,kéo chăn rồi nằm xuống quàng tay ôm

cháu. Nhắm mắt, tôi vùi mặt vào hơi thở nóng hổi, vào mái tóc non cháy nắng khen khét của con Sim, mặc cho lòng rưng rưng. Tôi giận anh Nam quá. Người đàn bàbơi thuyền vỏ trấu, rồi thập thễnh bước lại hiện ra...

U tôi đi đám ăn hỏi về. Tôi chưa kịp chào, u đã mau mắn hỏi:- Sao tự nhiên mày về, Vân?

- Thì chú Rạng... biên thư bảo...- Thôi, thôi... U hiểu rồi. Cái nhà chú này nôn nóng quá. Cũng tại người ta ồn. Đêm hôm thằng anh rể mày hay ra lều kéo vó gặp con Ngàn. Có dễ hai đứa phải

lòng nhau. Họ lại ồn: hóa ra nuôi ong tay áo, thằng rể mưu mô chiếm cái nhà, dứt khoát chúng nó cưới, rồi đưa nhau về đây ở. Chú Rạng bàn: “Hay là con chị nó đi,con dì nó thế...” U chả biết tính sao. Người ta như đũa có đôi, con rể nhà mình sống cảnh gà trống nuôi con. Tội lắm! Còn mày nữa, nhiều lúc nghĩ u lại lo lo. Cứ

đứng núi này trông núi nọ. Quá lứa nhỡ thì, khổ lắm con ạ...- Thôi, con xin u đừng nói nữa.

Cảnh nhà bẽ bàng quá. Chị Vấn tôi mất đã mấy năm, anh Nam có quyền lấy vợ. Nhưng lấy xong, anh chị ở đâu? Về nhà tôi ở? Hay ở bên nhà người ta? Còn utôi nữa? Vô vàn câu hỏi lộn xộn trong đầu. Lại nghĩ đến hai đứa cháu mồ côi và tôi nghĩ đến tôi...

Lát sau, tôi bảo:- Đi đâu u cũng liệu sớm sớm mà về lo cơm nước cho cháu.

- Mày đừng trách u. Tầm này mọi hôm anh Nam mày đã ở nhà lâu rồi.- Bây giờ người ta đã có người khác thay chị Vấn. Người ta không để ý đến con cái, đến mẹ vợ cũ nữa đâu.

- Đừng nói thế phải tội cho anh. Mày đi xa không biết, nó là đứa sống biết điều. Mấy năm nay mẹ vợ con rể, bà cháu sống nuôi nhau chả điều tiếng gì. Với lạianh rể mày mới được bầu làm xã đội trưởng, công việc bận lắm.

- Bận... bận cái gì? U ra lều kéo vó, lều coi cá khăm mà xem người ta đang hú hí với nhau kia kìa.- Ruột gan u nẫu cả lên.

Tủi thân, không nói được, vui buồn, hờn giận, trách cứ lẫn lộn trong lòng. Tôi nhớ dạo anh Nam phục viên về được mấy ngày là đến tán chị Vấn. Chẳng biếtduyên số thế nào hai người yêu nhau, hạnh phúc lắm. Dạo đó, tôi hơi lơn lớn và nghịch ngợm như quỷ sứ. Tôi chui vào bụi chuối hồi nhà nghe anh chị thẽ thọt tâm

tình, tôi kéo gãy tàu lá chuối và ù òa rõ to làm chị Vấn sợ rúm ôm chặt lấy anh Nam. Hôm sau, chị Vấn mắng. Tôi bảo: “Có mà phải ơn em. Được ôm chầm vào trai,sướng bỏ bà còn làm bộ”. Đúng ba tháng thì cưới. Sau này, chị Vấn bảo: “Mày còn bé chưa biết chứ ngày trước lão ta có để ý đến chị đâu. Biên giới im tiếng súng

mấy năm, không thấy cái Ngàn về, chẳng chờ được, lão mới đến tán chị”. Rồi chị Vấn nguýt yêu: “Cái ngữmày, kông khéo về sau ế chồng cho mà xem”...

mày, kông khéo về sau ế chồng cho mà xem”...Tôi không tin mình ế chồng. Nhiều người con trai đi ngang qua đời tôi mà chẳng ai quyến rũ được tôi. Kẻ hời hợt, nông cạn; người sâu sắc nhưng kỹ tính quá,

chẳng ai làm trái tim tôi rung động. Tôi vẫn chờ, vẫn tìm người yêu thương trong cõi đời mênh mông này.Tôi đánh thức hai đứa cháu dậy. Mẹ con, bà cháu ăn cơm xong một lúc anh Nam vẫn chưa về. U tôi đi làm cá. Cái Sa ngồi vào bàn học, cái Sim quấn lấy tôi, sà

vào lòng ngồi. Cái Sim quấn quấn đuôi tóc tôi, nói:- Dì về nhà ở hẳn nhá, dì Vân.

- Dì còn bận chưa về luôn được. Sim ở nhà có ngoan không?- ứ ngoan. Lúc nào cô Ngàn đến cho kẹo, cháu mới ngoan. Cô Ngàn thương Sim lắm, dì Vân à.

Như cật nứa cứa vào lòng. Vậy là cái điều chú Rạng viết thư là thật. Người ta sẽ lấy mất anh Nam, lấy mất luôn hai đứa cháu tôi. Và anh Nam sẽ như ngườidưng nước lã ư? Tôi thả cái Sim xuống cho nó chơi rồi đến chỗ u đang đánh vảy cá. Tôi giận dỗi nói:

- U để hết nhà cửa, ruộng vườn cho anh Nam. Để anh ấy được tự do yêu thương, tự do lấy vợ, không phải chui lủi dấm dúi nữa. Con sẽ đưa u lên thành phố,mẹ con sớm tối có nhau.

- Mày có lớn mà chẳng có khôn. Gần ba mươi tuổi, chứ ít đâu. Có phúc đã con bế con bồng. Mày thích ở thành phố cứ ở. Còn u sinh ra ở làng, làm dâu ở làng,u sống chết cũng ở cái làng này thôi.

Khuya.Anh Nam về. Anh nói với u là anh ăn cơm rồi. U phàn nàn:

- Em nó về. Sao anh không về sớm sủa, cả nhà ăn cơm đông đủ một bữa.Anh Nam ậm à ậm ừ:

- Con... con có lỗ... ỗi.Tôi bực mình lắm, chỉ muốn nói: “U không phải bận tâm nữa. Người ta đã có nơi có chốn nấu cho ăn rồi”. Nhưng cổ tôi nghẹn tắc không sao cất nên lời.

Khuya lắm rồi. Ngọn đèn dầu lù mù không xua nổi sương bay là là ở thềm hè. U nói chuyện rì rầm với anh Nam. Tôi nằm cho cái Sim gối đầu tay, nghe tiếngđược tiếng mất. Anh Nam thỉnh thoảng thở dài. Mỗi lần anh thở dài, tôi lại ôm chặt cái Sim vào lòng. Khổ thân hai cháu gái bé bỏng. Nay mai có người đàn bà lạ

trong nhà, cháu tôi sẽ sống ra sao?Anh Nam không ngủ, vác rìu bổ gốc tre khô. Choạc... Choạc... Tiếng rìu bổ vào đêm vắng rõ mồn một. Choạc... Choạc...

Tôi vùng dậy, lấy áo ngoài choàng lên bộ đồ ngủ mỏng cho bớt lạnh. Trăng chênh chếch mái ngói phía tây. Hơi nước từ sông Trinh Nữ theo gió ào đến. Tôi khẽrùng mình. Trời ơi! Đồng Cỏ, đồi Dâu, trại Chuối một màu trắng đêm và dãy Tam Điệp mờ xa cũng chìm trong đêm trắng.

- Đừng hành hạ mình thế nữa. Anh Nam!Vẫn choạc... choạc... Tôi nhào đến giữ tay anh. Anh thở hổn hển:

- Dì Vân! Mặc kệ... anh.- Nghe em đi. Sương xuống ướt tóc anh rồi này.

Giọng tôi nhỏ, chùng hẳn làm anh mềm lòng:- Anh khổ tâm lắm! Dì Vân à.

Lại làn gió lạnh thổi ào tới. Chiếc áo choàng trên vai tôi tuột xuống đất. Anh Nam bỏ rìu, cúi nhặt, lúng túng không biết đưa hay khoác cho tôi. Tôi ngồi bệtxuống đống gốc tre khô chưa bổ. Choàng áo lên vai tôi, anh ngồi xuống theo.

Vẫn đêm trắng. Anh không nói gì. Tôi cũng lặng im.Lúc sau, tôi bảo:

- Anh Nam nói gì đi.Anh tần ngần, lưỡng lự:

- Dì Vân... nói gì đi.Đến lúc này thì tôi đứng phắt dậy. Tôi bước đi ra cổng. Anh Nam cũng đứng dậy và đến gốc cây bưởi lấy giỏ đựng cá. Anh lặng lẽ đi sau tôi. Chả lẽ anh đi bắt

cá khăm buổi sáng sớm? Vô duyên! Tôi thầm nghĩ như thế.Trăng bạc dần. Tôi đi lang thang ở đầu làng, tôi nhón nhén bước trên cầu tạm bắc qua chỗ lội và bước lên dốc đê.

Chọp! Tiếng gọng vó chạm nước. Bốn gọng vó khẳng khiu, gầy guộc dầm mình trong nước sông Trinh Nữ rồi lại cất lên in hình vào đêm trắng. Cần mẫn, lặng lẽtrong đêm, chẳng biết cái vó ấy được cất lên thả xuống bao nhiêu lần? Người đàn bà ấy ngồi trong lều kéo vó đã bao đêm?

Trời bàng bạc sáng. Người làng đi chợ sớm lao xao gồng gánh. Những người buôn rau, cá, buôn hoa lên thị xã đã chờ sẵn ở bến sông để cất hàng. Mấy cái xetrâu không tháo ách nối nhau đứng trên mặt đê.

Một cái thuyền vỏ trấu chở hoa tươi và rổ cá từ từ cập bờ. Mấy bà buôn chuyến lau chau chạy đến. Người đàn bà bước lên bờ khó nhọc quá, mấy bà buôn giơtay kéo chị ta lên. Tôi chợt nhận ra chị Ngàn. Rõ là chị Ngàn chèo đò ở bến sông ngày trước. Không thể nhầm, tôi nhìn kỹ lắm. Ngần ấy năm rồi, tôi vẫn nhận ra.

Chỉ tội một chân chị bị cụt đến đầu gối...Khổ thân chị! Lại còn đến nông nỗi ấy nữa. Mọi suy nghĩ, toan tính của tôi đều vô nghĩa hết. Vô nghĩa trước chị Ngàn cụt một chân trồng hoa, kéo vó đêm và

rạng sáng chèo thuyền vỏ trấu chở hoa tươi, chở cá... Tôi quay bước, chạy về làng, Tôi khóc. Mặc gió ù ù bên tai, mặc sương đọng ngọn cỏ làm ướt ống quần.Thay quần áo ngủ, tôi tống tất cả vào ba lô bụi. U dậy, bảo:

- Mặt trời lên, sương tan hãy đi con à.Anh Nam lao vào nhà, cái giỏ vẫn trống không. Anh giữ ba lô bụi của tôi lại:

- Đừng vội đi, dì Vân.- Thôi để em đi. Em ở lại là không bao giờ đi được nữa. Người ta cần anh.

U sụt sịt:- Khổ thân các con tôi.

- Bị thương. Mặc cảm. Cô ấy ở lại trại an dưỡng không muốn về làng ngay. Khi Nhà nước chủ trương cho thương binh về sống tại gia đình, động viên mãi cô ấymới về nhà. Vừa trồng hoa, vừa kéo vó bè làm niềm vui. Nghĩ cũng tội. Dì Vân à.

Anh Nam nói nhanh như sợ tôi cắt ngang. Tôi buông một tiếng thở dài, bảo:- Thôi, anh chị gắng sống với nhau cho vuông tròn. U cần anh, u không thể xa các cháu đâu. Về đây mà ở để bà cháu sum vầy, anh Nam ạ. U đồng ý là chú

Rạng cũng theo thôi - Tôi quay sang u đang nước mắt ngắn nước mắt dài - U nhỉ?U tôi gật đầu. Tôi đến thơm vào má con Sa, con Sim còn đang ngủ, và khoác ba lô bụi lên vai. Chào u, chào anh Nam, rồi tôi đi. Tôi không dám quay mặt nhìn

u, nhìn anh Nam. Tôi mà quay mặt lại là tôi ở nhà mãi mãi. Tôi hình dung sau lưng mình, anh Nam đứng lặng nhìn theo, bên cạnh là u tôi nước mắt lưng tròng.Đêm trắng đã qua. Đằng đông, trời rạng hẳn. Đằng tây, chỉ còn một vầng trăng mờ, mỏng mảnh neo trên bầu trời.

Đêm trắng đã qua. Đằng đông, trời rạng hẳn. Đằng tây, chỉ còn một vầng trăng mờ, mỏng mảnh neo trên bầu trời.(Tạp chí Nhà văn)

Một cuộc đua

Thấy tôi tái xanh tái xám, mồ hôi mồ kê bước vào nằm chuồi ra giường, con Thúy ngừng đọc báo:- Mất dạy hả?

- ừ. Thằng quỷ bảo hôm nay em trúng gió, cô cạo gió giùm em rồi hắn cởi áo... Tao dằn lòng lắm mới không cho nó cái tát. Đạp xe đi về gần 15 cây số tốn haobao calori mà chẳng được gì. Chỗ gặp học trò trời sợ. Chỗ thì phụ huynh cứ giả vờ quên ngày trả tiền, chỉ tặng đồ quá đát...

- Có cái này dành cho mi đây! Coi gặm được không? - Con Thúy chìa tờ báo. Tôi dán mắt vào chỗ hắn chỉ:"Cần một giúp việc nữ dưới 25, lý lịch rõ ràng, ngoại hình khá, dễ mến, trình độ phổ thông trung học, có khả năng chăm sóc người bệnh nằm một chỗ. 50.000

đ/2 giờ. Thử việc 3 buổi..."- Dạy kèm không ra gì, tiếp thị bia không xong thì giúp việc nhà thời công nghiệp vậy. Tính ra tháng bằng 4 chỗ dạy kèm! Ăn học thoải mái.

- Tiền nào mệt nấy!- Đồng tiền lương thiện bao giờ cũng nhọc nhằn. Lấy xe máy tao đi!

- Đi giờ?- Chụp giật liền. Lương cao khối đứa nhào vô - Cô Thúy giục.

- Giúp việc nhà mà làm như tranh suất học bổng đi nước ngoài! Lại còn ngoại hình khá!Tôi càu nhàu nhưng vẫn nghe theo lời con Thúy, đứng dậy. Hắn đáng nể. Tiếp thị bia để ăn học mà tâm hồn, thể xác 2 năm rồi còn nguyên xi. Hắn tránh né

những thói sàm sỡ bằng thứ dịu dàng bọc thép, còn tôi mới làm chưa được một tuần đã tung chưởng bốp vào má một ông thầy tuồn tay vào váy và lập tức bị nghỉviệc. Tôi thay cái quần Jeans cũ rồi nhìn mình trong gương. Đứa con gái trong đó nhìn lại tôi. Tóc ngang vai, không trang điểm, không "dễ mến". Gai nhọn trong ánh

mắt. Môi khép hờ như nụ hồng nhưng mở ra có thể là 2 lưỡi dao bén. Tôi nhớ những từ người ta quẳng vào mình: Con mọi cứng đầu. Thứ không mẹ không cha.Nghèo mà chảnh!...

Tôi đến địa chỉ trong báo. Đúng là giàu. Biệt thự mặt tiền. Xe hơi phủ vải ở gara. Berger xổ một tràng tiếng cẩu. Một người đàn bà khoảng dưới 40 nhìn tôi quacửa sắt. Tôi chìa tờ báo có mẩu tìm người. Bà ra gật đầu rồi mở cửa. Cuộc phỏng vấn tiến hành chớp nhoáng:

- Hãy giới thiệu ngắn gọn về mình.- Tên Phượng, 21 tuổi, sinh viên.

Nghe đến đó, bà ta chìa tay. Tôi hiểu ý rút ví lấy thẻ sinh viên. Bà ta nhìn ảnh rồi nhìn tôi săm soi từ đầu đến chân.- Cô biết đùa, hát karaoke, nói chuyện phiếm giải buồn không?

- Biết.- Kiên nhẫn chịu khó không?

- Tôi dễ thương tổn nhưng lì lợm, không dễ đầu hàng.- Mấy người dội ra đều bảo họ thừa dịu dàng kiên nhẫn. Tôi thấy cô thẳng thắn, cứng cáp. Nếu cô trụ được, cô có thể được 2 triệu 1 tháng để ăn học. Còn

không, 200.000 cho 3 buổi rồi đi. Mai cô bắt đầu. Từ 3 - 5 giờ chiều. Để lại địa chỉ, thẻ sinh viên hoặc chứng minh thư.- Công việc cụ thể của tôi là gì?

- Trò chuyện, chịu đựng người bệnh, giảm áp lực buồn chán vì nằm một chỗ.Trên đường về, con Hai Triệu tung tăng chạy trước, ngoắc ngoắc tôi. Vì nó, tôi sẵn sàng gồng mình chịu đựng 2 giờ cho 22 giờ còn lại, cho cuộc đời tôi tự chọn

và đi bằng đôi chân mình. Đêm ấy con Hai Triệu và một người không hình dáng chập chờn quấy nhiễu giấc ngủ tôi. Nam hay nữ, già hay trẻ, người hay quỷ?Buổi đầu...

Bà quản gia dẫn tôi đến phòng bệnh nhân. Bà thì thào: "Cậu chủ ngủ. Ngồi đợi".Phòng rộng, thoáng nhưng bề bộn đồ đạc. Trên giường cũng bề bộn một hình hài. Tóc nhuộm hai màu chọi nhau. Chăn mỏng đắp hờ ngang bụng. Hai tay giăng

ngang như bị đóng đinh. Lũ gối lớn nhỏ vây quanh cả chục cái. Tôi ngạc nhiên nhìn gương mặt trẻ măng đang ngủ mà mày nhíu lại như vật lộn với nan giải.- Khi cậu chủ dậy, cô giới thiệu cô là người thứ mười ba.

Bà ta đi ra. Tôi cúi nhặt mấy tờ báo trên nền bỗng bị một cái gối ném trúng. Ngẩng lên, tôi chạm phải đôi mắt đầy hận thù trên gương mặt khoảng chừng đôimươi.

- Mày là con đĩ nào?Tôi đã hình dung nhiều tình huống nhưng vẫn không phải tình huống này. Máu dồn lên mặt nhưng con Hai Triệu vuốt giận tôi.

- Người thứ mười ba - Tôi đáp.- Đứng dậy!

ánh mắt thằng nhãi lướt trên tôi rồi cắm vào đôi chân lành lặn của tôi với vẻ ganh tỵ:- Mày có cặp giò mặc váy chắc đẹp. Tao... - Hắn bỏ dở câu nói rồi ném vào chân tôi cái gối. Tôi đón lấy. Cái nữa... Cái nữa... Tôi cáu:

- Tôi sẽ quẳng lại nếu cậu tiếp tục.Gối cứ tỉnh bơ nhắm tôi bay tới. Tôi gạt phăng con Hai Triệu qua bên, chụp lấy ném trở lại vào mặt thằng chủ. Thấy tôi ném hăng quá, thằng nhãi nhà giàu ngạc

nhiên:- Không sợ mất việc hả?

- Mày tưởng có tiền rồi làm cha thiên hạ chắc? - Tôi chống nạnh trừng mắt.Thằng nhãi trố mắt nhìn tôi rồi bật cười:

- Trông mày cũng hay hay. Đỡ buồn! - Nó chống tay ngồi dậy nhưng không được.- Giỏi ném nữa đi!

- Đỡ tao ngồi dậy. Tao thuê mày để làm việc đó.- Nhưng nếu tao không cần làm thuê nữa thì mày gọi đứa thứ mười bốn tới mà đỡ! Tao đi đây! - Tôi quay lưng.

- Này...! - Thằng chủ gọi giật.Tôi dừng. Đời tôi, tôi chưa đầu hàng cái gì trong vòng mười lăm phút.

Tôi dừng. Đời tôi, tôi chưa đầu hàng cái gì trong vòng mười lăm phút.- Tôi cần tiền. Cậu cần người giúp đỡ. Có tôn trọng nhau thì hợp tác. Không thì thôi. Không có màn sỉ nhục - Tôi đứng ở cửa ra điều kiện.

- Tên gì?- Phượng.

- Sinh viên hả?- ừ.

- Lại đây đỡ tao!Tôi đến gần... Con Hai Triệu động viên: "Hắn không đứng dậy được. Đừng sợ!".

- Bế tao ra xe lăn - Thằng chủ chỉ tay về phía cửa sổ.Tôi định lật mền nhưng hắn thì thào: "Để thế!"

Tôi luồn tay qua cổ hắn và cảm nhận cái mền mỏng rủ xuống ở tay kia. Hắn quàng tay qua tôi, mắt lấp lánh ánh tinh quái. Tôi đe:- Chớ dại! Nếu không sẽ bị quẳng ngay xuống đất.

Thằng nhóc lè lưỡi nép vào tôi. Lần đầu tiên tôi chạm vào một người đàn ông, dù hắn ta dường như chỉ còn một nửa!Buổi thứ hai...

Vừa dựng xe đạp, tôi đã nghe tiếng gào, tiếng khóc, tiếng chửi rủa sa sả. Một quý bà sực nức son phấn và nước hoa từ phòng cậu chủ đi ra, vừa đi vừa launước mắt. Thấy tôi, bà dừng lại:

- Nghe nói cô đã qua buổi đầu tiên êm thắm với nó. Nếu cô làm dịu những cơn khủng khoảng thần kinh của con tôi, cô sẽ được trả gấp đôi.- Tôi có thể biết nguyên nhân và tình trạng của cậu ấy được không?

- Đua xe. Bạn gái chết, còn nó phải cắt cụt hai chân vì xe tải nghiền nát. Đã hai tháng nay tôi sống trong địa ngục, sợ những cơn cuồng nộ của nó đến không dámở nhà...

Tôi vào phòng, đến bên hình hài tàn phế đang nằm thở dốc và khóc.- Thứ mười ba đến rồi - Tôi báo.

- Trả chân cho tao! - Gã gào lên.- Tôi không lấy chân cậu. Có chân không đi, trời lấy lại.

Gã há miệng như nghẹt thở rồi cầm "con dế" bên gối định ném tôi. Nghĩ sao, gã lại vứt nó qua cửa sổ.- Ông không còn chân, gọi thằng nào cũng không đến!

- Đúng là ném tiền qua cửa sổ!- 7 triệu đấy, nhưng tiền để làm gì? - Gã thò tay xuống gối lấy gì đó ném vào tôi. Gã luôn ném để khẳng định mình còn đôi tay quyền lực. Tôi nhặt lên, ngỡ ngàng

nhìn tờ năm trăm đô xếp thành hình con hạc giấy. Cảm nhận được sức nặng của con hạc trong tay nhưng tôi vẫn ném trả. Gã lại ném qua... Cả bầy hạc giấy dướichân tôi...

- Nằm một chỗ, bà già vẫn phát lương. Còn mua sẵn chiếc xe hơi an ủi. Nhưng giờ tôi chỉ muốn chết. Hãy chỉ cho tôi cách chết ít đau đớn. Tôi sẽ trả công chocô.

Tôi nhặt hết 5 con hạc giấy đặt xuống gối gã.- Cho đấy!

- Tôi làm công nhận lương, không nhận tiền cho không.- Nghèo mà chảnh nhỉ! - Gã ngạc nhiên.

- Hôm nay có mấy kiểu chết trên báo, cậu chọn kiểu nào? Nhảy từ cà phê 33 tầng vào sinh nhật thứ 21. Hỗn chiến tại quán bia, bị đâm. Một nữ sinh 17 tuổi dắtxe đạp băng qua đường sắt bị tàu đụng. Một thanh niên đi xe máy sụp ổ gà bị xe rác cán chết.

- Toàn ghê rợn! - Gã nhăn mặt.- Làm gì có cái chết dịu dàng! Để tới cái chết phải băng qua đau đớn.

Và bỗng nhiên hình ảnh mẹ tôi nằm chết trên mặt đường hiện ra trong vũng nắng.- Cô sao thế?

Tôi lau vội giọt nước mắt ứa ra, lắc đầu...- Cậu chọn cái chết thì cũng chẳng cần người giúp việc nữa! Tôi về đây. Mất thì giờ!

- Đừng để tôi một mình - gã kéo tay tôi - ở thêm với tôi, tôi trả cô một con hạc. Đây là tiền công chứ không phải cho không.- Được. Dại gì không lấy. Giờ cậu muốn tôi làm gì?

- Cô sẽ làm gì nếu mai cô chết? - Gã hỏi lại.- Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để mai tôi vẫn sống. Một ngày là một cuộc chiến.

- Giá nghèo như cô, tôi sẽ không bất hạnh thế này. Không có xe để đưa, không có tiền để đốt đời mình...- Tại cậu chưa nếm mùi nghèo khổ đó thôi! Tàn bạo, khốc liệt lắm, cuốn trôi bao ước mơ, đè bẹp bao số phận. Nhưng khi thừa mứa quá, nỗi đau trong tim còn

dữ dội hơn cả cái đói. Một nhà văn đã nói thế.- Cô nói đúng. Tôi thừa tiền mà đầy trống vắng. Nhà tôi ai cũng sống giả dối, mọi thứ dùng tiền mua. Mà này, cô e bằng tuổi tôi sao "già" thế?

- Một chiếc xe chở ba người đã cướp mất tuổi thơ của tôi khi tôi lên sáu, bởi vậy tôi ghét những đứa giết người rồi bị người giết như cậu... Tôi văng khỏi chiếc xeđạp khóc ré lên còn mẹ tôi nằm trên đường trưa im lặng... Tôi không có cha. Người đàn ông nào đó đã bỏ mẹ tôi khi tôi tượng hình. Ông cậu đem tôi về, lấy hết tiền

người ta bồi thường, cho đi học nửa buổi còn nửa buổi sai vặt, bưng bê trong quán cà phê của họ... 14 tuổi, tôi bị bà mợ ép bán trinh cho một doanh nhân. Tôi cầmchai rượu quật vào ông ta...

- Rồi sao?- Ông ta bưng đầu chạy. Còn tôi từ đó không nhà, lang thang vất vưởng rồi nương thân trong một mái ấm toàn những đứa trẻ không có tuổi thơ như mình. Tôi tự

kiếm sống bằng mọi cách, giương vuốt bảo vệ mình và cố đổi thay số phận.- Đời cô buồn nhỉ!

- Bởi vậy mỗi ngày của tôi là một cuộc chiến, chiến đấu để tồn tại, để biến đời buồn thành vui...Buổi thứ ba...

Ngày thứ ba gã không la hét cũng không ném thứ gì. Gã nói chuyện, cùng tôi thi hát karaoke. Bà quản gia dường như không tin tiếng hát vọng ra từ phòng gã,sững sờ đứng chôn chân ở cửa. Gã thắng tôi dễ dàng.

- Tôi thích sự thách thức. Chính vì vậy mà tôi lao vào cuộc đua - gã thở dài.- Giờ cậu dám đua nữa không?

- Giờ cậu dám đua nữa không?- Đua với ai khi thế này...?

- Với tôi. Chúng ta đua ngoi lên dưới ánh mặt trời. Thời hạn 5 năm.Gã không trả lời tôi, tư lự. Khi tôi bế gã từ xe lăn trở lại giường, gã nhìn vào mắt tôi:

- Cô có đôi mắt rất đẹp. Thăm thẳm nỗi buồn nhưng ánh nhìn quyết liệt. Đôi mắt ấy...- "Khóc người một con"... ([1][*]) - Tôi nhìn gã đáp.

* *Tôi qua trót lọt 3 buổi thử việc nhưng không "có duyên" với con Hai Triệu. Ngày hôm sau, một người đến tận chỗ tôi trọ gửi tiền công 3 buổi và một gói quà.

Mở ra tôi thấy một bầy hạc châu đầu vào một đóa hồng. Tất cả bằng giấy. Đóa hồng là một cái thư còn bầy hạc mười con xếp bằng tiền đô thật. Tôi và con Thúyđọc:

Cô không cần đến buổi thứ tư. Tôi vốn là một đứa sáng dạ, chỉ cần ba buổi là ngộ... Tôi nhận lời "đua" với cô, đua ngoi lên dưới ánh mặt trời để"còn hai con mắt khóc người một con". Mười con hạc giấy này tôi tặng cô. Nó chỉ bằng chai rượu tôi uống trong những đêm đốt đời mình. Trước khi

bay, người ta cũng cần đôi cánh. Đừng chảnh, hãy nhận nó vì tấm lòng thành của tôi. Hẹn gặp lại cuối đường đua.- Thằng này chưa phải là đồ bỏ. Hoặc điên hoặc rất lãng mạn - con Thúy bảo.

- Không ai là đồ bỏ cả. Đi mua máy tính với tao. Tao khởi đầu cuộc đua đây! Mau lên! - Tôi giục con Thúy.(Tạp chí Nhà văn)

Rửa mặt Sông trong

Tôi đi dọc bờ sông. Con đê dài hun hút. Dòng nước như lắng xuống ngẩn ngơ màu thạch và lăn tăn nếp sóng. Sông như dải lụa dài vắt qua miền đất khó. Có cảmgiác, đâu đó trong gió nhẹ sớm xuân này, qua hơi ẩm của cỏ ướt ven đê và màu trời sương khói một giọng hát vô hình vô ảnh cứ ngân lên theo nhịp lang thang của

mình. Tôi dừng chân bên nước, úp mặt mình vào sóng mà khoả nỗi mênh mang. Sông trong ơi cho tôi rửa mặt…Ta đi tìm nhau, tìm câu hát của đời mình

Con sông đời người chỗ bồi, chỗ lở… Con sông từ núi cao chảy xuống. Một nguồn trong, rất trong. Tôi nghĩ vậy và muốn thấy em bên dòng sông ấy!

Nóng lắm. Nóng ghê người. Rồi dìu dịu, se se. Tôi dời thành phố trong một tâm trạng bực bõ để sau đó một hai tiếng là gặp dốc, gặp đồi rồi lên núi. Phần giậndữ thường nhật cứ dịu dần. Cái day dứt, cả lo, cả nể, dễ nóng, dễ nguội của kẻ say việc nhưng việc chưa thành cứ chập chờn rồi lãng đãng lùi lại phía sau khi mắt tôi

bắt gặp rừng thông ken dày trước mặt.Chiều qua, sau chén rượu thuốc đậm đặc bạn tôi đập bàn bảo:

- Sao mày hèn thế?- Vì sao ông bảo tôi hèn?

- Biết mà không nói, biết mà không làm là hèn chứ sao! .Giá cậu góp thêm được một lời cho dư luận…Tôi xua xua tay trước mặt như thanh minh:

- Nhưng…nhưng…Bạn tôi vẫn không chịu tha. Nó cười, một nụ cười ngạo mạn:

- Bọn có đôi tí chữ nghĩa như các cậu chỉ giỏi cái chữ nhưng ấy…nhưng…nhưng! Ha…ha…Tiếng ha ha của nó sao mà to, mà dữ dằn. Tôi nghe như có vật rắn va đập vào chính vỏ não mình. Bạn tôi đang khinh tôi. Tư liệu trong tay mình, bút trong tay

mình. Chỉ cần tôi dám viết. Viết về nhân cách một gã đàn ông tuổi ngót ngũ tuần mà lưng đã sớm gù như một ông lão ngoại bảy mươi. Người khu phố tôi gọi hắn là“động vật không xương sống”. Chả có chức trách gì là to tát mà sao hắn lắm quyền đến vậy. Trong cặp da của hắn có đến một bó danh thiếp đủ các loại . Điện

thoại di động của hắn chẳng mấy khi được yên trong bao da vì luôn bị chủ giơ lên áp chặt vào tai để nhận việc, xin việc. Đại loại:“Anh đấy ạ!Vâng…vâng!Hay quá. Sếp ủng hộ là tuyệt vời rồi. Có sếp là em có tất cả!”

“Tôi đây. Cứ từ từ. Từ từ…Đâu khắc có đấy. Cái quan trọng là không được sốt ruột..”“Yên tâm đi. Việc của cậu đã xong. Xin nhớ phi anh chú mày là việc bất thành”

Hắn lạ lẫm, bí hiểm. Khi xuống xe, bước vào ngôi nhà mặt phố cao nghễu nghện hắn như đi qua chỗ không người. Từ tròng mắt lồi ra như mắt cồ cộ có lẽ cáihắn dễ nhìn thấy nhất là đôi giầy da bóng lộn và màu vải bạc phỡn nơi hai đầu gối quần của mình .Ngày xưa làm quanb hoạn thường phải thiến ngày nay mặc dù còn

đầy đủ cả nhưng hắn vẫn được gọi là công công . Một công công tân thời.Bạn tôi từng bảo:

- Sâu mọt đấy. Không giết bọn này thì giết ai ?- Nhưng…

- Còn nhưng thì đừng cầm bút nữa.- ….

Lần ấy tôi đã viết. Bài chỉ chừng bảy , tám trăm chữ. Không dám kể tên thật chỉ dám kể đôi ba việc bất chính trong mánh khoé tham ô , hối lộ , nhâp nhèm đấtcát của hắn . Vậy mà ngay ngày hôm sau thôi, nghĩa là khi bài báo ra được hai mươi tư tiếng đồng hồ, vào sáng sớm, ở góc sân nhà tôi có một gói giấy bị vỡ tung

toe toét và xin bạn đọc lượng thứ bịt giúp mũi cho vì cái sự đểu giả kia chỉ toàn là …phân . Còn trước cửa nhà mình, khi tôi mở ra thấy rắc toàn những mảnh thuỷtinh vỡ. Nhìn cái thứ tệ hại hơn cả chổi cùn rế rách, tôi biết đối tượng là ai. Tôi ngại và lo. Thực lòng tôi không sợ những loại người này mặc dù hắn đã giấu tay dằn

mặt tôi. Nhưng vạch được mặt hắn không phải dễ.Sau lần ấy tôi ngại va quệt với hắn.Thỉnh thoảng tôi với hắn có gặp nhau, nhìn nhau, chào nhau đôi câu chiếu lệ và xa lạ dần. Cổ nhân dạy, nước trong đến mấy

cũng có cặn huống chi ở giữa cái chồn phồn hoa, ồn ã này làm sao mà không có bụi cho được. Tôi lánh hắn như một người khoẻ tránh xa kẻ có bệnh truyền nhiễm.Bạn tôi đến thăm, cho một lọ rượu ngâm bằng rễ hoa hồi núi đá và tắc kè Tây Nguyên rồi chỉ thẳng vào mặt tôi bảo:

- Mày đừng có yếm thế. Hồi ở biên giới đánh nhau với bọn lấn chiếm cậu hổ báo lắm cơ mà?- Đấy khác đây khác!

- Khác là khác thế nào. Kia nó lấn đất còn đây nó lấn vào sự trong sạch của mình.

- Khác là khác thế nào. Kia nó lấn đất còn đây nó lấn vào sự trong sạch của mình.- Nói như cậu thì mình chịu.

Bạn tôi cười:- Nhà báo ơi là nhà báo. Tư liệu đầy người. Chữ nghĩa có sẵn mà bó tay. Thôi, đi vùng cao mà dưỡng thương lấy một tuần. Trốn tránh cuộc đời thì chỉ có lên núi

ở với mây.- Đành thế vậy…

Tôi buột miêng nói câu ấy và hờ hững giơ tay bắt tạm biệt người bạn tốt tính và hay khiêu khích của mình. Tôi đi lên núi thật.Mây trắng quá. Có lên đến khu núi cao này mới biết mây ở đây . Nó phủ lưng rừng như người ngủ đắp chăn. Nó ùa vào nhà hiếu thảo như đàn trẻ thơ của nhà

hiếu khách. Mới đầu gặp mây lòng tôi ngợp ngợp . Mặt mũi như hư không. Cảm giác lâng lâng như có cánh khi gặp một làn mây lùa qua bước chân. Rồi bạt ngàn làsu su. Cây thân mềm, mọc giàn , lá sẫm mượt. Ngọn su su mềm mướt như cánh tay nghệ sĩ múa điêu luyện. Cây sinh ra để làm mềm mại mắt người. Và, vẫn biết cây

là rau sạch, một thứ đặc sản quý của vùng núi trùng điệp có chất ngất đỉnh cao này mà sao khi đụng đũa nâng lên cái ngọn cây bị sào thẫm tới nhường kia, tôi thấyxót xa rồi chợt cười cho cái kiểu tư duy uỷ mị và lộn xộn của mình…

Cũng chỉ thư thái được có một chiều và một đêm. Sự chuyển đổi vùng khí hậu cho tôi được bình an chốc lát. Vẫn không rời xa được vùng cảm thức của mình.Miền ấy, có ngôi nhà tôi ở, có con đường tôi đi, có gã công công người cùng phố giàu sang nhưng nhiều khuất tất. Lại có cả thằng bạn cùng thời làm nghề khác hẳn

nghề tôi nhưng trực tính và hài hước. Thương bạn không bao giờ thiếu nhưng chọc tức bạn, chọc giận bạn nó cũng có thửa. Nhiều lúc nó làm tôi nóng mặt, rất giậnnhưng không làm sao quên được. Lúc này ở xa nơi nhộn nhạo, một mình hun hút trên con đường vắng, chỉ gặp đá và cây, gió và mây…Mọi cái đều hào hển, dư

thừa. Tôi như vừa qua cơn tắm gội. Buổi sáng như xuân, trưa nắng như hè, chiều bảng lảng hơi thu và đêm nồng ấm màu lửa bếp…Qua một chiều, một đêm cho tớichiều sau thì sự tĩnh lặng trong tôi đã lại có gì đơn điệu. Vốn là người ưa sống cô đơn mà sao khi ở giữa cô đơn tôi lại thấy lắm cô đơn đến thế. Định ngủ sớm mà

nào có ngủ được. Thật nhạt nhẽo cho thú chơi chỉ biết có ngả lưng nhắm mắt. Tôi khoác vội lên người chiếc áo len rồi lững thững rời phòng nghỉ. Từ lưng chừngcao tôi xuôi xuống dốc. Màu đèn đường đổ xuôi như đồng loã với bước chân tôi. Nó vô vị và vô định…

Từ đâu đó ngân lên tiếng hát rồi tiếng nhạc. Tiếng con gái duyềnh cao, ngọt gắt rồi lả xuống dịu dàng…Trèo lên trái núi Thiên Thai này Thiên Thai

Thấy đôi con chim loan phượngChường là anh Chường ơi…

Lời hát và tiếng nhạc thật cuốn hút. Tôi nghiêng mặt, nghiêng tai dò tìm nơi có những âm thanh quyến rũ ấy. Chỉ mươi phút sau tôi đã tới được nơi mình muốn tìm.Quán giải khát sàn gỗ. Khách đông. Người uống nước quả, người nâng ly cà phê. Khách nghe nhạc hầu hết là khách từ xa lên núi nghỉ. Khi tôi đến thì bài hát vừa

hết. Tiếng vỗ tay đổ hồi, không ngớt:- Hát lại, hát lại…

- Hát lại…Người giới thiệu, có lẽ là ông bầu, tóc chải mượt, vận bộ lụa màu nâu bóng ra trước quầy nước cúi chào rồi thưa:

“Để đáp lại thịnh tình của quý vị, sau đây người đẹp có giọng ca vàng xin hát tiếp tình khúc “Ngồi tựa mạn thuyền” , một giai điệu nhẹ như gió, mềm như nước,êm như bông và rất giàu nữ tính ạ…Thưa quý vị , đây tình yêu Quan họ….”

Tiếng vỗ tay lại rộ lên. Người hát từ phía trong bước ra. Em không mặc mớ ba mớ bảy . Chiếc áo váy dài quá gối màu nõn chuối ôm khít thân hình để lộ vừaphải đôi bắp chân thuôn mịn. Quanh vòng cổ nõn của người ngoan là làn khăn màu lá cây sẫm làm tôn thêm khuôn mặt bầu bầu có đôi mắt lá dăm đen thăm thẳm.

Màu vải xanh chuyển gam đã làm tôn thêm vẻ nuột nà, hồng hào của màu da thịt. Người hát đêm nay cho dù không nón thúng quai thao mà sao đôi mái tóc buôngdài rồi mười ngón tay như mười búp lá khép mở khiến người nghe xuyến xao đến khôn tả…

Ngồi rằng là ngồi tựa í a có mạn thuyềnHỏi người là người tri kỉ…

Người hát như đang hỏi người nghe rồi lại hỏi mình. Rồi câu hát ấy như vận vào tôi và hỏi tôi. Người đẹp hay câu hát đẹp. Cả hai thứ đặc sản ấy như men rượungọt ngào lặn xoáy vào hồn cốt người nghe. Đến nỗi, tôi như hoá đá nơi góc nhà sàn để nhìn người, nghe người và chìm đắm trong nỗi mộng mơ người…

Cuộc hát tàn, tôi đi lên phía trước, rẽ đám bàn ghế và đám người nhộn nhạo muốn được gặp người hát hỏi một câu và nói một câu. Cũng chỉ một câu thôi để rồiđược nắm chặt tay người mà tôi mê mẩn. Nhưng người hát đã đi đâu, lẳng lặng như làn mây lùa qua mặt rồi tan loãng vào thăm thẳm núi đêm.

Tôi hỏi chủ quán:- Cô có biết nhóm hát họ ở đâu không?

- Quanh quẩn mấy khách sạn đâu đây thôi anh ạ!- Chả lẽ…

- Quả thực em không để ý. Nhà hàng chỉ lo việc mời họ hát. Hát xong là hết. Tiền trao cháo múc mà…Câu trả lời lạnh lùng . Trách làm sao được người chỉ mượn giọng hát để bán hàng. Câu ca gió thoảng…

Tôi uể oải leo dốc về nhà nghỉ. Căn phòng trắng toát những chăn đệm . Chống chếnh quá. Tiếng đàn tiếng hát lại như từ đâu ào ạt vỗ vào cửa kính. Ai hát đấyhay là gió hát. Khuya rồi mà sao gió vẫn chưa chịu dừng, núi chưa chịu ngủ. Sao câu ca mạn thuyền vẫn như mái chèo khuấy động lòng tôi.

Tôi mở cửa phòng. Khoác lại tấm áo len . Con đường dốc lại mời gọi tôi thả bước. Một mình trong đêm núi tôi dễ lấy lại sự yên ả.Có ai đứng dưới cột đèn. Người đứng như run trong gió. Tôi đến gần và nhận ra tiếng khóc. Thật hay mơ. Người đứng khóc dưới cột đèn là người có tiếng hát

làm tôi đắm lòng lúc nãy. Em mặc quần bò, áo phông, tay xách một túi nhỏ . Dáng em mỏng mảnh, yếu đuối…- Em…?

- Làm sao em xuống núi bây giờ được hả anh?- Nhưng sao lại phải đi gấp vậy?

Cô gái lắc đầu. Nước mắt tràn nhiều hơn trên gò má đã tẩy trang nhưng vẫn còn mịn màng sắc lụa của da.- Anh có thể giúp em được không?

- Em nên đợi sáng mai…Cô gái rùng mình, lắc đầu mạnh hơn:

- Không. Chúng sẽ tìm ra em. Nguy hiểm lắm. Anh giúp em!Tôi nhìn bốn phía. Đêm đã vào khuya. Cô gái trông càng tội hơn trước nét mặt ngờ nghệch bối rối của tôi.

-Em có thể lên phòng tôi, Tôi sẽ nhường em chỗ nghỉ hoặc tìm phòng nghỉ khác cho em?Cô gái vẫn lắc đầu. Môi cô mím lại rồi bật ra lời:

- Em chỉ nhận đi hát. Em không thể …Tôi lờ mờ hiểu ra vấn đề. Trong câu nói không hết lời của cô gái có biết bao hàm ý với rất nhiều nguy hiểm rình rập.

- Đã có điều gì xảy ra với em phải không?Cô gái lắc đầu, dứt khoát:

- Không!- Tôi có thể giúp em đi báo công an không?

- Chưa cần thiết đâu anh ạ. Chỉ cần đêm nay em xuống được núi em sẽ cạch chúng . Lũ khốn nạn. Em là người hát chứ đâu phải….Câu nói của em làm tôi lúng túng. Lúc này biết kiếm đâu ra phương tiện để giúp em xuống núi. Tôi có thể đứng bên em, làm vệ sĩ cho em suốt đêm liệu em có

ưng?Thật may, có ánh đèn ô tô đổ dốc. Tôi mạnh bạo đứng ra giữa đường hươ tay. Xe dừng. Tôi nhìn kỹ. Xe biển xanh. Người lái xe thò đầu ra. Rồi người ngồi ở

cửa sau cũng mở cửa. Tôi rút thẻ nhà báo và vắn tắt trình bày. Lát sau tôi quay lại nói với cô gái:- Em có thể yên tâm về. Xe của những người tốt.

Cô gái rối rít đi ngay.- Này em…

Cô gái dừng lại. Tôi cởi chiếc áo len khoác lên người cho em:- Đêm lạnh. Em mặc vào cho ấm.

- Cám ơn anh…Anh cho em xin tên và địa chỉ được không?Tự nhiên tôi đỏ mặt . Rồi ngu ngơ thế nào tôi lắc đầu:

- Em lên xe đi không họ chờ. Chúc em chóng qua cơn sợ hãi…- Kìa anh?….

Tiếng còi xe giục. Cả tôi và cô gái sẽ thật vô duyên nếu còn nấn ná. Sau này tôi biết, đấy là giây phút đẹp đẽ nhất và cũng dốt ngốc nghếch nhất của mình.Người hát đã đi rồi và cả đêm ấy tôi không sao ngủ được. Tiếc nuối và bâng khuâng. Sáng hôm sau bạn tôi gọi điện báo tin vui: “Gã lưng gù đã bị bắt. Rạng sáng

nay. Khi mặt trời lên không thấy gã lưu manh ấy mở cửa ra ô tô nữa…”Bạn tôi đã gọi là chắc chắn rồi. Chả giấu gì, bạn tôi là một sĩ quan công an. Bây giờ mới lộ diện là người tham gia vụ án ấy còn lúc hối thúc tôi viết bài chống tham

nhũng miệng nó cứ kín như bưng…Và lúc này đây, sau giây phút hoan hỉ trên kia tôi tự thấy xấu hổ về điều mình chưa làm được. Tự nhiên tôi thấy trống trải vô cùng. Tôi nhớ tới em, nhớ tới mình.

Tôi đã bỏ thành phố để lang thang lên con sông này tìm em. Tôi nghĩ em là người của con sông ấy. Chỉ có người ăn nước dòng sông ấy mới có lời ca thắm lòng nhauđến vậy. Hơn nữa trong cái đêm xứ núi hôm nào, em đã cho tôi bài học của sự trong trắng và lòng dũng cảm khi gặp cái xấu mặc dù em chỉ là con gái.

(Báo Văn nghệ)

Nguồn cảm mới

Giữa mùa mưa năm 1948, như một giề lục bình trôi, tôi tấp về sống với một người chị họ, chủ một cái quán cóc nghèo ở cuối một ngõ hẻm lầy lội thuộc một vùngngoại ô Chợ Lớn. “Sự nghiệp” của tôi gồm có chứng sốt rét rừng trong cơ thể bệnh hoạn và một nỗi ê chề buồn nản trong tâm hồn giao động hoang mang vì không

ức đoán nổi cuộc chiến tranh đẫm máu đang kéo dài trên đất nước chừng nào chấm dứt. Chồng chị, một người thợ cưa chất phác, hiền lành bị “bao bố” (*) nhìnmặt, bắt đi biệt tích từ ba tháng trước, bỏ lại cho chị bốn đứa con thơ và một nỗi đau buồn không được phép công khai biểu lộ.

Chị em nhiều năm xa cách gặp lại tình cờ giữa thời loạn lạc, niềm vui ấy tưởng không bút mực nào tả xiết, nhưng nó rất mỏng manh, hời hợt vì bị đàn áp bởinhững lo âu sợ sệt triền miên. Tôi mua lá chèn lại mái nhà dột, mượn dá vét đường mương, chữa lại mấy cái ghế ba chân, mấy cái bàn khập khễnh, dọn quét cho cái

quán bớt vẻ thảm hại và giúp đỡ chị trong công việc lặt vặt hàng ngày: Bửa củi, pha cà phê, tắm rửa mấy đứa cháu...Lần lần thấy cũng quen và vui vui. Tối lại, sau giờ giới nghiêm, tôi cắm đầu viết tiếp một tiểu thuyết ngắn đang bỏ dở. Khách hàng của chị tôi gồm những người

nghèo trong xóm: phu xích lô đạp, thợ cưa, thợ máy, thợ hớt tóc và mấy cô gái quen mặt của cái ổ mại dâm công khai ở ngay đầu ngõ hẻm. Sáng nào cũng có nămba khách chơi hoa, phờ phạc, rã rời sau một đêm trác táng xách một vài tờ báo đến chụm đầu bên những cốc cà phê mà bàn chuyện năm châu. Sau khi cãi vã dài

dòng về Tàu, Nhật, Mỹ, Nga, kết luận của họ thường thường rất đơn giản: Trái đất mỏng manh này không còn đứng vững được mấy ngày. Sớm muộn rồi nó cũngbiến thành tro bụi vì chiến tranh nguyên tử.

Mấy ả giang hồ lơ đãng ngồi nghe, không tán thành cũng không phản đối, lớp phấn son loè loẹt, sau một đêm dài chịu đựng đủ thứ trò phũ phàng của khách chơihoa, không còn che đậy nổi cái tiều tụy rã rời của thân thể hao gầy.

Ngồi nhìn họ và nghe họ nói, tôi thương cho cuốn sách của tôi trong đó tôi chủ tâm xác định cái chiến thắng tất yếu, sau cùng của đạo lý trước cái thắng thế tạmthời của dục vọng xấu xa. Tôi mất tin tưởng lần lần. Ngọn lửa yêu đời tàn lụn trong tim lạnh, và có nhiều đêm tôi cắn bút nhìn đèn đến sáng mà tập bản thảo vô duyên

không thêm được một dòng mực mới nào.Một buổi sáng mưa dầm, một tư chức mới quen ngậm ngùi nói nhỏ vào tai tôi:

- Tôi biết anh đau lòng lắm vì những điều nghe thấy. Nhưng có gì lạ đâu! Anh chưa từng nhịn đói nên anh chưa biết. Ai cũng muốn làm người lương thiện. Nhưngngười lương thiện cũng phải có ăn mới sống như mọi người. Khi bụng đói, phải đem bán cái gì mình có để ăn. Người nghèo thì có cái gì ngoài sức lao động? Đem lao

động bán không người mua, rốt cuộc cũng phải bán tới những cái đáng lẽ không nên bán. Chính tôi hồi năm ngoái, giữa những ngày đói lạnh vì thất nghiệp, có lần tôiđã tiếc rẻ tại sao tôi không phải là một người phụ nữ để có thể làm gái điếm nuôi thân. Sự đời nó vậy! Cười lên đi bạn ơi! Buồn mà chi.

Tôi không đáp vì chưa có lý để đáp. Tôi nghĩ đến những cô gái nhỏ tóc mới chấm vai, môi vừa ửng đỏ, hồn nhiên trinh bạch như tờ giấy trắng, con em của nhữngngười nghèo trong xóm, trong vài năm nữa tránh sao cho khỏi một số lớn phải sa vào vũng bùn nhơ vì sinh kế. Trong số đó, tôi để ý đến một người em Tàu lai chừng

15 tuổi sống với nghề gánh nước mướn để nuôi cha. Cha em là một lão Hoa kiều già yếu, bệnh hoạn tối ngày nằm một chỗ. Tên em rất đẹp: Hứa Lệ Mai. Và ngườiem cũng đẹp như tên, cái đẹp hồn nhiên khoẻ mạnh của con người lao động. Cơ thể em vì chưa phát triển hết mức của tuổi dậy thì nên chưa có những đường cong

tuyệt mỹ của người thiếu nữ đương xuân, nhưng hứa hẹn rất nhiều nét đặc sắc quyến rũ được khách đa tình trong vài năm sắp đến.Tôi chú ý đến em không phải chỉ vì em đẹp. Chính cái hồn nhiên tươi trẻ của em đã chận đứng được tư tưởng bi quan, yếm thế lúc nó sắp hoàn toàn chiếm cứ

linh hồn tôi. Chưa bao giờ tôi bắt gặp em buồn. Nhà em ở cách nhà chị tôi ba căn phố hẹp. Khuya nào trong chuyến đi đầu tiên em cũng quảy đôi thùng không, ghéquán gởi một cái ly mua cà phê để bận trở lại bưng về cho cha.

Từ đó em gánh cho tới hai giờ chiều, trung bình chừng 60 thùng nước, chỉ nghỉ vào buổi trưa một lát để lo cơm nước. Buổi chiều, đôi khi rảnh, em lội xuống cáiao sình trong xóm mua rau muống, gánh bán dạo. Làm lụng cực nhọc như vậy, mà em luôn luôn vui vẻ với mọi người. ít khi nghe em than mệt nhọc hay phàn nàn về

cuộc đời nghèo cực. Lúc gánh nước, hái rau, em thường hát nho nhỏ nhiều điệu hát Tàu ngăn ngắn rất vui tai. Cũng ít khi nghe em trầm trồ một ngôi nhà đẹp hay

cuộc đời nghèo cực. Lúc gánh nước, hái rau, em thường hát nho nhỏ nhiều điệu hát Tàu ngăn ngắn rất vui tai. Cũng ít khi nghe em trầm trồ một ngôi nhà đẹp hay mơ ước thèm thuồng một món ăn ngon, một bộ quần áo mới. Cái vui vẻ hồn nhiên trong cảnh ngộ đáng buồn của em làm tôi suy nghĩ. Tôi tự hỏi: “Cái triết lý yêu đời

đó, xuất phát từ đâu? Sao em tìm thấy mà tôi không thấy?”.Tháng sau, tôi biết được lý do yêu đời của Lệ Mai. Nó rất giản dị. Em nói:

- Chính nhờ vui mà em mới chịu đựng nổi cảnh nghèo. Nghèo mà buồn nữa thì có nước chết luôn.- Nhưng làm sao mà em vui được trong cảnh nghèo?

- Trong xóm, ai cũng khen em siêng năng chịu cực giỏi, ăn ở với cha có hiếu. Ai cũng thương em. Điều đó làm cho em vui.- Đó là chuyện bây giờ. Có khi nào em nhìn cái cảnh bán phấn buôn hương ngoài đầu lộ kia mà ngao ngán cho tương lai của em không?

- Không. Bởi vì em có định trước trong bụng rồi. Cùng quá thì chết, chứ không làm như vậy!- Nhiều người trong số phụ nữ đó trước kia chắc cũng có nghĩ như em…

Mắt Lệ Mai sáng lên. Có vẻ như em cảm thấy bị xúc phạm:- Bà cô ruột của tía em bên Tàu hồi còn con gái đã nhảy xuống giếng tự tử để khỏi làm nàng hầu cho một ông quan hung ác. Em tin rằng em có cái máu dám

chết đó của dòng họ bên nội.Tôi mỉm cười gật đầu, hoài nghi cái quyết tâm của cô gái Tàu lai 15 tuổi. Em hỏi lại tôi:

-Thằng Hải, con chị Ba, nói đêm nào anh cũng thức viết tới khuya. Anh viết cái gì vậy?- Tiểu thuyết.

- Tiểu thuyết anh nói cái gì đó?- Nhiều chuyện lắm. Trong đó có chuyện một cô gái đau khổ đang do dự trước sự lựa chọn: Hoặc chết hoặc làm gái điếm…

Tôi ngưng nói nhìn Lệ Mai dò xét. Em nóng nảy hỏi phăng:- Rồi kết cuộc ra sao?

- Chưa có kết cuộc. Tôi cũng do dự như cô gái của tôi vậy. Bắt cô làm gái điếm, tội nghiệp quá. Để cô ta chết, thì tôi không nỡ…Lệ Mai lắc đầu, hơi bĩu môi:

- Nói anh đừng giận. Có khi tại anh nhát gan rồi cô gái của anh cũng nhát gan theo.Anh nên cho cô gái đó có cái máu dám chết như bà cô của cha em bên Tàu đi.

Lệ Mai nói xong, quảy thùng ra vòi nước. Tôi lặng lẽ nhìn theo chưa hết hoài nghi.Hai hôm sau, tôi được dịp thấy Lệ Mai buồn. Tờ mờ sáng, nhiều người trong xóm bị “bao bố” nhìn mặt lùa lên xe bít bùng chở đi. Em đứng ở vòi nước nhìn họ,

đôi mắt long lanh ướt lệ. Té ra, em không phải là một cô gái không biết buồn. Nhưng em buồn đúng chỗ. Chiều lại, tôi cũng đi để tránh cái tai hoạ bị lùa lên xe bítbùng. Lệ Mai không khóc bằng đôi mắt như buổi sáng nhưng khóc bằng một giọng nói nghẹn ngào:

- Anh nhớ đừng để cô gái đau khổ của anh làm gái điếm. Tội nghiệp lắm!Cái buồn đẹp làm cho người đẹp càng thêm đẹp. Tôi gật đầu hứa sẽ y lời.

IIMột buổi chiều cuối tháng 10 năm 1954, tôi trở về xóm cũ sau nhiều năm lặn lội bôn ba. Nhà cửa, cảnh vật lạ huơ lạ hoắc. Chỉ trong vòng 6 năm, bốn đám cháy

đã đổi thay hẳn bộ mặt của xóm nghèo. Khó khăn lắm, tôi mới tìm được nhà bác Tư xích lô đạp ở khít vách chị tôi hồi trước. Bác cho biết chị tôi và các cháu đãđùm túm nhau đi đâu không biết sau đám cháy đầu tiên chuyện trò giây lát, tôi hỏi tin tức Lệ Mai. Bác Tư cho biết cả hai cha con đều chết trong đám cháy thứ hai

sau lúc tôi ra đi chừng vài năm. Người cha chết liền tại chỗ. Lệ Mai bị phỏng nặng vô bệnh viện mới chết. Một chi tiết làm nhiều người thắc mắc: Lúc đập cửa đểxông vào căn nhà đã bốc cháy, thay vì nghe Lệ Mai mở chốt cửa, người ta nghe em gài thêm một cái chốt nữa. Riêng bác Tư thì không ngạc nhiên. Trước đó mấy

hôm, Lệ Mai tâm sự với cô Ngọc - con gái của bác - rằng em rất buồn, không muốn sống nữa nhưng chết thì không nỡ bỏ cha già hiu quạnh. Từ nhiều năm rồi, chaem cầm cự được với bệnh tật để sống lây lắt không phải chỉ bằng số tiền của em làm lụng để phụng dưỡng. Thỉnh thoảng ông phải lén lút nhận tiền của một phú

thương trong Chợ Lớn qua trung gian của một mụ mối lái chuyên săn gái tơ cho trọc phú. Mụ này đã “dòm ngó” Lệ Mai từ lúc em 12 tuổi, từng dắt em đến cho têntrọc phú kia nhìn thấy và ưng ý. Bây giờ đã đến lúc món hàng phải được trao tay cho người mua. Tương lai của những cô “tớ gái nàng hầu” kiểu phong kiến Tàu ấy

sẽ bị đem bán lại cho các ổ mại dâm khi các em đã trở thành những món đồ chơi nhàm chán.- Con “xẩm” con ngang bướng đó nó gan dạ và liều lĩnh lắm. Nhiều người cho rằng nó quá hoảng hốt đâm ra mất trí. Tôi thì tôi cho rằng nó… nó mượn ngọn lửa

để kết liễu cuộc đời bịnh hoạn của cha nó rồi nó tự thiêu luôn.Bác Tư kết luận bằng một sự áng chừng như vậy.

IIIHứa Lệ Mai,

Sự áng chừng của bác Tư xích lô về cái chết của em, kể lại cho một người nào khác nghe, có thể vẫn cứ còn là một sự áng chừng.Với tôi, nó lập tức trở thành điều khẳng định. Tập bản thảo ngày xưa hãy còn đây và cô gái hiếu thảo với mẹ cha, chung thủy với người tình trên trang giấy của tôi

vẫn còn do dự không dám chết. Cô ta nhát gan hay chính người cầm bút nặn ra cô là tôi đây mới là kẻ nhát gan như có lần em đã nhỏ nhẹ chê bai tôi kèm theo lời xinlỗi, biểu tôi đừng giận?

Tôi chưa viết tiếp cái chung cuộc của câu chuyện lên trang giấy nhưng trong ruột gan tim não tôi, cô gái chung tình mà nhẹ dạ trong tiểu thuyết - với chút máudám chết mượn từ hồn phách của Lệ Mai - Sẽ tự kết liễu cuộc đời mình để giữ vẹn cái gì cần giữ vẹn.

Tôi sẽ viết như vậy với lương tri yên ổn của người cầm bút biết tự dặn dò mình đừng tuỳ tiện bịa đặt. Rõ ràng đây là một chuyện khó tin giữa cuộc đời đầy rácrưởi bọt bèo này, nhưng với những ai tin rằng vẫn còn có người dám chết để không sống nhục, nó có thật chứ không phải là điều bịa đặt.

Sài Gòn 1957(*)Vào những năm 1948-1949, trong các cuộc bố ráp, cảnh sát và quân đội Pháp tại Sài Gòn thường trùm lên đầu bọn điểm chỉ viên những cái bao bố có khoét

hai lỗ nhỏ để chúng nhìn thấy người chúng điểm chỉ mà không lộ tông tích.(Báo Văn nghệ)

Chim di trú vừa bay vừa ngủ

Thô lố hai con mắt ốc nhồi, bà Oanh trưởng phòng in của nhà xuất bản chò chõ vào tôi cái nhìn vừa chảnh choẹ vừa bức bối:- Thế nào, cậu còn cà rầm cà rì đến bao giờ nữa?

- Thế nào, cậu còn cà rầm cà rì đến bao giờ nữa?- Thưa chị…

- Không thưa gửi gì cả. Tôi hẹn cho cậu hai giờ đồng hồ nữa.- Thưa chị - dằn lòng, tôi vẫn giữ nguyên giọng thưa gửi lễ phép - chị đưa bản bông này cho em mới được hai hôm. Mà có ít đâu, những bốn trăm trang.

- Hai hôm! Bốn trăm trang! Thế là quá rồi. Cậu nên nhớ, ông giám đốc duyệt bản can một cuốn tiểu thuyết năm trăm trang chỉ mất có một giờ. Chính tôi thúcông để kịp kế hoạch đưa nhà in. Ông ấy đọc theo lối nhất mục thập hàng, một cái nhìn qua luôn mười dòng.

- Không được chị ơi, nghề sửa morasse của em nhất mục thập hàng bỏ lỗi cả đống, có ngày mất niêu cơm, vào tù đấy. Chị ơi, chị nhớ hộ em…- Nhớ cái gì?

- Năm ngoái, ở quyển Nhịp sống thế kỉ, trang 130, nguyên bản là: Tinh thần quốc tế chủ nghĩa, nhà in xếp thế quái nào lại là: Tinh thần đế quốc chủ nghĩa, đọclướt không phát hiện ra đến khi lên máy mới biết, may mà sửa chữa kịp thời chứ không thì mất mạng rồi. Sai một li đi một ngàn dặm. Lấy nhanh làm đầu không được

đâu, chị ơi!- Mặc cậu! Tôi không biết. Tôi cho cậu thêm hai giờ đồng hồ nữa là quá rồi.

- Nhưng mà…- Thế cậu có biết là máy in hiện đại một giờ nó in báo mấy chục vạn bản không?! Quen cái thói lề mề và làm vừa ngủ như ông Sùng đánh máy đi nhé!

Thười thưỡi cái môi dưới mỏng quẹt, nhấm nhẳng nói xong mấy câu nọ, bà trưởng phòng đẹp, nổi tiếng cay nghiệt và hay xóc mói của tôi, quay ngoắt người đithẳng. Cơ quan đang vào cữ nhộn nhịp. Nắng cuối xuân sáng hừng một vệt chéo cánh sẻ vào giữa gian đại sảnh rộng rung rinh hình bát giác; ở đó, gần chục cán bộ

biên tập đang châu đầu quanh một mặt bàn lớn tròn xoe như cái bàn ăn của người Tàu dưới một cây đèn chùm vẫn còn hoe hoe ánh điện, cắm cúi biên chép, sửachữa bản thảo, phăng phắc trong hối hả âm thầm và tự nguyện.

Công bằng mà nói, ở sự việc thúc giục tôi nhanh tay lên trong công đoạn sửa bản in, bà Oanh không thể hiện thói khắt khe, ép buộc. Nó là cái sự tất yếu, cáiviệc không thể đừng. Tôi và bà đều chỉ là một bộ phận li ti trong cỗ máy đang vận hành đang vào guồng. Chẳng qua là dùi đục động đến đục, đục chạm đến săng mà

thôi. Thế đấy, bây giờ thì cái gì cũng lấy nhanh hơn nữa, lấy việc tranh cướp được nhiều thời gian hơn làm mục tiêu hàng đầu phải giành được rồi. Bây giờ thì tốc độxuất thần là niềm tự hào trên mọi lĩnh vực và mặc dầu đã có chút e ngại vì thực tế là có một tỉ lệ thuận giữa sự lãng quên và tốc độ, người ta vẫn hối thúc nhau tăng

tốc hơn nữa và coi đó là hậu quả tất nhiên, một ân thưởng của các cuộc cách mạng kĩ thuật thời hiện đại. Xe máy, ô tô đã thay thế xe đạp. Cũng như thế, máy bayđộng cơ đã bị phản lực siêu âm truất ngôi. Lò vi sóng loại bỏ lò than nướng quạt tay. Thức ăn tăng trọng rút ngắn thời gian tích lũy thịt của con vật. Đánh máy vi tính

thẳng tay xoá sổ lối xếp những con chữ in đúc chì kiểu nhặt cứt chuột thủ công, khiến cuốn sách dày ba trăm trang từ khâu chế bản đến khi ra lò chỉ còn một tuần,thay vì trước đây kéo dài hàng nửa năm. Nhanh, nhanh nữa lên! Như bị ma đuổi, người người trong vòng xoáy tốc độ chóng mặt, đã nhiều lúc kinh hoàng kêu trời:

Sao tôi bận tối tăm mặt mũi thế này, và quên dần nếp sống thảnh thơi thanh nhàn cùng thú thưởng hoa ngắm nguyệt. Đã lỗi thời rồi lối mài câu rũa trong chữ vănchương nghệ thuật. Tinh thần mì ăn liền quán triệt ở tất cả các lĩnh vực, từ tình yêu đến tiểu thuyết. Tiểu thuyết vốn là thể loại được phép đủng đỉnh la cà đang bị lên

án. Yêu cầu nhà văn từ bỏ lối cà kê dê ngỗng. Xin chớ rườm rà. Khỏi phải miêu tả tỉ mẩn. Cả câu văn cũng thế, hãy tỉnh lược, hãy làm cho nó như nắm đấm bàn tay,chỉ còn toàn là gân cốt!

Nhưng mà thôi, thiên hạ thế nào cứ mặc họ. Còn tôi, nhân viên morasse, tôi cứ mắt soi, tay dò, một mình một nết lẩn mẩn mò phát hiện cái khiếm khuyết của câuchữ, tôi cứ việc tôi làm. Và tôi không cảm thấy cô độc. Vì tôi có người cùng chia sẻ là ông Sùng, nhân viên đánh máy của cơ quan, bạn vong niên của mình.

Đã sắp đến tuổi hưu trí, khổ người thấp, vai xuôi, mặt đầy, má chảy, hai con mắt điềm tĩnh húp híp hay đỏ ké lúc nào cũng như đang ở trong cơn ngái ngủ, ôngSùng là một khối ù ì, chậm chạp, lề mề, cổ lỗ. Ông rất ít nói. Và ngồi ở góc nhà âm âm tối, với chiếc máy chữ Optima cũ kĩ kềnh càng, ông như một kẻ lạc lõng đứng

ở bên lề đường, không ăn nhập gì với cảnh quan, môi trường. Cả tiếng con chữ táp đều đều trên mặt giấy của ông cũng vậy. Chúng lạc nhịp giữa những tiếng độngrào rào êm tai của các bàn phím dưới những ngón tay búp măng của các nữ nhân viên vi tính mắt xanh, môi đỏ, mặc mini-jupe, đi giày cao.

Xưa, ông Sùng là nhân viên đánh máy bậc cao đẳng. Mười ngón tay ông Sùng sau bốn thập kỉ mổ các nút chữ đã tù tù và thành chai dầy bóng như bọc sừng.Mười ngón ấy đã hoá thân bao nhiêu trang chữ viết tay thành những trang chữ đánh máy sạch sẽ, rõ ràng và đẹp đến mức nhìn chúng không khỏi dâng lên trong lòng

niềm ân ưu, kính trọng. Ôi, đứa con hoàn thai thì nhem nhếch mà lọt lòng sao lại có thể kháu khỉnh khôi ngô thế! Ông đánh theo Méthode dix doigts, tân tiến. Đánhmáy mà ông như một nghệ sĩ múa mười ngón tay theo điệu nhạc tinh tang phát ra từ chiếc máy. Ông đã truyền nghề cho ít nhất là một nửa nhân viên cơ quan, trong

đó có cô Lũy tóc dài chấm gót, gái bốn mươi tuổi mà hơn hớn, mỡ màng, giờ là thủ quỹ cơ quan, ngồi cạnh ông, với cái két sắt lù lù nặng chịch một khối bên mình.Đó là thời thịnh vượng của chiếc máy chữ. Từ chữ viết tay biến thành chữ đánh máy là cả một cuộc nhảy vọt của nền văn minh. Tiếc thay, thời mà chiếc máy chữ

vốn chỉ là một vật dụng hoạt động mang tính thuần túy cơ học được coi là một cỗ máy tối tân, chứa đầy phép lạ chẳng bao lâu đã hết mùa trọng vọng. Bây giờ cầmmột trang chữ đánh máy, dù nội dung là một đơn từ khiếu nại chứa đựng một câu chuyện éo le hay một bài thơ tuyệt tác của Tagore, Byron hay Apollinaire,

Akhamatova, người ta cũng đã thấy thoáng chút ngại ngùng. Miệng đã quen ăn của ngon, mắt đã quen nhìn cái đẹp mất rồi!Chẳng còn được trọng dụng như xưa, biết làm thế nào được, nhưng còn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu và cũng nên tận dụng, hơn nữa cần phải tỏ ra là

người ăn ở có tình nghĩa, biết đến công lao của người đi trước; vì vậy cơ quan chủ động đặt vấn đề và ông Sùng vui vẻ tiếp nhận. Ông Sùng vẫn làm việc với cái máyOptima, chiến binh vẫn cưỡi con ngựa già ra trận, nhưng thay vì đánh máy những trang bản thảo văn thơ ra tấm ra món, nay ông chỉ còn đánh những công văn lặt vặt

trong nội bộ cơ quan thôi.Làm sao có thể cưỡng lại logic và lịch sử? Mà cưỡng lại làm gì! Con người có quyền mong muốn được hưởng lợi nhiều hơn. Nhưng con người cũng nên thường

xuyên làm mới tài sản nội tâm của mình để hiểu rằng, công bằng mới thật sự là lẽ cao cả mà họ phải chấp thuận. Ông Sùng nghĩ vậy và ông bằng lòng với công việcđược giao, một công việc nhỏ mọn, nay càng nhỏ mọn vì đã mất đi ý nghĩa thực dụng rồi.

Tạch tạch tạch… cọt cọt cọt… Thời gian không hiện diện. Thời gian đang hoá thân vào tiếng những con chữ va đập một hiệp âm nhỏ giọt đều đều từ tay ôngSùng sản ra. Tiếng máy chữ của ông Sùng đang chứng tỏ một điều quan trọng nữa, bên cạnh sự chuyển động gấp gáp, những tốc độ chóng mặt, cuộc sống còn một

dạng tồn tại nữa là sự điều hoà, tuần tự như tiến, nhỏ giọt, giống như một sự tích tụ, thẩm thấu hàng ngày.Tạch tạch tạch… tiếng những con chữ đập vào mặt giấy đều đều là sản phẩm được tạo ra từ những ngón tay của ông Sùng. Những ngón tay thô tháp thuần

thục, lành nghề đến mức có thể nghĩ chúng làm việc trong một cơ chế tự động hoàn toàn. Không còn là biểu hiện của lao động có ý thức, tiếng những con chữ đậpvào mặt giấy đã thoát xác, chỉ còn là những âm thanh bay bổng, khai triển từ một nguồn thần lực trìu tượng nào đó mà thôi. Có cảm giác thật là như thế, vì đôi lúc

ngoảnh lại nhìn ông Sùng, tôi thấy mặt ông lặng tờ, mắt ông nhắm tịt, ông đang ở trong trạng thái ngưng thần, mất ý thức, bị thôi miên; trong khi những ngón tay ôngnhư tự thân vận động, như phản xạ vô điều kiện, vẫn mải mê và nhịp nhàng nhấn, mổ từng nút chữ. “Công chức vốn là những kẻ dễ bị thôi miên nhất. Chỉ cần làm

cho họ nghĩ tới công việc là họ có thể ngủ thiếp đi liền”. Tôi nhớ tới lời một nhà thôi miên, cùng lúc bên tai tôi vang vang lời cô Lũy thủ quỹ tóc dài, ngực nở, mắt lónglánh, tay đang mở két sắt, ngoảnh mặt sang cất tiếng lảnh lót gọi ông Sùng:

- Này, cuộc đời chỉ có gang tay. Ai hay ngủ ngày chỉ còn nửa gang. Dậy đi chứ, ông Sùng.Rồi vẫn thấy ông Sùng không hề động đậy thân mình, cô liền quay sang tôi, cam đoan với tôi rằng, ông Sùng vẫn đang trong cơn mê thiếp. “Đấy, có nghe thấy

tiếng lão ấy ngáy không?”. Cô Lũy nói, cô bảo: Ngồi cạnh ông cả hai chục năm nay, cô đã thấy ông như thế. Nghĩa là ông vừa đánh máy vừa ngủ, ngủ và làm việc,cả hai việc cùng đồng thời song hành một lúc.

cả hai việc cùng đồng thời song hành một lúc.- Lão ấy ngủ thật đấy! Cô Lũy nhấn mạnh. Mọi người nói gì lão cũng không biết đâu!

*Ông Sùng vừa ngủ vừa đánh máy, ông ngủ trong khi thực thi bổn phận. Hay là trong ông có hai cơ chế cùng lúc cùng hoạt động? Thì đã chẳng có chuyện bộ đội

ta hồi đánh Pháp, mệt quá có lúc vừa hành quân vừa ngủ đó sao. Nghĩa là chân cứ bước và trí não cứ vào cơn mê thiếp. Nghĩa là việc này chẳng hề ảnh hưởng tớiviệc kia. Hay thật sự ông bị chìm ngập trong giấc miên trường, vì lí trí thăng hoa biến hoá thành cơn đam mê mang tính bản năng vô thức? Nhưng mà thôi, quan trọng

là cái đích. Lợn con đến chợ thì củ chuối cũng đến chợ. Mỗi người một cách đi tới. Ông Sùng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khác người chăng là ở chỗ, ông vừangủ vừa làm việc và chẳng hay biết gì xung quanh, thì cũng là một phong thái sống riêng của ông, nào có phương hại đến ai!

Ông Sùng không hay biết người ta đang bàn về nhân sự các chức vụ lớn của Quốc gia, nhân cuộc họp thứ sáu của Quốc hội khoá XI Chuyện quốc gia đại sự ấycũng như việc cá ba sa, cá tra của ta bị hiệp hội cá nheo Hoa Kỳ vu cáo là bán phá giá ở nước họ làm họ thiệt thòi, ông nào có hay biết.

Ông không hay biết mà hình như cũng chẳng có nhu cầu được biết lí do vì sao người Israen, con dân của Đức chúa Giêsu lại đánh nhau triền miên mấy chục nămnhư thế với người Palestin đạo Hồi. Bin Lađen, trùm khủng bố Quốc tế còn sống hay chết dưới màn mưa bom bão đạn của Mỹ ở Apganitxtăng. Công ty Viễn thông

khổng lồ Worldcom Hoa Kỳ làm ăn gian trá vừa đệ đơn xin phá sản, rốt cuộc sẽ là thế nào, ông cũng chẳng bận tâm.Sung sướng quá một người sống ở giữa đời mà chẳng cần biết đến những rắc rối, eo sèo, phiền toái ở ngoài đời. Sung sướng quá được hái quả dại trong rừng.

Nhìn ông, ta có thể nghĩ đến câu thơ nọ của Zimborska, nữ thi sĩ Ba Lan, giải thưởng Nobel. Con người sống khép kín với bản thể mình, xa cách và không chịu sựchi phối của ngoại vật, của số đông, thì cũng là một cách sống ung dung tự tại chứ sao!

ấy thế, ông Sùng là kẻ vô tư. Việc to đến việc nhỏ, việc ở xa cũng như việc ở gần, ông cũng chẳng bận tâm. ở ngoài cuộc tất tất, ông chẳng hay biết những việcxảy ra ở cơ quan ảnh hưởng sát sườn đến mọi người và đang trở thành đầu đề bàn tán của đám công chức trẻ già hơn ba chục con người chúng tôi. Ông bỏ ngoài tai

tất. To như chuyện ông giám đốc vừa tậu một biệt thự bốn tầng rất nguy nga ở giữa làng hoa Nghi Tàm ngoại ô, giá những ba tỉ đồng. Tiền đâu ra? Lấy từ nguồn nàongoài công quỹ mà vừa rồi ông lại còn cho hai đứa con, một du học ở Mỹ, một đi Nga. Ông đang giàu sụ lên? Cả tay trưởng phòng kế hoạch in. Cả tay phó giám

đốc kinh doanh nữa. Không hà lạm vào công quỹ thì là gì? Trong khi đó nhiều anh em sắp rơi vào diện xoá đói giảm nghèo vì ngoài lương cơ bản ra cả năm naykhông có lấy được một đồng tiền thưởng gọi là có. Nhỏ như chuyện cô Thúy tạp vụ chồng bí mật lấy vợ hai vừa đẻ một thằng con trai có cặp mắt lé rất giống ông

Liễn trưởng phòng, trong khi đó lại nhận một chiếc xe máy, hai cân tam thất của tay trưởng phòng kế hoạch in. Ngoại tình bồ bịch đang là mốt thời thượng. Đời sốngđang tiến lên hay đang thụt lùi, trong khi cơ quan mấy chục mống mà phát hiện ra gần mười cặp đã có cơm lại còn thích ăn quà!

*Ông Sùng vừa đánh máy vừa ngủ. Ông ở ngoài dòng thời thế. Ông không đoái hoài tới cả thời gian, cả sự mong manh lẫn tính vĩnh cửu của nó. Ba tháng hè năm

nay gần như đã mất hẳn tiếng ve sầu kêu ra rả vì mưa đổ ầm ầm gần như suốt tháng Sáu, tháng nóng nhất của mùa viêm nhiệt. Ông không biết đến cơn gió đi qua ngõđùng đình đủng đỉnh là đặc trưng của mùa thu đã tới với bao xao xuyến e ấp ngỡ ngàng. Đành là như vậy. Nhưng không chỉ có vậy. Ông Sùng ngủ trong lúc làm việc

và ông quên luôn bản thân mình, con người mình, tiểu sử đời mình.Tập thể đồng nghĩa với một đám đông các cá thể phát huy cao độ thói đố kị, hay ghen ghét dòm dỏ lẫn nhau. Ông Sùng không ở ngoại lệ, ông cũng là đối tượng

để người ta soi mói, bàn bạc. “Lão già xỏ nhầm giày!”. Chính là bà Oanh, một người phụ nữ đẹp, tai quái, nhân tình của ông giám đốc, trưởng phòng in của nhà xuấtbản, tặng biệt danh đó cho ông! Biệt danh có mùi vị xú danh nọ là để chỉ định một lầm lỗi nặng nề về chính trị của đời ông, đời cha ông. Bà Oanh, tệ hại thay, lại

người cùng làng với ông. Bà kể: Thì chính mắt tôi đã thấy thằng cha Biền, bố ông ta, năm 1953 mặc bộ quần áo lính vàng khè, đeo lon trung uý ngụy về làng thăm giađình trước khi bám đít quan thầy nó là bọn đế quốc Pháp tếch vào Sài Gòn. Chà chà, thế hoá ra ông Sùng là con một kẻ theo địch, con một tên Việt gian. ấy thế,

nên cũng đi bộ đội thời đánh Pháp, rồi cũng được đi đào tạo ở Đại học rồi đấy, có bằng cử nhân văn khoa hẳn hoi rồi đấy mà vẫn chỉ là kẻ xỏ nhầm giày, đi conđường trái ngược gió, quýt làm cam chịu, mang tội tổ tông, nên cuối cùng danh phận cũng chỉ là anh nhân viên đánh máy quèn, xếp hạng bét trong giai tầng xã hội.

Trong khi đó, ông giám đốc chưa qua lấy một ngày vác súng đánh giặc, xuất thân chỉ là anh thợ nề, từ lúc được bầu vào Ban Chấp hành công đoàn cơ sở là cứ lênnhư diều, sắp tới nghe đâu đang được dự định đưa đi vào dự đào tạo Cục trưởng Cục in ấn, xuất bản.

Mắc tật khiếm thính, bưng tai giả điếc hay buồn nản chán chường thây kệ sự đời mà ông Sùng không hay biết cả đến những lời đàm tiếu của các đồng nghiệp vềmình? Từ cái dáng vẻ già nua, xưa cũ, thói quen vừa đánh máy vừa ngủ đến cái thú riêng tư nói năng văn vẻ và thích làm thơ của ông. Những bài thơ ông làm và

những câu nói của ông cũng là đề tài để người ta đem ra giễu cợt. “Đời tôi chỉ có thơ và L.”. Đó là một tuyên ngôn có màu sắc bí ẩn của ông. Thơ thì rõ rồi. Ông cóđến một trăm bài tứ tuyệt, toàn loại thơ tức cảnh sinh tình. Nhưng còn L? L là Loan, tên vợ ông, một bà bán hàng quà ở chợ Hàng Da. Một người đàn bà vô sinh, xồ

xề như cái đụn rạ, động mở miệng là chê bai ông dở người, cám hâm và bất lực nên mới đây đã chủ động viết đơn đòi li dị ông. Hừ, nhưng nếu sự đời đơn giản thếthì nói làm gì. Vì L còn có thể là ai nữa chứ. Lũy chẳng hạn? Ôi Lũy, cô thủ quỹ trẻ tuổi, tóc dài như suối, mình mẩy mỡ màng, mặt tươi hơn hớn, cô học trò được

ông truyền nghề đánh máy! Lũy đẹp phồn thực thế mà phúc phận kém cỏi, hai đời chồng đều chẳng ra gì. Người thứ nhất, nghiện ma túy chết. Người thứ hai đanglĩnh án tù hai mươi năm vì dính dáng đến một vụ buôn bán phim ảnh đồi trụy. Lũy rất có thể là cái đẹp gặp rủi ro động lòng trắc ẩn của ông Sùng lắm chứ! Lũy có thể

là mối tình thầm của ông. Lũy được xếp hạng ngang với thơ. Thì ra lão già xỏ nhầm giày này còn là một gã đa tình vẩn vơ. Rõ ốc chẳng mang nổi mình ốc lại còn làmcọc cho rêu! Rõ cứt nát còn có chóp chưa! Bà Oanh chế giễu ông Sùng cay độc. Bà bảo: “L là Lũy đứt đuôi con nòng nọc rồi, chứ chả lẽ nó là cái của nợ ấy của tớ

à! Hé!”. Chứng cứ là câu thơ lão làm đây: “Anh ôm em và ôm cả mái tóc dài của em”. Rồi bà cười khành khạch: “Có phải lão ngủ khi gõ máy chữ đâu, lão mơtưởng cái L. đấy. Nhưng cái L. nó có để ý đến lão làm thèm!”.

* Chẳng cần biết đến mọi chuyện của thiên hạ, kể cả những lời bàn tán về thân phận mình. Vì chán nản lắm rồi, vì tuyệt vọng hoàn toàn rồi? Là thế chăng tâm sự

của ông, tấn bi kịch nhân sinh được thể hiện trong một cá thể thông thường phổ biến? Hay đó là thái độ điềm tĩnh, chấp nhận của ông? Thì cũng có gì là lạ đâu. Xãhội không phải là một thực thể thống nhất; xã hội chỉ là một thực thể thống nhất xác suất thôi. Có nghĩa là con người còn bị chia tách, nhưng trong khi đó, sống chung

với nhau lại là một tất yếu không thể tránh được. Nghĩa là phải sống với người khác trong cùng lúc sống với chính mình. Nghĩa là tự do của mình, thế đó chỉ được sửdụng thật xứng đáng khi nó phát triển theo thiên hướng tự nhiên, tức hài hoà với mọi người thôi.

Hay là ông Sùng là con người an nhiên với số phận của mình, vì từ bản tính tự nhiên, ông bằng lòng với mọi sự an bài? Tri túc, thường túc. Biết đủ là đủ. Nghĩa làtrong khi phần lớn đời mọi người được đồ thị hoá bằng một đường cong vút lên cao, biểu hiện tham vọng, rồi từ từ hạ xuống do thoả mãn hay thất vọng, thì đồ thị đời

ông chỉ là một đường thẳng nằm ngang, bình lặng, đều hoà. Ôi, ông Sùng, bạn vong niên, đồng thanh tương khí của tôi! Ông Sùng dẫu thế nào cũng vẫn là điều ẩnmật chưa được giải tỏ. Và thú vị thay, tôi nhận ra người quyết tâm làm sáng tỏ điều ẩn mật này lại là cô Lũy học trò của ông.

- Anh có thấy lão Sùng giống loài chim không?Một hôm, đột ngột Lũy bảo tôi. Và không để tôi kịp ngạc nhiên, cô đã ghé tai tôi, giải thích:

- Những con chim di trú, bay về phương Nam tránh rét khi mùa đông về ấy. Anh có biết không? Chúng vừa bay vừa ngủ. Vì chỉ có thế chúng mới có thể bayngày này qua ngày khác để đến đích được. Chỉ có thế chúng mới có thể bay tới đích xa tít cả vạn cây số được!

*Ôi, những con chim di trú! Đó là những con chim từ phía Bắc nước Mỹ khi mùa đông băng giá về, họp lại thành từng đoàn, vẫy cánh bay qua các đô thị, các

Ôi, những con chim di trú! Đó là những con chim từ phía Bắc nước Mỹ khi mùa đông băng giá về, họp lại thành từng đoàn, vẫy cánh bay qua các đô thị, cáccánh đồng rừng cây miền tây nước Mỹ rộng lớn, rồi vượt biển Mêhicô, đường trường có đến cả mấy vạn cây số, để đến đích là bờ biển Panama ở Nam bán cầu đầy

ắp ánh mặt trời ấm áp. Trong những loài chim bay tránh rét ấy, có giống chim ong bé tí xíu, cánh như hình chiếc chong chóng của máy bay trực thăng, có thể vỗ liêntục tít mù hàng chục giờ đồng hồ liền, chẳng biết đến ngưng nghỉ, mệt mỏi là gì.

Những con sếu ở sa mạc Gôbi cũng vậy. Mùa đông tới, nhiệt độ ở sa mạc lớn nhất hành tinh này tụt xuống âm sáu mươi độ. Còn có cách nào hơn là đàn sếuphải cất cánh bay về xứ sở nóng ấm mặt trời là đất nước ấn Độ xa xôi kia! Nhưng đường bay của chúng đâu có ngắn ngủi! Nó dài những hai nghìn dặm! Vậy là đàn

sếu phải hợp đoàn, rồi hướng về phương Nam, cùng cất cánh. Và trong khi bọn chim ong tí hon trên kia phải vượt qua biển Mêhicô rộng bao la thì những con sếucẳng dài cánh lớn ở đây phải vọt lên cao để bay qua sơn mạch Hymalaya trùng trùng thành lũy có độ cao bình quân bảy, tám nghìn mét, tiêu biểu là ngọn Êvơrét tám

nghìn bốn trăm hai mươi tư mét chọc trời ngạo nghễ quanh năm tuyết đọng mây che. Núi tiếp núi dăng hàng hiểm trở suốt ba tuần liền dưới cánh bay của đàn sếu.Gian nan kể sao cho xiết những cuộc bay trường chinh vạn dặm của những cánh chim! Phải nương theo chiều gió để đỡ tổn sức. Phải hợp thành đội hình để nương

tựa lẫn nhau. Thực tiễn đã chứng tỏ lũ sinh vật có cánh này để nhịn ăn cả tuần, vì đã dự tính nên khôn ngoan tích tụ chất bổ dưỡng trước chuyến bay xa; nhưng, cònnghỉ ngơi, dưỡng sức, ngủ nghê? Vậy là phải tìm cách tồn tại trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Nghĩa là, vẫn cứ được nghỉ ngơi thoải mái và vẫn cứ chuyển động

theo nhịp cánh bay, vẫn bay theo nhịp cánh vỗ khoan thai, từ tốn, thậm chí điều hoà đủng đỉnh, nhưng đó sẽ không phải là cuộc dấn thân phiêu lưu mạo hiểm mà làcuộc bay theo phương châm khác đi khác đến quả cảm và tự tin! Vì cuối cùng hiện lên dưới cánh bay của đàn sếu sẽ là đất nước ấn Độ nóng ấm nhiều hoa thơm quả

ngọt. Và những con chim ong cũng vậy, chúng cũng không bị rớt xuống biển Mêhicô đâu; vừa bay vừa ngủ thiếp đi, nhưng khi Kinh Thánh đã dạy: Kẻ đi tìm sẽ thấy,chúng sẽ đến bờ biển Panama, ở đó có loài hoa tím cánh to, nhụy đầy mật; ở đó, ngay trên bờ cát, trong những đám giong từ biển rạt vào, có vô số mồi ăn là bọn

tôm tép.Thế còn những con ngỗng trời đang giăng hàng bay qua mặt hồ lớn của thị trấn quê hương tôi đây, chúng bay đi đâu, chúng có đến được cái đích chúng đang

kiếm tìm?Chiều cuối thu này, ngồi ở bãi tắm bên hồ, ngước lên cao, tôi hỏi ông Sùng. Ông Sùng bảo, chắc nó bay về đồng bằng sông Cửu Long thuộc Nam Bộ nước ta.

Mùa hè đã qua, các nhà nghỉ đều đã lần lượt khép cửa trước các viên chức Nhà nước. Số phận hẩm hiu lại thuộc về tôi và ông Sùng. Chúng tôi là những kẻ đến nhànghỉ bên hồ này chậm nhất, như bản tính và thói quen lề mề của chính mình.

Nhưng, như vậy thì có sao đâu! Con người luôn biết cách tạo ra niềm vui cho chính mình. Cởi bỏ bộ áo bà ba nâu thẫm và cái mũ len màu kiến vống giống cụ từgiữ đền hay nhà sư, ông Sùng đội mũ cát két trắng, đi săng đan da trắng, mặc áo phông và quần soóc trắng. Thêm chiếc máy ảnh Canon móc lủng lẳng ở ngón tay,

thoắt cái đã thấp thoáng ở nơi ông bóng dáng người đàn ông sành điệu hào hoa. Ra khỏi cái góc nhà nhiễm không khí ngái ngủ, vẻ như đã thoát khỏi cái xác phàm ù ìchậm chạp, ông chan hoà với cảnh quan xanh tươi của vùng hồ.

Hai ngày liền, ông Sùng rủ tôi tắm hồ xong là thuê thuyền bơi ra hòn đảo ở giữa hồ. ở hòn đảo ấy có một căn nhà sàn cho khách thuê phòng trọ qua đêm. Kháchở đây có thể thuê cần câu câu cá và nấu ăn lấy ở ngoài trời. Đã là cuối mùa nghỉ. Căn nhà sàn chỉ có hai chúng tôi là khách trọ và cô đơn trong trò chơi câu cá hồ. Đã

tưởng là phải chấp nhận thiệt thòi trong cảnh sắc vắng vẻ, hoá ra chúng tôi lại may mắn được gặp mùa thu trọn vẹn, với hình hài nguyên thủy, thuần khiết nhất của nó.Trống vắng chế ngự cả một mặt hồ rộng rung rinh, đẩy bến bờ ra xa tít tắp, mùa thu hào phóng chất đầy tĩnh lặng quanh chúng tôi và nới rộng trời mây đến vô

cùng. Im lặng, hoa cúc quỳ vàng hoe nở hết mình trong các búi cây lực lưỡng bên hồ. Ôi, hoa cúc quỳ “Vạm vỡ vàng tươi mà ta thì mảnh khảnh”; đó là câu thơ củathi sĩ Trần Quốc Thực tôi sực nhớ khi chợt nhìn thấy hoa cúc quỳ bên những biệt thự mái đỏ chót màu hoa giong riềng ẩn hiện sau những cánh rừng thông lá nhọn

mới gây trồng. Quanh hồ là con đường lát bê tông dài mười ba cây số êm ả như một đường chỉ thêu. Giống như những chiếc nấm sặc sỡ là những chiếc ô dù ở cácquán giải khát ven hồ. Mỗi chi tiết cảnh vật ở đây đều từa tựa một đồ vật đã qua chọn lọc trong một căn buồng được bày biện theo một ý niệm tiên thiên bí hiểm. Bí

hiểm như ngọn gió thu từ một nơi nào đó trên trời cao đột ngột rót xuống, luồn qua làn áo lót, thoa vuốt hai bên sườn tôi, cho tôi một cảm giác đê mê, khiến tôi đưamắt nhìn ra bỗng thấy mặt hồ như chao nghiêng và ánh lên màu xanh óng ánh của thứ xa tanh cao cấp. Quên bẵng đi là buổi hoàng hôn một ngày thu ngắn ngủi, bốn

phương trời trong chốc lát như bừng dậy làn ánh sáng bình minh non tươi của thuở mới khai thiên!Nghe thấy tiếng không khí trên cao như đang vỡ nhè nhẹ từng vụn nhỏ, tôi ngẩng lên và nhận ra, trên thiên đính, một đàn ngỗng trời đang giang hàng thành hình

chữ V mềm mại yên bình vỗ cánh bay qua. Đàn ngỗng trời bay về phương Nam tránh rét! In xuống mặt hồ trong suốt lúc này là hình ảnh âm bản của những sải cánhtrắng loá và huyền ảo; chúng đang lặng lẽ nhích dần qua lớp phông màn là vòm trời xanh mơ lộn ngược dưới đáy hồ. Những con ngỗng trời đã vào cuộc, đã hiểu rõ

nỗi khó nhọc đường trường, đã biết tự lo liệu, đang bay theo phương cách: Lựa theo chiều gió, vừa bay vừa dưỡng sức; im lặng, chúng giống như một mũi tên tự tin,bay thẳng tới đích xa!

- Đàn ngỗng này đúng là thi sĩ có cánh, tự do lãng mạn vô cùng. Chúng đang bay về miền tây châu thổ sông Cửu Long đó. Cha tôi hồi xưa chưa vào Nam hoạtđộng bảo tôi vậy. Miền tây châu thổ Sông Cửu Long là một vùng sông nước. Một năm chỉ có hai mùa: Mùa mưa và mùa khô. ở đó, tôm cá nhiều vô kể. Có những

đìa, người ta phải rẽ nước để lấy cá. Khách đến nhà, bắc nồi lên rồi mới ra sau nhà, lội xuống kênh bắt cá.Trả lời câu hỏi đàn ngỗng trời nọ bay về đâu của tôi, ông Sùng đáp vậy. Rồi ông mỉm cười. Chắc là ông nhớ tới cái cách ví của ông giống những con chim di trú

của cô Lũy.- Không phải bây giờ khi bố tôi đã trở về trong chức vị thiếu tướng tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam, sau gần ba mươi năm hoạt động trong lòng địch tôi

mới nói, nên anh có thể bảo tôi là nói phách gặp dịp đâu.Miệng tủm tỉm cười, ông Sùng nói tiếp:

- Không bao giờ, chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ tôi nghĩ cha tôi là viên trung uý ngụy quân từ phần xác đến phần hồn cả. Thơ cho tôi niềm tin tưởng, sự trongsạch cao thượng. “Anh ôm em và ôm cả mái tóc dài của em!”. Tình yêu cho tôi lối tắt tới thiên đường. Chính là cô ta đấy. Khi cô ấy buồn vì đời bất hạnh, tôi nói:

“Còn những người đàn ông im lặng như ngủ quên giữa cuộc đời, nhưng thật ra là rất tốt, cực kì tốt đang chờ em phát hiện đấy, Là. Tôi nói thế có đúng không, có tựthị, có ái kỉ quá không, anh?”.

(Báo Văn nghệ)

Quan liêm quan tham

Sau bữa cơm chiều, ngày tiễn ông Táo về trời, quan thượng thư Hộ bộ tri Kinh diên sự Nguyễn Cư Đạo bèn dặn bảo hai đứa hầu trai: “Sớm mai, hai con cùnguống trà với ta, tiện có mấy việc cần sai bảo”. Hai người hầu đều không tin ở tai mình nữa, nhưng không dám hỏi lại.

Tinh mơ, quan ông đã ngồi trên sập. Khay bê vào. Hai người hầu rót trà dâng lên, rồi khoanh tay đứng hai bên mép sập, chờ sai bảo.Quan ông bật cười, vẫy tay gọi - Ngồi vào đi, ta đã có lời mời hai người từ tối hôm qua, vậy mà còn khách khí sao.

Hai người hầu khép nép ngồi vào góc sập. Hằng ngày họ vẫn lau chùi, nhưng thực tình chưa bao giờ họ dám mạo phạm ngồi vào chiếc sập gụ chân quì bóngloáng kia. Tuy thế, các đồ quan ông dùng đều là của triều đình ban cho cả. Quan được dùng tới khi nào chuyển đổi hoặc hồi hưu thì từ cửa nhà đến mọi vật dụng đều

phải trả lại. Quan khác về trị nhậm lại đến ở như các quan tiền nhiệm.ấy là nghe quan ông nói lệnh vua như thế, chứ thực như quan Hộ bộ năm ngoái ở dinh này rục rịch hồi hưu, chẳng đã vét hết đồ đạc nhẵn như chùi đó sao. Đầu

năm nay, quan về hẳn, dinh chỉ còn trơ mỗi chiếc sập gụ, vài bộ bàn ghế, là những thứ cồng kềnh khó nuốt.Hai đứa hầu trước đó đã cãi nhau suốt về các quan mà chúng được hầu hạ.

Giáp nói: “Quan thì cũng là con người chứ có là thánh đâu. Cho nên hễ đã là quan thì...” - “Anh nói “thì” sao?” ất hỏi. - “Thì tham, chứ còn gì nữa”.ất cười toe toét: “Tưởng anh biết điều gì mới mẻ về các quan, chứ điều ấy nó hiển nhiên là quan tính rồi, tựa như cáo thì bắt gà, hổ thì bắt lợn, bắt trâu, bò, ai mà

chẳng biết”.- “Thế đằng ấy bảo tân đức ông mà chúng ta hầu hạ đây thì sao? Có như đức ông đã hồi hưu không?” Giáp hỏi lại. - “Ai mà biết được. Thức lâu mới biết đêm

dài. Các cụ đã chẳng nói thế sao. Mà này anh Giáp - ất ghé tai Giáp nói khẽ - “Xem ra đức ông mới của chúng ta kiết lắm. Ngài dọn đến, chẳng thấy một thứ đồđạc gì đáng giá. Chỉ thuần những sách là sách”. - “Chữ nghĩa thánh hiền cả đấy, đừng nói bậy” - “Tôi đâu dám nói gì bậy bạ. Nhưng bố ai nhá được cái thứ thánh

hiền ấy, anh Giáp? Tôi đồ rằng quan ông có nhiều thánh thế, lại phải lo có cái gì đút vào miệng thánh chứ! Anh chẳng nghe các cụ nói “thánh nhân vô úy vật sao”?Chết chết, cứ cho gần chục cái kệ sách của quan lớn chúng ta, là một ngàn pho sách đi. Mỗi pho là một vị thánh. Mỗi thánh, một ngày tiềm tiệm là một chú gà giò.

Chao ôi, anh thử tính hộ tôi xem, khủng khiếp đấy”.Thấy ất như đứa thất thần, Giáp hỏi:

“Này ất, đằng ấy làm sao như đứa lạc hết cả hồn vía thế này”. - “Anh Giáp, tôi sợ lắm” - “Đằng ấy sợ cái gì mấy được chứ? Thật là ngớ ngẩn”. - “Anh Giáp, thậttình tôi sợ cả quan lẫn thánh”. - “Này ất, đằng ấy ngậm mồm lại đi kẻo mất đầu! Tớ nghe, quan Hộ bộ mới của chúng ta là bạn thân của đức Kim thượng đấy”. ất rụt

cổ lại như để tránh một lưỡi gươm vô hình, mắt tròn xoe hỏi lại. - “Là bạn vua á?” - “Chứ còn gì nữa”.- Uống đi các con! Quan ông giục.

Hai người hầu rưng rưng cảm động, mỗi người đều rụt rè bê một chén nước nóng, cầm gọn trong lòng tay mà vẫn tưởng như mình đang mơ. Khói trà bốc hươngsen thơm dìu dịu. Nhấp một hớp, vị ngọt cứ đọng mãi nơi cổ họng, hương thơm và hơi ấm cứ len lách rồi tan hòa đến tận cùng khí huyết, khiến có cảm giác vừa ấm

lại vừa mát.Cả hai người hầu đều có chung một ý nghĩ, bởi gần chục năm hầu hạ quan Hộ bộ trước đây, ngày nào chẳng pha trà hầu quan, hầu khách, nhưng có biết mùi vị

một chén trà hương sen thế nào đâu. Cơm thì thuần những thứ thừa cặn, ăn chẳng đủ no. Nhưng từ khi quan ông mới này, nghe đâu húy ngài là Nguyễn Cư Đạo,hằng ngày quan cho ăn no, không quát mắng chửi bới tục tằn như quan trước. Hôm qua, cúng ông Táo, quan cho phép ngồi ăn cùng mâm, lại còn cho uống rượu (sợ

quá)! Sớm nay quan lại cho uống trà (kinh quá)!

Hai đứa hầu nhìn nhau lo lắng, chẳng còn biết sự thể lành dữ thế nào. Quan còn cho theo hầu, hay cho ăn một bữa, uống một bữa rồi đuổi đi. Cũng có thể quancho đầy đi viễn châu. Biết thế nào mà lường được. Quyền thế trong tay, quan trở mặt thì mình toi mạng.

ất nháy mắt cho Giáp, như để trấn an nhau. “Đừng có đa nghi. Ăn ở với quan ông gần hết năm rồi, có bao giờ ngài xử tệ đâu mà lo”.Dường như đọc được ý nghĩ của mấy người nô bộc, quan tri Kinh diên sự Hộ bộ thượng thư Nguyễn Cư Đạo, tự tay rót thêm một tuần trà nữa cho Giáp và ất -

Uống đi các con, quan nhắc.Hai người hầu lễ phép cầm lấy chung trà, lúc này họ đã bớt lo lắng, bớt suy nghĩ mông lung. Đưa chung trà lên miệng hít hà hương sen, nấn ná chờ xem quan ông

có quở phạt gì không, có sai bảo gì không?Vê chòm râu loáng thoáng có sợi bạc, quan ông chậm rãi - Hôm qua, thầy trò ta đã tiễn ông Táo về trời. Ta cũng coi như đó là bữa cơm tất niên tiễn các con.

Hôm nay, ta cho các con về quê ăn tết sớm. Quan ông ngoái lại mở cánh tủ chè, lôi ra hai bọc đã gói kĩ càng, đặt trước mặt Giáp, ất mỗi đứa một bọc và nói: - Đâylà quà tết của ta cho các con đem về biếu cha mẹ. Gọi là một chút lộc xuân. Quan ông lại mở chiếc tráp nhỏ xíu bằng gỗ gụ sơn then, lấy cho mỗi đứa ba quan tiền

đồng - Ta cho các con làm tiền lộ phí.Giáp, ất đều kinh ngạc, sụp lạy:

- Bẩm quan, chúng con có lỗi quan cứ răn dạy, quan đánh trượng chúng con cũng không dám kêu ca đâu ạ.- Đứng lên đi các con. Cầm lấy quà lấy tiền, đây là lòng ta đãi các con. Các con không có lỗi gì hết. Quan ông cười độ lượng, ngài đứng dậy dắt tay hai người

hầu chỉ xuống nhà.Giáp, ất nhìn nhau lại nhìn gói quà và mấy quan tiền hết đỗi bàng hoàng. Không dám không nhận, nhưng trong lòng đều sợ không biết quan ông có âm mưu gì mà

lại đối tốt với nô bộc đến vậy.Xuống nhà dưới, hai đứa vừa sắp tay nải vừa nghi ngờ hỏi nhau.

- Này anh Giáp, tôi ngờ chuyện này lắm. ý anh thế nào?- Ngờ cái con khỉ, sao đằng ấy ngu thế. Từ nay đến 30 tết là quan các lộ, các châu, quận về tết nườm nượp. Cho cánh ta về quê lại cho tiền cho quà, được tiếng

là nhân. Chỉ nội trong ngày hôm nay là quan lớn bà cùng gia nhân ở quê lên kinh ăn tết. Nhân tiện nhận quà, nhận lễ, coi như quan bà lên sắm tết cho quan ông. Cánhta đi rồi, tin tức không lọt được ra ngoài, quan ông lại được tiếng là liêm. Giáp nói xong phát mạnh vào vai ất - Đằng ấy thấy tớ nói có đúng không?

- Đúng! Anh giỏi lắm. Tết năm ngoái anh có nhớ chuyện cụ thượng Đoàn Như Tuất không. Hơn bảy chục tuổi, răng rụng không còn chiếc nào, đầu bạc trắngnhư bông, chống gậy lê từng bước. Ăn vài miếng đã nấc, đã nghẹn. Suốt ngày anh em mình phải đấm bóp hầu hạ. Thế mà vua bắt về hưu còn khóc lóc rằng: “Về

quê không còn được thấy long nhan, lòng trung không nỡ dứt”. Đức vua cười bảo: “Khanh cứ về đi, khanh càng ở xa ta, lòng trung càng dài, càng trung nhiều chứsao”.

Thấy các quan bàn tán rằng cụ thượng Tuất khóc lóc, xin được ăn thêm một cái tết nữa ở Kinh sư, rồi giêng hai ngày rộng tháng dài sẽ bàn giao công việc. Vuagắt bảo: “Khanh thật là một kẻ đê tiện, không biết liêm sỉ. Khanh có nhớ khi khanh làm Phán phủ sự Thanh Hóa, dân đã gọi khanh là “Đoàn như cẩu” không. Ta biết

tỏng khanh muốn tại chức thêm một cái tết nữa để vơ vét quà cáp trong dịp tết chứ gì”. Mắng vậy, nhưng vua vẫn cho ở lại.- Thế đằng ấy có còn nhớ, tết năm ngoái, quan thu được bao nhiêu không? Giáp hỏi.

- Có mà mù mới không biết, không nhớ. ất đáp - Này nhé, gà trống thiến bảy mươi mốt con, con nào quan bà cũng sờ đùi nắn lườn. Đùi thon, lườn lưỡi hái làquan bà vứt ra, chửi té tát, đến nỗi các quan đi tết ngồi trên nhà nghe lọt tai, mặt đỏ như gấc chín cây.

- Chỉ có 71 con gà thiến thôi à?- Tôi đã kể hết đâu anh Giáp. Còn nhiều lắm, nấm hương, cá chim, cá thu nướng, hải sâm, vây cá, anh chẳng thấy xếp đầy một sập ư? Các quan từ Quảng Nam

ra còn đem biếu tới cả cân yến sào nữa chứ. Khiếp quá, răng lợi chẳng có mà sao quan ăn nhiều thế anh Giáp.- Đằng ấy chẳng biết gì, những thứ đó ninh nhừ, quan nuốt chửng được hết. Mấy lại đằng ấy không thấy mấy chú khách chủ tiệm cao lầu đằng phố Cầu Đông,

cho người vào lấy hàng của quan bà đấy ư.- Quả có vậy.

- Quả có vậy.- Này ất, đằng ấy chả biết thì thôi, tớ còn trông thấy quan ông ăn cả bạc nén cơ.

- Ăn bạc nén, anh chỉ nói dóc.- Thật mà, chiều 30 tết năm ngoái đằng ấy có nhớ khi hết khách rồi, đồ biếu dọn cất hết rồi, quan ông cho cánh ta đi chơi phố không. Phố xá chiều ba mươi tết

chỉ có chơi mấy lũ quạ, lũ chuột thôi chứ còn chơi cái quái gì. Tớ với đằng ấy kéo nhau vào đền Quán Thánh, vào chùa Trấn Quốc xem người ta đi lễ tất niên, chánrồi cánh ta về. Lúc qua sân, tớ thấy ánh đèn sáng khác thường, bèn ghé dòm qua khe cửa, thấy quan ông bầy trắng cả mặt sập, thuần bạc nén. Quan ông vun lại

thành một đống rồi bảo quan bà: “Số bạc này cất đi để ăn dần”.- Thế mà vừa rồi anh nói, tôi cứ tưởng là quan nhai bạc sống.

Hai đứa đang trò chuyện thì có người bên Trung thư sảnh đến, chúng phải ra mở cổng, đón khách.Viên trung thư xá nhân vừa ngồi đã vội thưa: “Hoàng thượng khẩu dụ: Tết năm nay miễn cho các quan sáu bộ, sáu khoa, và Ngự sử đài ngày mùng Một không

phải vào lễ nhà thái miếu và chúc thọ nhà vua nữa. Nhưng đúng giờ Mão ngày 10 tháng giêng phải có mặt tại Xã Đàn để tế Giao, đầu giờ Ngọ tề tựu tại điện DưỡngĐức vua ban yến”.

Quan thượng Nguyễn Cư Đạo nghe xong tạ lời quan trung thư xá nhân rồi mời nước. Nước được một tuần, Nguyễn Cư Đạo mở lời trước:- Các quan bên Trung thư sảnh gần hoàng thượng, có biết vì sao tết năm nay hoàng thượng lại không cho các quan đứng đầu sáu bộ, sáu khoa và Ngự sử đài

vào lễ nhà thái miếu và chúc thọ không ạ.Quan trung thư xá nhân nắn lại vành khăn, sửa lại chiếc đai áo cho ngay ngắn rồi thong thả đáp lời:

- Thượng quan hỏi, thực tôi không dám giấu, chúng tôi được hoàng thượng khẩu dụ như thế, chúng tôi khẩu truyền như thế. Chính quan chủ sự của chúng tôicũng không biết gì hơn. Nói xong ông vuốt râu cười. Vả lại thượng quan coi sóc cả một Bộ, lại là chỗ thân hữu với nhà vua, ắt ngài phải được biết chứ ạ.

- Dạ, tôi có cái đại hạnh là được biết hoàng thượng từ tuổi thiếu niên, tới nay ngài vẫn có lòng, nhưng tôi phải giữ phận bề tôi, khi nào ngài vời mới dám tới, ngàihỏi mới dám thưa, chớ không bao giờ dám lạm dụng chút tình xưa.

Tiễn khách, quan ông bèn gọi Giáp, ất vào nhà:- Tết này hoàng thượng xá cho các quan ngày mùng Một không phải vào lễ trong nhà thái miếu và chúc thọ nhà vua nữa. Ngày mùng Mười, giờ Mão mới phải có

mặt để tế Giao tại Xã Đàn.Vậy, ngay chiều nay ta về quê. Các con xem đóng chặt cửa ngõ, then khóa cẩn thận rồi về quê mà ăn tết. Ngày mùng tám, một trong hai đứa phải có mặt để dọn

dẹp nhà cửa. Ngày mùng chín ta lên, cho kịp sớm mùng mười có mặt tại Xã Đàn vào giờ Mão.Giáp, ất nhìn nhau kinh ngạc. Bởi những gì họ nghĩ về vị đại quan này đều sai trật hết.

Giáp mạnh dạn thưa:- Lạy quan, nếu anh em con cùng về cả, nhà cửa không có người trông coi, nhỡ trộm đạo đột nhập vào thì mất hết. Xin quan cho phép con ở lại coi nhà, sau tết

con về quê thăm cha mẹ con cũng được.Quan ông cười đôn hậu:

- Các con cứ yên tâm về ăn tết đi, không trộm nào vào dinh ta đâu. Mấy lại... quan ông tủm tỉm cười... ở nước ta từ xưa không có “bậc đạo thư” nào đâu, chỉcó lũ “đạo văn” thôi.

Ngẫm ra cũng phải, bởi dinh quan ông ngoài sách ra, chẳng có gì đáng giá. Thế là hai nô bộc từ tạ quan ông, khoác tay nải ra bến đò về quê.Tháng giêng, trời rét ngọt. Sáng sớm các quan đã tề tựu trước Xã Đàn. Ty thái chúc đã cho bầy xong đồ tế lễ.

Đến giờ! Trống điểm, nhạc thiều vang lên. Vua thân vào thắp hương, dâng trà, rượu, tế tuần đầu rồi ngài lên kiệu, hồi cung. Các quan tiếp tục tế hết ba tuần rồilục tục xe ngựa, võng lọng về điện Dưỡng Đức.

Mọi năm, cứ ngày Một tết, sau khi lễ ở nhà thái miếu xong, các quan vào cung, chúc thọ hoàng thượng. Vua cho bầy tiệc yến thết các quan ngay trong hậu điện.Năm nay, vua miễn các lễ ngày Một tết. Lại cấm các quan trong ngoài triều, không được quà cáp biếu tặng các thứ sơn hào hải vị như trước nữa.

Các quan bước vào điện Dưỡng Đức mắt trước mắt sau, nhìn nhau lấm lét, không biết việc gì sẽ xảy ra.Đúng ngọ, vua Hồng Đức (Lê Thánh Tông) bước vào thềm điện. Ngài mặc rất giản dị. áo gấm trơn màu huyết dụ, mũ bình đính, chân đi hài vải. Các quan nhìn lại

mình, áo mũ xênh xang, hia, hốt cân đai, thảy đều ngượng.Nhận lạy xong, vua hỏi han:

- Các khanh ăn tết năm nay có to không? Dân ăn tết có khá không, có vui không?Các quan không dám trả lời, chỉ lắp bắp hô: Thánh thượng vạn an! Thánh thượng thiên tuế!

- Thôi thôi, bỏ những lời sáo rỗng ấy đi, sống ngàn vạn năm ăn hại dân à. Ta muốn biết dân tình năm nay ăn tết ra sao, dân có đói không, có oán vọng triều đìnhlắm không.

Các quan đều dâng những lời tốt đẹp.Vua chỉ vào quan Hộ bộ thượng thư Tri kinh diên sự Nguyễn Cư Đạo hỏi: - Ta nghe năm nay khanh về quê ăn tết. Chẳng hay dân chúng trong làng quê của

khanh thế nào.- Tâu hoàng thượng, quê thần năm nay vụ mùa mất đến quá nửa, do có nạn sâu cắn gié. Một phần mười số hộ đã phải ăn một bữa từ sau vụ gặt. Các hộ này vào

cữ giêng, hai sẽ bị đói, phải ăn rau ăn cháo. Các hộ khác chiếm độ nửa số dân, sau tết cũng phải ăn ngày một bữa. Trong hương ấp chỉ có độ hơn chục nhà, tết nhấtvẫn đầy đủ. Ngoài ra các nhà chỉ có một bữa cúng tất niên, một bữa cúng sáng mùng Một tết rồi hóa vàng luôn. Hội làng năm nay miễn lệ, chỉ trầu rượu hương hoa

cúng thần thôi không có rước, tế hoặc trò vè gì cả.Nhà vua lần lượt hỏi các trấn, lộ xa kinh thành rồi sai thái quan dọn tiệc yến.

Thái quan dọn ra trước mỗi quan một chén rượu trắng, một bát cháo hoa.Nhà vua cũng nhận một phần “yến” như các quan. Cầm chén rượu trong tay, vua nói:

- Năm nay nhiều nơi mất mùa, dân đói. Ta cũng miễn lễ cho các trấn, các lộ. Do vậy thừa ty Quảng Nam không đem yến ra triều nữa. Ta ban cho các khanh mỗingười một chung “tiên tửu” và một bát “bạch ngọc yến”. Vua cười hồn nhiên - Sang năm được mùa, dân không đói, ta sẽ cho phục lại lệ cũ. Nào, chúc các khanh

mãi mãi là bề tôi giỏi của triều đình, là chỗ dựa vững vàng cho thần dân của trẫm. Nói xong, vua ngửa cổ uống cạn chén rượu, rồi ngài bê bát cháo ăn ngon lành.Các quan răm rắp làm theo vua, không khí thật là vui vẻ. Nhưng trong lòng các quan thập phần lo lắng.

Dẹp xong yến tiệc, vua phán: Có mấy việc, ngay từ đầu năm ta phải dụ bảo để sáu bộ, sáu khoa và Ngự sử đài nghe cho rõ mà đôn đốc thi hành.- Điều thứ nhất, bãi bỏ tất cả việc xây cất hoặc tu bổ cung điện.

Các trấn, lộ, nơi nào do bão lụt làm đổ nát nhà công sở, hoặc sét đánh cháy, thì được phép xây cất lại để có chỗ làm việc. Cấm ngặt ăn cắp vật liệu, kê khaikhống công sá xây dựng và giá vật liệu. Kẻ nào mượn cớ mà đẽo khoét, xoay tiền thì bên Đình úy tự cứ theo “luật xoay tiền mà trị tội”.

- Điều thứ hai, các sứ ty và phủ huyện ngay từ đầu năm phải mau mau đi xét trong hạt, những nơi núi chằm bờ biển, chỗ nào có thể làm ruộng được, các đê đậpngòi cừ, chỗ nào có thể đào đắp được, cùng là chỗ nào có giống hổ lang làm hại, có kẻ cường hào xúi giục kiện tụng, phong tục điêu bạc, nhân dân đau khổ, hết

ngòi cừ, chỗ nào có thể đào đắp được, cùng là chỗ nào có giống hổ lang làm hại, có kẻ cường hào xúi giục kiện tụng, phong tục điêu bạc, nhân dân đau khổ, hếtthảy các việc tiện lợi nên làm, những mối tệ hại nên bỏ, trong hạn một trăm ngày phải tâu lên rõ ràng. Nếu để chậm quá hạn, sai vệ Cẩm y đi xét hỏi ra, còn có việc

tiện lợi nên làm và mối tệ hại nên bỏ, mà các ngươi không tâu đến, thì phủ huyện phải bãi chức sung quân ở Quảng Nam, thừa ty phải giáng chức.- Điều thứ ba, quan lại nhiều nhưng không làm được việc thì chỉ có ăn hại của dân mà thôi. Nay các bộ, khoa, các ty, xét những người đần độn, nhân cách bỉ ổi,

không có tài cán, không cáng đáng nổi công việc thì làm bản tâu lên, giao cho bộ Lại xét thực, đều bắt nghỉ việc. Trưởng các nha môn cần lựa thải, thì nên giữ côngminh, không được vì yêu ghét riêng mà tự ý làm càn. Nếu xét người hay, dở không đúng sự thực thì sáu khoa, Ngự sử đài và Hiến ty kiểm xét tâu lên trị tội. Lại chọn

người có khí độ, có kiến thức, quen thạo công việc mà thay vào.Để thanh sạch bộ máy của ta, Ngự sử đài phải soát xét quan lại đã ăn của đút hoặc lấy cắp của công trị giá từ 10 quan tiền trở lên, bất cứ ở vị thế nào cũng đuổi

về nhà làm dân.- Điều thứ tư ta muốn hỏi viên Đại doãn phủ Phụng Thiên. Năm ngoái, ta bổ ngươi trị nhậm kinh sư và răn y phải siêng năng, liêm khiết. Sau ngày mùng 5 tết,

ngươi đem nộp công khố 1250 lượng bạc cùng bảy xe đồ quà biếu của các quan thuộc hạ, cùng các nhà buôn bán. Vì ngươi nêu đức tốt, nên ta gia phong tước trihuyện bá. Năm nay đã là mùng 10 tết, ta không thấy ngươi tâu báo gì. Việc này ta giao cho Ngự sử đài cứu xét. Nếu quả thực vì ngươi liêm khiết, không còn ai dám

đút lót, biếu xén thì ta lại gia phong. Nhược bằng ngươi dối trá, giấu che thì ta chiếu luật hình trị tội nặng gấp đôi.Nhân đây ta cũng cảnh tỉnh cho các khanh hay rằng, chớ tưởng chỉ cần tỏ ra liêm chính một lần, là đủ che bịt cả một đời tham bẩn.

- Điều cuối cùng, cũng là điều quan yếu nhất ta dụ bảo bọn thái bảo kiến dương bá Lê Cảnh Huy cùng các biên quan, biên tướng và cả thần dân của ta rằng:“Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vất bỏ, ngươi nên cố cãi chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe còn có thể sai quan sang sứ Bắc triều bầy tỏ phải

trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.Nói xong, nhà vua tuyên:

- Bãi triều!Các quan ra về mỗi người một tâm trạng. Vui ư? Buồn ư? Lo lắng ư?

Riêng quan thượng thư Hộ bộ Tri kinh diên sự Nguyễn Cư Đạo, mặt mày tươi rói như một cánh đào vừa nở, ông nắm tay áo quan Trung thư lệnh, tri tam quánsự, Hàn lâm viện Thừa chỉ trạng nguyên Nguyễn Trực lắc lắc ba cái như là một sự cảm thông, như là một sự chia xẻ. Nguyễn Trực cười đáp lễ. Các ông đều ngầm

hiểu, vua anh minh vậy, thế nước ắt đi lên!(Báo Văn nghệ)

Người thợ sửa giày góc phố

Mấy ngày Tết, trong nhà tôi khách khứa không nhiều. Cũng là phải thôi, làm kẻ sống xa quê, họ hàng nội ngoại ở cả ngoài Bắc, trong này chỉ có vài anh em, mấyngười cùng làng và những bạn bè quen biết, đồng sự… đến thăm nhau trong ngày Tết. ấy thế nhưng cũng phải vào mùng hai, mùng ba họ mới đến. Ngày mùng một

còn phải đến lễ cha mẹ, lệ là vậy, mùng hai đến thăm thủ trưởng, thầy cô giáo của mình, của con cái. Ai cũng thế cả, hoá nên có đến nhau rồi cũng chẳng gặp, vài lầnthành quen, chừa những ngày ấy ra.

Tôi không có cha mẹ hay chú bác anh chị bề trên để phải đi Tết ngày mùng một. Sáng ra huơ vợ con dậy sắp mâm cơm cúng. Bọn họ đêm qua đón giao thừa,gần sáng mới đi nằm, gọi dậy cũng không nỡ. Tết Sài Gòn lại là tháng nóng, cứ oi oi âm âm, đèn nhang bòng bưởi… lại càng tạo ra cái nóng cứ rịn mồ hôi. Loay

hoay mãi cũng non trưa mới xong mâm cơm, bày lên thắp hương khấn mấy bàn thờ, lầm rầm khấn mời các cụ cao tằng tổ tỉ, thúc bá đệ huynh, cô dì tỉ muội, từ ngoàiquê, đi mây về gió, đồng lai giáng hạ, thiếu đũa thì xát, thiếu bát thì xẻ… phù hộ cho con cháu đồng đất nước người, hay chân mạnh tay, điều dữ đem đi, điều lành

mang đến…Mãi lúc ấy, tôi mới mở cửa, ngoài đường phố, người người ăn diện ngất, xe cộ đua chen, trôi đi. Tôi bần thần đứng ngẩn người ngắm thiên hạ, lòng hay háy

buồn. Nghĩ lại một năm cày cuốc lao tâm khổ tứ, giá kể không có cái Tết thì hà tiện được khối ra. Ăn uống chả được bao nhiêu, mà rõ tốn. Lại buồn nữa, mấy ngàyTết thiên hạ vui chơi, quần tụ mà mình cứ lùi lũi một mình, anh trên chẳng có, em dưới thì không, chẳng ai đến chơi với mình vào cái ngày đầu năm này bởi họ còn bận

chuyện gia tiên, mình thì cũng chỉ là bạn bầu, người dưng thiên hạ… Tôi toan khép cửa vào nhà, làm hớp rượu rồi gà gật xem vô tuyến.Chính lúc tôi vừa quay vào thì có tiếng người chào sau lưng:

- Ê! Năm mới chúc chú Hai mạnh giỏi, làm ăn phát tài!Ô! Ai vậy? Ai xông đất nhà mình nhỉ? Giọng nói tiếng Việt không sõi, rặt tiếng người Hoa Chợ Lớn, giọng thì quen mà người thì lạ?

Người khách xông đất đã vào giữa nhà, hai tay chùi chùi vào hai bên ống quần tây, dáng ra vẻ muốn bắt tay nhưng chưa dám đưa ra. Thấy vậy, tôi cũng đáp lại:- Vâng! Cám ơn ông! Năm mới chúc ông may mắn, vạn sự như ý! Mời ngồi!

Câu đáp của tôi là dựa vào cái tờ giấy đỏ có viết bốn chữ Hán “Vạn sự như ý”, mà một cậu bé tự nhiên dán vào cửa nhà tôi rồi chìa tay xin lì xì. Tôi vừa nghĩvừa rót trà mời ông khách, mà không ai nghĩ ra ai, đến nỗi tràn cả ra ngoài. Đưa tách trà cho khách và nhìn kĩ ông ta, tôi chợt nhớ ra, đưa tay ra nắm lấy hai bàn tay

đen đủi, nhăn nhúm đầy những vết sẹo kim đâm của ông:- à, ông Hai. Trời ơi, vậy mà tôi không nhận ra! Năm mới, chúc ông Hai nhiều khách, nhiều việc, nhiều tiền…

- Ây dà… Hổng nhận ra ngộ hả?Làm sao mà nhận ra ông được kia chứ? Quanh năm bốn mùa mưa nắng, ngày nào chúng tôi chả giáp mặt nhau, vậy mà hôm nay, ngày Tết tôi lại không nhận ra

ông. Thì ra tôi chỉ quen ông trong dáng bộ của một cái quần đùi lửng cháo lòng và cái áo dệt kim loang nhoang vết dầu cáu cáy. Hôm nay, ông diện quần tây, áo sơmi cổ hồ bỏ trong thùng, đến nỗi cả cái dáng đi ve vẩy lùi lũi mọi ngày cũng biến đi đâu mất. Ai bảo cái áo không làm nên thầy tu cũng phải, nhưng quần áo làm con

người ta sáng ra, sang ra lại cũng đúng. Tôi rót mời ông một li rượu cam, óng ánh hồng. Ông cầm li uống nhè nhẹ như sợ hết, còn tôi dốc thẳng vào cổ:- Ông Hai bữa nay diện quá, thiệt tình tôi nhìn không ra.

Ông cười hề hề:- Ây da… Bộ đồ này của người em ngộ đó. Hổng có “dzừa” đâu. Chú Hai đừng có cười, tội nghiệp ngộ lắm mà…

- Ai mà cười. Nào, uống với tôi một ly nữa nhé. Rượu này ngoài Hà Nội người ta gửi cho, rượu Việt Nam đấy. Mời ông Hai…Ông uống một li nữa, gọi hai đứa con tôi ra rồi móc trong túi áo ra hai cái “hồng phong bao” nhỏ bằng quân bài tam cúc:

- Hai cháu! Năm mới, ngộ lì xì cho hai cháu nhỏ nhanh lớn, phát tài!Hai đứa nhận rồi cứ ngây ra nhìn ông, tôi phải lừ mắt:

- Cám ơn ông Hai đi, các con!

- Cám ơn ông Hai đi, các con!Ông cúi chào tôi một lần nữa rồi bước ra đường. Nhìn dáng người khòm xuống, chân bước loạng choạng giữa dòng người xe pháo ngược xuôi, lòng tôi nao nao

một chút gì thương cảm. Đứa con gái chạy ra khoe:- Ông Hai cho con hai ngàn!

- ừ. Ông ấy cho thì con cất đi. Hai nghìn cũng quý.- Ông Hai nghèo lắm hả bố?

- ừ, nghèo lắm. Lì xì cho các con bốn nghìn là hết một bữa cơm của ông ấy rồi đấy!*

Khi vợ chồng tôi dọn nhà về cái chung cư lụp sụp này, ông Hai thợ giày đã ngồi ở vỉa hè này trước tôi cả chục năm rồi. Nhà tôi hướng tây, buổi chiều nắng lửaxiên thẳng vào nhà, những quầng bụi đường vần vũ dưới luồng nắng rát. ở bên phải cửa ra vào, ông thợ giày thu lu lại trong đống đồ nghề tàn tạ: Dao, kéo, kim chỉ

và một mớ những mảnh da, đế cao su và một đống giày, dép da cũ. Có điều cả hai chúng tôi đều không biết tên nhau, ông thợ giày theo thói quen của người Việt màgọi tôi là chú Hai. Còn chúng tôi lúng túng chưa biết gọi ông là gì thì nhà bên cạnh gọi ông là chú Giày. Các con tôi cũng bắt chước gọi theo, vợ tôi bảo:

- Các con không được gọi như thế, nghe nó bất nhẫn làm sao ấy. Thôi, nhà mình cứ gọi ông ấy là ông Hai…Người Việt ở miền Nam vốn có tập quán hễ người nào mới quen biết mà chưa biết tên,biết thứ thì cứ gọi là Hai, anh Hai, chú Hai, ông Hai… coi như người hơn

mình về ngôi thứ. Chúng tôi cũng gọi ông thợ sửa giày là ông Hai cũng theo cái ý ấy.Ngày nào cũng vậy, ông dọn ra từ bảy giờ sáng và kết thúc một ngày làm việc của ông vào khoảng sáu giờ chiều, khi đèn đường đã đỏ. Lúc ấy, ông mới thu dọn

đồ nghề, mua một đĩa cơm bình dân, cẩn thận gói lại trong một cái bịch ni lông:- Chú Hai mang cơm về ăn bữa khuya à? Có lần vợ tôi hỏi.

- Không ớ! Đem về cho thằng cháu, con của người em…- Tối chú nghỉ ở đâu?

- Nhà người em bên đường Nguyễn Chí Thanh. Gần lắm. Rồi ông lại cười hề hề. Mua ở đây cho nó rẻ, bên đó mắc lắm, chịu hổng có lổi đâu!Mỗi lần tôi đi làm về, trông thấy tôi từ xa, ông Hai thợ giày lại loay hoay lom khom thu vén mấy thứ lặt vặt của ông để lối cho tôi vào nhà. Ông làm vậy là do thói

quen và cũng là một cách lấy lòng tôi thôi, chứ thật ra, chỗ ngồi của ông luôn luôn gọn gàng, không ảnh hưởng gì đến việc ra vào của gia đình tôi. Chỉ có một hôm, cómột người khách phụ nữ chờ ông khâu lại mũi dép da ngồi trên lối ra vào nhà tôi. Thấy tôi về, ông lúng túng lật một tờ báo chữ Hoa, vuốt phẳng phiu đặt sang bên

cạnh mời người khách ngồi. Bà khách loay hoay không đứng dậy được vì không có dép, chân lại vắt chữ ngũ, chưa gỡ được ra. Nhìn nét mặt đau khổ của người thợ sửa giày, tôi bảo:

- Chị làm ơn đứng dậy một chút, tôi dắt xe vào nhà, chị ngồi nghỉ, không sao đâu.- Cám ơn chú Hai! Cám ơn chú Hai!… Ông lập bập đến mấy lời cám ơn tôi.

*Dù không muốn, tôi vẫn cứ phải quan sát cuộc sống hàng ngày của ông trong một mảnh vỉa hè mà người đời (trong đó dĩ nhiên là có tôi) dành cho ông.

Quanh năm ngày tháng ông chỉ diện một bộ quần cộc, áo may ô tay lửng. Có hôm trời Sài Gòn trở lạnh, ra đường có người mặc áo len, nhưng ông vẫn nhất bộnhư thế. Cho nên, khi ông diện bộ cánh, bỏ áo vào trong quần đến xông đất nhà tôi, mãi tôi mới nhận ra. Hỏi tên ông là gì, ông nói tôi không nghe được, tôi bảo ông

viết ra. Ông lấy một mẩu chì sáp thường đo vẽ cỡ chân cho khách viết một chữ Nho lên mảnh da: Chữ Nghiêm, một chữ hơi rậm nét, khó đọc. Tên ông là Nghiêm!Ông Nghiêm hút thuốc lá nhiều lắm, hút liên tục điếu nọ chưa tàn ông đã nối điếu khác, mà toàn một thứ thuốc cuộn rẻ tiền mà người ta gọi là “thuốc củi” bởi nó

được bó thành từng bó năm chục điếu, như bó củi. Mỗi bữa ông mua một đĩa cơm về để bên cạnh, vừa ăn, vừa làm, có lẽ chỉ lúc ấy ông mới rời khỏi điếu thuốc.Mấy năm sau này, tôi thấy ông để bên cạnh một cái li mà người ta dùng để uống cà phê đen, bên trong đựng một thứ nước trong vắt, nhốc múi, mùi cồn mật mía bay

ra mà tôi biết được đó là rượu. Cũn một thứ rẻ tiền.Có hai thứ mà ông say mê cả: Đó là vé số và tờ nhật báo Sài Gòn giải phóng tiếng Hoa. Ngày nào ông cũng đặt mua một tờ, đọc chi tiết, tất cả các mục. Tôi còn

nhớ một lần bài báo của tôi viết về một ông chín mươi tám tuổi được báo Hoa văn dịch, thấy ông đang đọc, tôi bảo tôi viết. Thế là ông mừng lắm, bàn luận với tôisôi nổi về tuổi già:

- Sống lâu là tốt, tốt lắm a chú Hai! Rồi ông ngậm ngùi. Nhưng mà, như tôi, sống lâu không tốt đâu.- Sao vậy?

- Ngộ đâu có vợ, có con! Ngộ ở đậu nhà người em mà. Nó còn có vợ, có con nó, mình đau cũng ráng mà đi ra khỏi nhà, đâu có dám than, hả chú Hai!- Sao hồi đó ông Hai không cưới vợ?

- Đi lính! Năm Mậu Thân ngộ bị đưa ra tận vùng Một, Khe Sanh, Quảng Trị. Sợ quá! Sợ quá! Trốn lính mà không thoát, bị đưa đi làm lao công đào binh hếtmấy năm. Giải phóng rồi thì hổng có ai thương, ngộ không có nhiều tiền, chú Hai à!

Có một hôm, tôi vừa đi làm về, chưa kịp dắt xe vào nhà, ông đã đứng dậy chìa vào tận mặt tôi tờ báo:- Chú Hai có nghe tin này không?

Tôi liếc qua, không biết là gì, mệt mỏi lắc đầu nhại giọng ông:- Piết dồi, khổ lắm!

- Piết dồi hả? Chung Guốc dzới Diệc Nam hữu nghị hả?- Hữu nghị chứ sao không!

Tôi cất xe, vừa rửa mặt vừa nghĩ. Không hiểu có tin gì mà ông thợ sửa giày lại quan tâm thế nhỉ? Tôi đánh quần đùi ra cửa hỏi lại:- Đâu? Báo đăng tin gì mà ông vui thế?

- Ông Ly Phằng sang thăm Việt Nam, chú chưa có nghe à?Tôi ngạc nhiên:

- Thế à?- Ly Phằng thủ téng Chung Guốc ý…

- à! Trời ơi, Thủ tướng Lý Bằng. Ông bảo Ly Phằng thì tôi nghe làm sao được. Đúng rồi, Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Thủtướng Lý Bằng dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Quan hệ hai nước hữu nghị, tốt đẹp nhân dân ai chả mừng.

- Dzậy hả?Ông Nghiêm cười hề hề, lục trong túi áo ra một điếu thuốc Đà Lạt quăn queo ra đưa mời tôi. Tôi cầm điếu thuốc và biết rằng đây là điếu thuốc quý của ông, vì

nó đắt tiền hơn thuốc củi của ông nhiều. Với tôi, lâu lắm rồi tôi không hút thứ này, nhưng vẫn châm lửa, hít vào, thở ra. Nhìn từ phía sau, ông thợ giày cúi xuống mớđồ lề của mình, tôi có cảm giác đó là một cậu bé đang chơi đồ hàng.

*Từ mấy năm nay, người ta có kiếm tiền dễ hơn, người ta cũng ăn diện hơn, đi giày nhiều, giày da, cho nên công việc sửa chữa, may lại đường chỉ, đánh chà lại

Từ mấy năm nay, người ta có kiếm tiền dễ hơn, người ta cũng ăn diện hơn, đi giày nhiều, giày da, cho nên công việc sửa chữa, may lại đường chỉ, đánh chà lạimột vài chỗ xước, làm cho ông Nghiêm khá bận rộn. Lúc nào cũng thấy ông cúi rạp xuống chiếc giày mà kẹp giữa hai bắp đùi khẳng khiu mà mài, mà miết, mà khâu,

mà móc…Một buổi chiều đi làm về sớm, tôi ra cửa kê dép nói chuyện với ông. Ông thợ giày đang dán mắt vào tờ giấy nhỏ có ghi kết quả xổ số mà một thằng bé vừa chạy

qua dúi vào tay ông để lấy hai trăm. Thấy tôi, ông ngẩng lên:- Sém trúng! Sém trúng!

- Đã có khi nào ông trúng số độc đắc chưa?- Không có trúng! Mua hết mấy trăm nghìn rồi mà không có trúng!

- Nếu trúng số độc đắc thì ông xài việc gì?Ông cười hề hề ngửa mặt dòm tôi, rồi lại dòm lên trời, cặp mắt cận thị lồi ra hấp háy:

- Không có trúng đâu, chú Hai à!- Biết đâu, có ngày ông trúng số độc đắc!

- ờ. Tới hồi đó, tôi về Trung Quốc. Nè, chú Hai coi đi. Ông đưa tờ báo chữ Hoa cho tôi rồi lấy ngón tay dò trên một ô quảng cáo. Có tám triệu là đi TrungQuốc được rồi. Chú Hai có đi sang Trung Quốc lần nào chưa?

Tôi lắc đầu, hỏi lại:- Trung Quốc rộng mênh mông thế, tám triệu làm sao ông về đến nhà?

- Ây! Nhà ngộ ở Quảng Đông, gần thôi mà. Pa của ngộ sang Việt Nam từ lúc còn chẻ, mấy lần tính về quê, nhưng hổng có nhiều tiền, lại chiến tranh. Bây giờngộ già rồi, hoà bình rồi, muốn về thăm quê mà cũng không có nhiều tiền…

Câu chuyện ông Nghiêm, người thợ sửa giày góc phố tôi, mong trúng vé số độc đắc có tiền về thăm quê cha đất tổ làm tôi cảm động và suy nghĩ. Nhưng rồi baonhiêu thứ chuyện trên đời con người ta làm sao mà nhớ mãi được. Mấy năm nay, chính sách của Nhà nước ta có thay đổi, nhà nhà, người người mở cửa buôn bán,

vợ chồng tôi cũng ki cóp ít vốn mở một cái điểm bán cơm bình dân. Khi tôi mở ra, tất nhiên là ông thợ sửa giày không còn chỗ ngồi. Nhìn ông bê từng món sang bêncạnh tôi cũng thấy ái ngại. Gần hai chục năm gắn bó với cái chỗ này giờ cun cút dịch chuyển, nhưng biết làm sao. Tưởng ông sang bên ấy được yên, nào ngờ nhà họ

cũng cho thuê điểm cho mướn băng vidéo. Thế là ông lại phải đi chỗ khác, cứ thế. Sau cùng ông ngồi dưới chân cột điện, căng tấm ni lông lên làm chỗ hành nghề.Tuy xa nhau, không còn dịp trò chuyện như trước nhưng gặp tôi ông vẫn chào. Và, tết nào ông cũng diện một bộ quần áo dài tươm tất, đến chúc tết tôi.

Lâu lâu, tôi cũng không để ý, mãi đến một chuyến công tác về, giày của tôi bị sứt chỉ, tôi bảo thằng con:- Con đem cái này ra chỗ ông Hai, nhờ ông ấy khâu hộ. Nhớ hỏi bao nhiêu tiền về bố đưa.

Con tôi nhìn tôi:- Thế bố không biết à?

- Biết cái gì?- Ông Hai chết rồi!

Tôi im lặng, không muốn để lộ vẻ ngạc nhiên hay thương xót, mà hỏi lại con bằng một giọng uể oải:- Ông ấy chết bao giờ?

- Một tháng rồi.- Sao con biết?

- Con nghe bà bán nhang nói.Tôi quẳng chiếc giày vào góc nhà:

- Thôi được rồi, để bố mang lên Sài Gòn…Tôi ra cửa đứng nheo mắt nhìn về phía cây cột đèn. Không còn cái mảnh ni lông phần phật trong gió, trong tiếng xe ầm ào. Đúng là người thợ sửa giày góc phố

không còn ở đấy nữa. Một khoảng trống gọn ghẽ nhường lối cho người đi đường. Nhưng hoá ra với tôi, đó là một khoảng trống thật sự từ trong tận đáy lòng. Ngườithợ sửa giày nghèo khó, cô đơn, người không có chút liên quan nào đến đời sống hay sự nghiệp của tôi, nhưng khi ông ấy không còn nữa, lòng tôi tự nhiên cũng có

một khoảng trống.Ông Nghiêm sẽ chẳng còn có dịp trúng số độc đắc để thực hiện ý định về Trung Quốc, quê hương ông một lần. Còn tôi,tết này tôi có nhiều người đến xông đất,

em trai, em gái, em dâu, em rể, bạn bè, đồng sự… Nhưng trong bữa cơm mừng năm mới tôi vẫn rót ra li rượu nhỏ để bên cạnh. Cậu em rể thấy vậy hỏi:- Anh rót cho ai thế?

- à, tôi cười xoà, cứ rót dư rượu thế này, chắc là có khách!(Báo Văn nghệ)

Chuyện nhặt dưới chân núi Phanxiphăng

Leo ngược con dốc, Giàng Thao đưa tôi tới một quán cà phê ở lưng triền đồi. Quán cà phê vắng khách. Những chiếc bàn chiếc ghế dán mác đặc chủng “Cà phêTrung Nguyên”. Mặt bàn đã tróc mê ca nham nhở xếp bên cạnh dãy bàn ghế gỗ được cưa ra từ những gốc cây lim, cây táu. Mưa nắng đã phủ lên những bộ bàn ghế

gỗ một màu nâu mốc. Ngồi đây tôi ngất ngây trong mùi ngô khoai nướng thơm lừng từ các quán cóc, vừa sững sờ lặng ngắm ngôi nhà thờ đá phía bên kia đường.Ngôi nhà thờ được xây dựng từ đầu thế kỷ trước, khi những người Pháp đặt chân lên vùng này và có ý định xây dựng Sapa trở thành một trung tâm nghỉ ngơi tĩnh

dưỡng. Hơn hai trăm ngôi nhà kiến trúc theo lối Pháp giờ chỉ còn lại đôi ba cái nằm sâu trong những khuôn viên rộng, hoang phế, cỏ dại mọc đầy. Nhiều ngôi nhà cũnát đã bị dỡ bỏ, thay thế vào đấy là những ngôi nhà mới kiến trúc hiện đại.

Cô gái bưng hai ly cà phê nóng ra cho chúng tôi vừa đi khuất, Giàng Thao bảo: “- Anh còn nhớ hôm ở chốt đồi Lau, em pha cà phê bị thủ trưởng Toàn mắngkhông nhỉ?”. Tôi lặng lẽ cười nhưng mắt lại nhìn chỏm nắng còn rớt lại trên sườn núi đá dưới chân Hòn Rồng. “- Tại em ngu quá khôngnghe lời anh - Giàng Thao vui

vẻ - lẽ ra em phải đổ cà phê vào cái khăn mùi xoa rồi cho vào ăng gô nấu. Nhưng em tiếc cái khăn của Tuyết tặng em. Em cứ đổ đại cà phê vào nấu. Đến lúc uốngcà phê ông Toàn bị sặc…”. Tôi nói. “- Vậy mà ông Toàn cũng chỉ sống được đến hai giờ chiều ngày hôm sau. Anh Toàn bị mảnh pháo chém đứt 7 đoạn ruột. Mất

máu nhiều quá…”. “- Tội nghiệp thủ trưởng Toàn, anh nhỉ!”.Tôi vẫn còn nhớ dai dẳng gương mặt của Toàn. Trên da mặt anh ta có những chấm rỗ hoa. Toàn là tham mưu phó sư đoàn đi lên chức quan từ anh binh bét. Tôi

biết Toàn từ những năm đánh Mỹ, ngày sư đoàn còn chốt bên bờ sông Ô Lâu… Đánh Mỹ hàng trăm trận không chết giờ ra đi chỉ vì một trận pháo của đám giặc cỏ.Khổ thân cho cháu Ngà, đứa con gái đầu lòng của Toàn. Lúc ngồi ăn cơm với tôi anh còn khoe: chuyến này tạt qua nhà sẽ mua cho con gái chiếc xe đạp để đi học.

Khổ thân cho cháu Ngà, đứa con gái đầu lòng của Toàn. Lúc ngồi ăn cơm với tôi anh còn khoe: chuyến này tạt qua nhà sẽ mua cho con gái chiếc xe đạp để đi học.Con gái Toàn đã vào học cấp III.>

Một làn sương nhẹ chẳng biết từ đâu tràn tới mang theo khí lạnh. Thoắt một cái, tôi chẳng còn nhìn thấy vạt nắng phía bên kia đồi và cả những dẫy nhà cao tầngở phía xa cũng bị mây mù che phủ. Ngọn PhanXiPhăng hùng vĩ lẩn khuất trong mây. “- Ngày mai trời sẽ tạnh ráo. Lễ hội mới vui”. Giàng Thao buông một câu.

Dễ có tới hơn hai mươi năm tôi mới gặp lại Giàng Thao. Cậu ta đã già dặn, cứng cáp không còn chút vẻ măng tơ của người lính trẻ thuở nào. Hôm tôi gặp GiàngThao ở chốt Đồi Lau cậu ta đi theo Toàn xuống đơn vị cùng với một tổ trinh sát. Hầm chật, Giàng Thao được bố trí ngủ chung trong căn hầm kèo với tôi. Cậ trinh

sát tỏ ra lanh lẹ, hóm hỉnh. Hỏi chuyện mới biết Giàng Thao là con cháu của một dòng họ lớn người H’Mông ở Sapa. Cứ như theo lời Giàng Thao nói ngày quânPháp lên đánh chiếm Lào Cai, cụ nội của cậu đã từng theo quân Cờ Đen đánh trận ở Ngải Phong Chồ. Cụ chết trận. G iàng Thao là con một được gia đình cho ăn

học. Nhưng cậu cũng chỉ theo được tới lớp bẩy, rồi bỏ. Cha mẹ cậu đã sắp sẵn việc cưới vợ cho cậu. Cô gái mà gia đình Giàng Thao định cưới cho cậu là con gáiông chủ tịch xã. Biết được tin ấy, Giàng Thao đã tìm cách đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự với một lý do duy nhất, là trốn lấy vợ ở bản. Gia đình hai bên có biết đâu

rằng đã vài năm nay, Giàng Thao phải lòng một cô gái dạy cấp I ở thị trấn. Cô giáo người Kinh, quê ở đất nhãn Hưng Yên, theo gia đình lên khai hoang từ nhữngnăm 60. Họ quen biết nhau sau một phiên chợ tình. Một tháng đôi ba lần Giàng Thao theo mẹ gùi thảo quả, măng, mộc nhĩ ra bán cho cánh hàng buôn ở chợ…

Trong lúc chờ mẹ mua bán Giàng Thao dành thời gian tới thăm Tuyết, cô giáo mà cậu đem lòng yêu mến. Đôi bạn trẻ rủ nhau ra quán uống nước, chuyện trò. Tuyếtđưa cho Giàng Thao vài cuốn sách trong tủ sách của nhà trường. Có lần Giàng Thao bắt được một con dúi, cậu mang ra cho Tuyết. Cả hai không một lời hẹn ước.

Không dám cầm tay nhau. Nhưng lâu ngày không gặp nhau thấy nhớ. Tuyết cũng biết cả ý định của gia đình Giàng Thao bắt cậu lấy vợ người cùng bản nên cô càngné tránh. Cho đến ngày Giàng Thao nhập ngũ Tuyết tiễn chân cậu và tặng người bạn trai cuốn sổ, cây bút và chiếc khăn mùi xoa. Lâu lâu họ gửi thư cho nhau…

Những tưởng chúng tôi đã được ngủ một đêm yên tĩnh. Đâu có ngờ vào lúc tảng sáng ngày hôm sau, địch đã pháo kích vào tuyến chốt Đồi Lau. Trận đã chìmtrong khói bụi. Hầm sập. Hào sạt lở từng đoạn dài. Cái trò đánh lén của địch vẫn diễn ra thường xuyên suốt dọc biên giới, nơi trung đoàn tôi bảo vệ. Trận pháo kích

buổi sáng tháng 6 ấy thật khủng khiếp. Chỉ sau một loạt pháo đầu tiên, trung đoàn đã có tám người hi sinh, mười hai cáng thương binh, trong đó có Toàn. Pháo củađơn vị bắn trả quyết liệt, nhưng lấy đâu nhiều đạn để vung vãi khắp đất rừng. Hai giờ chiều đến lượt tôi bị thương. Người cõng tôi ra khỏi căn hầm chỉ huy chính là

Giàng Thao. Tôi bị thương nhưng vẫn tỉnh. Nghe rõ giọng cậu trinh sát gào lên thảm thiết: “- Anh ơi anh đừng chết… mai này em còn sống về cưới vợ, em sẽ đón anhlên Sapa…”. Tôi mê man trong ý nghĩ:… chết… đừng chết… cưới vợ…

Chiều nay lúc dừng xe ở đầu dốc chợ, câu đầu tiên tôi hỏi một anh cán bộ làm việc ở uỷ ban thị trấn. “Có biết Giàng Thao trước ở cơ quan huyện không?”. “- Lạgì ông ấy. Về hưu lâu rồi. Cứ đến nhà nghỉ Thiên Sơn mà hỏi”. “- Sao lại khách sạn Thiên Sơn? Tôi muốn hỏi thăm anh Giàng Thao ở bản X, kia?”. “Thì ông ấy chứ

ai! Anh cán bộ bảo tôi - Ông Giàng Thao và bà Tuyết cả vùng này ai chả biết. Ông bà ấy có cả nhà nghỉ đón khách du lịch”. “- Tôi muốn tới nhà riêng trong bảnkia!”. “Vậy thì mời ông ra ngã ba theo hướng đi Lai Châu. Trang trại của gia đình ông ấy ở gần Thác Bạc”.

Tôi đã dành cả giờ đồng hồ để chui lủi trong khu vườn rộng vài héc ta của Giàng Thao. Vườn trồng su su, trồng hoa, trồng lồ. Đứng từ trên sườn dốc nhìn xuốngcả khu vườn chỉ thấymt mầu xanh của lá rừng. Tưởng là cỏ lau, rau lang rừng. Lầm… Vườn su su đấy. Hàng vạn quả to nhỏ treo lúc lỉu trên những giàn dáo được

căng dựng công phu. Chỉ riêng su su mỗi năm cũng thu được hàng chục tấn. Những vườn hoa được ươm trồng trong những khung lồng có mái che để chống sươngmuối, gió táp và cả tuyết mỗi kỳ đông giá.

Ngôi nhà sàn của Giàng Thao nằm lọt thỏm giữa khu vườn dưới bóng tre lồ ô. ở đây yên tĩnh quá. Không nghe thấy tiếng gầm rú của xe máy. Lâu lâu mới vọnglại tiếng còi xe ô tô trên đỉnh đèo. Lắng tai còn nghe được cả tiếng nước đổ ào ào ở Thác Bạc.

Tuyết, vợ Giàng Thao đưa tôi đi coi vườn cam, và dẫy chuồng lợn, chuồng bò, trại nuôi dê được xây xi măng, lợp ngói. Nước từ trên núi cao theo đường ốngkéo về, nối vào các vòi phun nước để rửa chuồng trại, tưới rau. Cô giáo cấp một cũng đã nghỉ hưu non để về trông nom vườn tược giúp chồng và quản lý nhà nghỉ

mini có mười phòng dành cho khách du lịch. Tuyết hơn Giàng Thao hai tuổi, chưa tới tuổi 40, giỏi lao động nhưng lại có vẻ ngoài và cách ăn mặc quần áo, trang điểmhợp mốt như một người quen được sống thanh nhàn.

Hai đứa con của Giàng T hao một đứa học lớp 13 một đứa học lớp 10 ở ngoài Lào Cai. Chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ chúng mới về thăm cha mẹ.Tôi đã ở lại một đêm trong căn phòng dành cho khách của vợ chồng Giàng Thao ở nhà nghỉ Thiên Sơn. Ngôi nhà nghỉ bốn tầng nằm trong một khu đất rộng ba

trăm mét vuông ở ngay đầu dốc. Ngôi nhà tựa lưng vào núi, sát với cánh rừng trồng gỗ xen kẽ với vạt tre lồ ô thân thẳng tắp cao vút. Bữa cơm gia đình theo yêu cầucủa tôi chỉ nhiều rau. Đọt su su sào tỏi. Su su luộc chấm muối vừng, gà rang mặn và một chai rượu nhỏ…

Trong lúc ngồi ăn, tôi buột miệng khen vợ chồng Giàng Thao làm ăn giỏi. Tuyết nhìn chồng. Còn Giàng Thao lại bảo:- Cũng nhờ một tay vợ em cả. Cô ấy chắt chiu dành dụm từng đồng, biết tính toán… anh không biết chứ, ngày em mới dời quân ngũ về bản, hai vợ chồng cơ cực

lắm. Quê em anh biết rồi, chiến tranh bao nhiêu năm tàn phá ruộng vườn nương rẫy hoang phế. Bà con phải vào núi ở… Anh uống rượu đi, rượu Bắc Hà đấy… RồiGiàng Thao kể tiếp: Có lúc em phải vào rừng đào củ mài, đi mót từng gùi sắn còn sót lại trên rẫy cũ đem về vừa ăn vừa nuôi lợn.

Tôi hỏi Giàng Thao rồi quay sang nhìn Tuyết:- Lúc cậu lấy Tuyết gia đình không phản đối à?

- Còn ai nữa mà cấm! Giàng Thao cười - bố mẹ em đều mất trong những năm em đi bộ đội. Cô con gái ông chủ tịch xã cũng đã đi lấy một anh cán bộ trồngrừng. Năm sáu năm trời, Tuyết chờ đợi em. Bỏ sao được anh?

Tuyết em tôi ăn cho no tối nay còn đi dự lễ hội, chơi phố. Cô bảo:- Cơ ngơi này một tay vợ chồng em làm ra. Mấy người bạn cũ đến chơi cứ gọi đùa tụi em là địa chủ. Nhưng chúng em không đi bóc lột ai, không tham ô… Chỉ

bóc lột đất và sức lực của chính mình. Đến mùa thu hái quả mới thuê dăm bảy nhân công, cơm ngày ba bữa còn trả cho họ ba bốn chục ngàn. Anh thấy có gì saikhông?

- Nhà nước đang khuyến khích người dân làm giàu. Học cách mà làm giàu. Tôi nói.Tuyết kể cho tôi nghe những ngày cô đằng đẵng ở nhà nuôi con nhỏ, chồng đi xa. Đồng lương thấp. Vào những ngày chủ nhật, cô gửi con cho ông bà ngoại rồi

tới các nhà hàng, quán ăn nấu ăn thuê, rửa chén đĩa, dọn phòng.Vùng biên cương yên ổn, các cửa khẩu lại mở, việc buôn bán tấp nập, khách các nơi lại đổ về Lào Cai, Sapa làm ăn. Vài năm nay, người dân thị trấn đua nhau

xây nhà hàng khách sạn. Vào mùa du lịch, những ngày nghỉ cuối tuần có hôm không còn chỗ đón khách. Tuyết chịu khó lại khéo tay. Cô còn làm thêm việc đan len,thêu ren bán cho du khách… Bất giác, Tuyết nhìn lên bàn thờ nơi có bài vị cha mẹ.

- Chỉ thương các cụ, lúc con cháu có của ăn của để các cụ lại chẳng còn sống để hưởng. Chợt Tuyết bảo tôi - à, anh này… Hôm trước cô Ngà con anh Toàn đitham quan có ghé chơi thăm vợ chồng em.

- Tôi cho địa chỉ cháu Ngà đấy. Tôi nói - Ngà đang làm luận án iến sĩ kinh tế. Tôi đã vào thăm trại nuôi tôm của cô ấy ở Nha Trang… Nào, ta uống mừng chovong linh anh Toàn…

Hai đứa con của Giàng T hao cùng hơn một chục cô cậu học trò phổ thông trung học ở ngoài Lao Cai về Sapa dự lễ hội. Chúng ào ào vào nhà rồi ào ào ra đinhư một bầy vẹt núi xà xuống mổ trộm ngô trên rẫy. Ngoài phố đang đông vui. Rộn rã tiếng chiêng, tiếng trống múa lân. Nơi nào cũng chăng đèn, treo cờ, kết hoa.

Đêm nay còn đốt pháo hoa. Người từ các nơi đổ về làm cho các dãy phố của Sapa vốnn gắn, nhỏ trở nên chật chội. Người già, đám thanh niên trai gái người dântộc ăn mặc những bộ trang phục đẹp nhất lũ lượt từng toán đi chơi phố. Một số các mẹ các chị người H’mông ngồi trên vỉa hè bán những chiếc vòng bạc…

tộc ăn mặc những bộ trang phục đẹp nhất lũ lượt từng toán đi chơi phố. Một số các mẹ các chị người H’mông ngồi trên vỉa hè bán những chiếc vòng bạc…Giàng Thao đã theo các cụ cựu chiến binh ở thị trấn đi dự lễ ngoài sân vận động. Từ buổi chiều anh đã ủi lại bộ quân phục còn mới cất kỹ trong tủ, ít khi dùng.

Tuyết mải lo thu xếp chỗ nghỉ đêm cho khách. Tôi mệt không muốn đi ra ngoài trời lúc này nhưng cũng chưa thể ngủ được vì vui lây không khí lễ hội ngoài đường.Tôi leo lên tầng thượng nhìn toàn cảnh thị trấn chấp chới trong ánh đèn màu xanh đỏ qua lớp sương mù mỏng. Ngày mai tôi đã lại về Nam, biết ngày nào mới trở lại

Sapa? Chỉ nghe nói, thị trấn miền núi này sẽ có sáu nước phương Tây giàu có đang có ý định đầu tư, quy hoạch thành một trọng điệm du lịch. Giàng Thao của tôi sẽra sao? Liệu anh có giữ nổi ngôi nhà sàn của tổ tiên và những vườn su su trĩu quả ở dưới chân Thác Bạc, cũng như sự thanh thản bình yên cho mỗi đêm hè?

Tôi dời Sapa lúc trời còn tối. Hình như Tuyết cả đêm không ngủ. Cô đợi các con trở về lo cho chúng và bạn bè của con từng chỗ ngủ. Khi tôi xuống gian phòngkhách, Giàng Thao và Tuyết đã ngồi pha nước. Tôi lặng lẽ chia tay họ. Cái lạnh như thấm vào da thịt. Chiếc xe con trôi trong biển sương mù. Cả thị trấn lịm vào

trong giấc ngủ say mê mệt sau một đêm gần như thức trắng. Những ngôi nhà cửa đóng kín vẫn hắt ra ánh đèn mờ. Trên khoảng sân rộng trước nhà thờ, từng tốpthanh niên trai gái người Kinh, người dân tộc ngồi quần tụ bên những đống lửa đã tàn ngủ gà ngủ gật. ở một quán bán “thắng cố” bên đường, một anh chàng người

H’mông tựa đầu vào vai cô vợ trẻ chẳng rõ ngủ hay say rượu. Người vợ kiên nhẫn nhặt từng cành củi đốt lửa sưởi ấm cho chồng. Dưới gốc cây săng lẻ, con ngựachồn chân gõ móng…

(Báo Văn nghệ)

Tiếng gà

Chúng tôi ở đơn vị sát với giới tuyến quân sự tạm thời, vẫn thường gọi là “ăn cơm miền Bắc đánh giặc miền Nam”.Rằm tháng Chạp, chúng tôi ra quân đánh liên tiếp vào mấy đồn, diệt cả xe tăng và hôm sau rút ra đóng quân ở Vĩnh Linh, yên chí là thế nào cũng được chuẩn bị

để ăn Tết một cách chu đáo. Đơn vị lại nhận thêm một số chiến sĩ cũ bổ sung về. Trong đó có cậu Đường tính tình xấc láo, hơi tí là nổi cáu. Buổi trưa anh em nằmngủ, còn Đường rút cây sáo dắt trong ba lô ra thổi. Quả là Đường thổi sáo rất hay, nhưng thổi không đúng lúc. Tiểu đội trưởng ra lệnh bảo Đường không thổi sáo

nữa. Đường đứng dậy tát hai cái vào mặt tiểu đội trưởng.Chuyện thật là hiếm xảy ra. Cả tiểu đội thức dậy, trung đội thức dậy, vây lấy Đường, định cho Đường một trận để hết tính ngổ ngáo. Còn chính trị viên đại đội thì

yêu cầu trả Đường về tiểu đoàn, tước quân tịch, đuổi về hậu phương.Mọi việc cũng tạm dừng chưa giải quyết, vì phải còn chuẩn bị cho ăn Tết. Đường không thổi sáo buổi trưa nữa và chuyển qua thổi vào buổi chiều hoặc ban đêm.

Một lần đi kiểm tra tôi nghe được tiếng sáo của Đường liền ghé vào thăm. Đường vẫn tập trung vào thổi sáo, không thèm chào tôi. Hết bài, tôi hỏi Đường là biết thổisáo từ lúc nào, và chuẩn bị cho liên hoan Tết, sẽ có hát, ngâm thơ, đồng ca, Đường cố gắng tập cho khớp với anh em định trình bày. Đường đồng ý. Bộ phận hậu

cần đã nhận thực phẩm ở trên chuyển xuống, đồng thời đi mua một số gà về phát cho các tiểu đội. Đường chọn nuôi một con gà trống rất ít lông, vừa cho đứng giữasân đã đập cánh ngẩng cao cổ, cất tiếng gáy, và cứ thế con gà gáy liên tục như chiếc đồng hồ báo thời gian cho đơn vị.

Sau ngày cúng ông Táo, lại có lệnh tất cả gà phải giết hết để đơn vị vượt sông Bến Hải, chuẩn bị ngăn chặn âm mưu địch tấn công sang Vĩnh Linh.Là người lính trong chiến tranh, đừng bao giờ nghĩ đến một chỗ, và càng không nghĩ đến ngày mai mình sẽ được ăn liên hoan. Hãy nghĩ đến công việc hôm nay

làm cho thật tốt và ba lô vũ khí bao giờ cũng gọn gàng chuẩn bị cho mọi cuộc báo động.Các tiểu đội làm thịt hết gà, số ăn ngay, số rang khô mang theo. Riêng Đường là không chịu làm thịt con gà, Đường bảo để nuôi, cho nó gáy vào đêm giao thừa.

Ai cũng phản đối, mang gà đi qua đồn địch nó vỗ cánh cất tiếng gáy, không những bị lộ, mà đại đội sẽ bị tiêu diệt. Đường vẫn không nghe. Chính trị viên đại độixuống hạ lệnh nếu Đường không giết gà, thì ở lại hậu phương.

Đường bảo là trên chặng đường hành quân cũng như bao vây đồn địch, gà sẽ không cất tiếng gáy. Nếu gà gáy thì đưa Đường ra tử hình.Tôi đồng ý để cho Đường mang gà theo, nhưng nếu từ chỗ đóng quân ra bờ sông Bến Hải phía Bắc, mà gà cất tiếng gáy, thì Đường không hành quân tiếp, về lại

hậu cứ, chờ xử lý kỷ luật sau. Đường đồng ý.Mọi người chuẩn bị đồ đạc, còn Đường hí hoáy đan chiếc lồng bỏ gọn con gà vào trong đeo lên lưng. Anh em vừa theo dõi vừa lo, nửa đêm đến bờ sông Bến

Hải vẫn không nghe tiếng gà gáy. Vượt sông, áp sát vào đồn địch, thức trắng đêm vẫn không nghe tiếng gà gáy. Một lần xuýt bị địch phát hiện, vì Đường đeo con gàtrên lưng bò vào gần đồn địch, gà ỉa lên lưng Đường, bọn lính nguỵ tuần tra phát hiện có mùi gì thôi thối. Một thằng bảo: Mùi chó gì, sắp Tết rồi, chúng nó nhốt gà

quanh đây, nên có mùi thối. Lúc tập kích vào diệt đồn, Đường vẫn đeo gà trên lưng, lần từng đường hầm ném lựu đạn, rồi nhảy lên chiếm từng đoạn chiến hào, bắnsúng, găm đạn... Đường còn bắt được cả tù binh. Đúng đêm Ba mươi Tết đơn vị được lệnh rút ra Vĩnh Linh. Đồng bào Vĩnh Linh đi dọc giao thông hào, đón tiếp bộ

đội trở về, tặng bánh, tặng xôi thịt để anh em đón giao thừa.Cả đơn vị về hầm trú quân, cũng chẳng thấy có cây hương nào để thắp đón giao thừa. Đành quây quần trong hầm, mở đài nghe Hà Nội đón giao thừa. Giữa lúc

đó bỗng tiếng gà gáy liên tục. Anh em chạy ra xem gà ở đâu, thì thấy trong một đoạn hầm, Đường đang cho gà ăn, và chốc chốc lại đập cánh, cất cao giọng gáy.Đường chẳng thèm trả lời, rút cây sáo ra ngồi thổi.

Nghe tiếng gà gáy tôi đi ra. Thấy tôi, Đường có vẻ tin cậy, chịu nói: Có gì đâu anh, khi con gà muốn gáy thì nó phải dướn người vỗ cánh rồi mới ngẩng cao đầucất tiếng gáy. Em đã dùng dây buộc hai cánh nó sát vào thân, buộc đầu nó sát với diều, gà không cựa quậy được, nên không thể gáy. Còn bây giờ em tháo hết dây,

con gà được tự do, nó lại vỗ cánh liên tục. Việc rất nhỏ, nhưng dày công suy nghĩ, có khi phải lấy cả tính mạng mình ra bảo đảm. Tôi hết sức cảm phục những ngườichiến sĩ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để giữa chiến tranh vẫn giữ được cuộc sống bình thường.

(Báo Văn nghệ)

Bằng lăng

Cây bằng lăng ấy có đến hơn 100 tuổi. Thân thẳng vạm vỡ, thớ gỗ nổi cuồn cuộn bóng láng và săn chắc như bắp đùi lực sĩ cử tạ đẳng cấp thế giới. Tán rễ rẽđều, ngay hàng thẳng lối. Vào cuối năm, tiết khô đã hanh hao, những bông tím đung đưa, mờ ảo phảng phất bóng hình cố nhân. Kế bên đó là một tổ hợp cây me, cây

dẻ dai. Cả một vùng lề đường râm mát suốt ngày. Đám chim sẻ tụ tập về đây rất đông, tối đến rất huyên náo. Người ta bảo, con đường này là một trong những conđường đẹp nhất thành phố và cái lề đường bên phải ở đầu phố này cũng là nơi dễ làm ăn nhất.

Cuộc sống bươn chải có lúc mệt mỏi phải nghỉ ngơi. Có nơi nào nghỉ giải lao tốt hơn vỉa hè ngã tư, dưới gốc cây bằng lăng này. Râm mát, thoáng đãng, sạch sẽ,

Cuộc sống bươn chải có lúc mệt mỏi phải nghỉ ngơi. Có nơi nào nghỉ giải lao tốt hơn vỉa hè ngã tư, dưới gốc cây bằng lăng này. Râm mát, thoáng đãng, sạch sẽ,yên tĩnh và cái quan trọng là không phải mất tiền. Thợ xây dựng ở bên công trình cao ốc tràn sang, khách bộ hành dừng lại. Nơi đây trở thành một tụ điểm đông

người, nhộn nhịp ồn ào suốt từ sáng đến tối.“Nếu lắng nghe kĩ, còn có hương thơm của hoa dạ hương, hoa lan”. Ông bán vé số nói thêm. Có thể coi như là một phát hiện quan trọng, gần bằng với sự phát

hiện ra châu Mỹ. Ông bán vé số là người đầu tiên đến lập nghiệp ở đây. Tấm bảng hiệu của ông viết chữ rất cẩu thả, nguệch ngoạc nhưng hết sức gây ấn tượng “Cóhai tỉ rưỡi cho bất kì ai”. Là người, ai cũng giống ai nhưng chẳng ai giống ai. Có thể xem đó như là một chân lí. Lại nữa, không có ai nhợt nhạt, ai cũng có cái lạ của

riêng mình. Điều này chưa thể khẳng định nhưng cũng không nên bác bỏ. Giống như tài năng, năng lực hay điểm sinh trưởng trong sinh học, cái lạ của người ta có thểcòn tiềm ẩn đâu đó, chưa bộc lộ, người khác chưa thấy. Như ông vé số “hai tỉ rưỡi”, có cái mũi rất thính, rất tuyệt vời. Trong thời đại xăng dầu bốc khói nghi ngút

như ngày nay, ông vẫn giữ được sự tinh tế của lỗ mũi, không phải lạ sao? Hay như người hàng xóm ở kế bên ông ta, một người đàn ông có dáng vẻ trí thức, mặc đồchải chuốt, thỉnh thoảng còn xức nước hoa, thiên hạ gọi vắn tắt là ông “dịch vụ tất cả”. Nên coi là thứ lạ. Người thứ ba khai thác mặt bằng ở đây là người đàn ông tiết

kiệm lời nói đến mức kì lạ. Ông ta sửa xe gắn máy. Trao đổi với khách hàng chỉ bằng dấu hiệu. Thí dụ, khách hỏi tiền vá xe bao nhiêu. Ông ta chỉ khẽ động đậy bàntay phải. Vậy là 5 ngàn! Người thứ tư dáng vẻ không có gì lạ, một người đàn ông tầm vóc chắc khoẻ của người quen với công việc nặng nhọc, nét mặt bình thường,

là chủ chiếc xe ba gác đạp và tấm biển hiệu “Dịch vụ chuyên chở mọi thứ và rút hầm cầu, sửa vòi nước”. Có điểm lạ rất dễ nhận thấy là nhu cầu nói chuyện của ôngta. Ông ta nói chuyện suốt ngày, nhiều khi tự nói, bất chấp có ai nghe hay không. Thật đại họa cho ai nếu vô ý tranh cãi với ông ta. Cho dù có nhận là thua, là kém lí

lẽ, là thất bại hoàn toàn, là dốt nát tàn mạt ông ta vẫn không buông tha.Thêm một điều lạ cho bốn người đàn ông ấy là họ đều sống độc thân, “Tay làm hàm nhai, tay quai hàm trễ”. Ông vé số “hai tỉ rưỡi” và ông ba gác chưa lấy vợ

lần nào. Còn ông “dịch vụ tất cả” và ông sửa xe Honđa đã có vợ. Trong số các đề tài ông ba gác hay nói tới nhất là chuyện vợ con. Ông trình bày vấn đề này mộtcách hào hứng và duyên dáng theo phong cách một chính khách vận động, thuyết phục quần chúng: “Vợ và con là một vấn đề, không thể tách rời được. Lấy vợ là để

có con, nuôi con khôn lớn trưởng thành. Con là cái gốc để lấy vợ. Một người không có khả năng sinh con, nuôi con tốt sao có thể là vợ được!”. ấy là ông ta giảithích về chuyện vì sao cho đến nay, đã qua tuổi 40 vẫn chưa có vợ. Nhưng hai tháng gần đây, quan điểm về vấn đề lấy vợ của ông chủ ba gác đạp đã có sự thay đổi

căn bản. Ông múa năm ngón phải, chuyển động cổ và vai cho thêm phần duyên dáng, hùng hồn tuyên bố: “Tình yêu mới là điều quyết định cho chuyện lấy vợ!”. Mắtông ngời sáng, thần sắc sung mãn như mới khám phá ra một điều vĩ đại. Chắc hẳn Niu-tơn khi tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn cũng hưng phấn đến mức ấy mà thôi.

“Thật đáng thương!” Ông “dịch vụ tất cả” lau kiếng mát nói trỏng. Tiếng nói của ông này trầm đục nhưng ấm áp, rất gợi cảm. Nên dù nói nhỏ, cũng được người tachú ý. “Ông nói gì? Ai đáng thương”. Ông chủ ba gác có ý gây sự. Họ thường xuyên cãi lộn nhau. Có buổi vắng khách, họ tranh cãi với nhau y như hai học giả, đa

ngôn đa sự tranh luận trong một cuộc hội thảo. Thường là chỉ nghe thấy tiếng ông ba gác. Ông “dịch vụ tất cả” nằm trên chiếc ghế bố thư thái điểm những ngón taylắng nghe những lời chỉ trích nặng nề của đối thủ như nghe dàn nhạc giao hưởng tấu khúc “Phiên chợ Ba Tư”. Rõ ràng tầm trí lực và kinh nghiệm đối nhân xử thế của

ông ta cao hơn ông chủ xe ba gác nhiều. Ông ta có cách thoát ra khỏi các cuộc cãi vã một cách tự nhiên và lịch sự.“Là chúng ta, những người đàn ông sống độc thân ở tuổi 40”. Như một tín đồ túc cầu giáo, một cổ động viên cuồng nhiệt cho đội bóng vừa nhảy cẫng lên mừng

rỡ khi bóng nằm trong lưới của đối phương, lại chết lặng, ỉu xìu khi thấy trọng tài không công nhận bàn thắng đó. Ông ba gác nằm dài lên chiếc xe của mình, hát vídầu, ầu ơ: “Trời mưa nước lớn, con cá lóc nó nhảy lên bờ/ Mùng ai có rộng, xin ngủ nhờ một đêm”. Một cái ốc cũ từ chỗ người sửa xe bay tới, chọi đúng vào chân

ông chủ xe ba gác. Ông này bật dậy, rít lên: Đứa nào? Nhìn thấy ông sửa xe, mắt trừng dữ dội với chiếc cờ-lê trong tay, ông chủ ba gác sượng sùng nói nhỏ: “Xinlỗi, tôi thật vô ý!” Ông vé số “hai tỉ rưỡi” châm lửa hút thuốc, dóng dả lên tiếng dạy dỗ: “Với người đoan trang, không được nói lời sàm sỡ!”.

Ông “dịch vụ tất cả”, vốn là người có năng lực dung hoà điều chỉnh mọi mối quan hệ, chuyên gia tháo gỡ ngòi nổ các cuộc tranh chấp địa bàn đủng đỉnh nói:“Dục tốc bất đạt” câu nói ấy đâu chỉ đúng trong mọi công việc, còn đúng cả trong lĩnh vực tình yêu. Phải thế không ạ!

- ừ! Đúng đấy, chí lí…Ba ông độc thân còn lại đều vui vẻ tán đồng…

Họ hăng hái dọn dẹp, phụ việc cho cô chủ xe nước giải khát, một phụ nữ với những đường nét cấu trúc hài hoà, dịu dàng đặc trưng của nhan sắc phương Đông ởđộ tuổi trên 20 dưới 30, một thần tượng về cái đẹp của phụ nữ đối với họ. Cũng như họ, cô chủ này từ nơi xa đến đây làm ăn. Cô bán nước ngọt, sữa đậu nành, cà

phê đá và thuốc lá. Không một ai biết cô ở đâu tới. 6 giờ sáng cô đẩy xe tới ép sát vào hàng rào toà biệt thự. Đúng 7 giờ tối cô đẩy xe về. Lặng lẽ như một bông hoatrôi trên dòng nước.

Từ khi cô đến đây, 4 ông chủ vỉa hè bỗng dưng thay đổi. Thay đổi thế nào, hết thảy đều nhìn thấy, hết thảy đều nhận ra. Thiên hạ bảo, các ông bị sét ái tình làmđảo lộn kinh mạch, bị người đẹp cảm hoá tâm can. Có người tư lự thốt lên: Người đẹp là ai, ai là người đẹp! Người đẹp trong thiên hạ từ thời xa xưa đến nay đã

được miêu tả nhiều rồi, đã được đúc thành tượng, vẽ tranh, quảng cáo trên tivi và ảnh bìa các tạp chí. Nói tới, nói lui, nói đi, nói lại, nói mãi, nhưng xem ra vẫn chưanói được bao nhiêu, vẫn còn thiếu nhiều, vẫn chưa đủ. Đã có sự thống nhất chung trong xã hội về tiêu chí, chuẩn mực của người đẹp, nhưng người ta không thể nào

làm được công việc định hình một khuôn mẫu người đẹp. Trong con mắt của bốn người đàn ông làm ăn nơi đây, cô gái này còn đẹp hơn cả hoa hậu thế giới, hơn cảthần vệ nữ , hơn cả Tây Thi bên Tàu. Nói vậy có vẻ hơi trìu tượng xa lạ. Bởi các ông nhà ta đâu có biết người thật của Hoa hậu thế giới, thần vệ nữ hay Tây Thi.

Nhưng các ông có sự so sánh với người đẹp đương thời thường xuất hiện nơi công chúng hay trên tivi, báo chí như ca sĩ X, người mẫu Y, hoa hậu Z… và đều cóchung một kết luận: Không thể bằng người đẹp của ta! Thiên hạ không tranh luận. Họ tỏ vẻ thông cảm, độ lượng. Các ông ở đây là con người của vỉa hè, đâu được

biết cái sang trọng tao nhã của những khách sạn lớn, càng không thể biết được cái đẹp của người đẹp lừng danh. Cũng bởi lẽ trong dân gian: Yêu nên tốt, ghét nênxấu. Thiếu gì người đàn ông coi bà vợ thấp tè, ngắn ngủn hay mắt lé, miệng hô của mình là người phụ nữ đẹp nhất. Yêu là thấy đẹp. Cái lí ấy luôn luôn tồn tại và mãi

mãi tồn tại. Song, như người ta thường nói, cái đẹp là một vũ trụ, một thế giới mênh mông không thể nắm bắt được. Cô gái bán nước giải khát dưới gốc bằng lăngđẹp như thế nào, hết thảy bốn ông đều không thể mô tả được. Họ không đem tiêu chuẩn số đo của các vòng, vóc dáng, làn da, nét mặt giọng nói để nói về cái đẹp ở

đây. Họ nói về đôi mắt và nụ cười của cô gái ấy. Một đôi mắt đen thẳm, buồn tĩnh lặng, xa xăm như trời cuối thu đầu đông. Nó gợi mở biết bao điều tâm sự về cáihữu hạn, về cái buồn truyền kiếp của con người. Đối lập với đôi mắt ấy là nụ cười trong trẻo, hồn hậu, dịu dàng như ánh bình minh xuyên qua những hạt sương mai

lấp lánh trên nhành lá non tơ.“Có cái mở đầu, có cái kết thúc, có bình minh, có chiều tà ở trên khuôn mặt ấy. Thật kì lạ!”.

Ông chủ “dịch vụ tất cả” đã cảm khái trữ tình và u uẩn kêu lên. Ông sửa xe thẫn thờ, ngơ ngác, làm đâu hỏng đó suốt cả một ngày, bị khách hàng mắng là ngucũng không có phản ứng gì. Ông chủ xe ba gác như bị thôi miên, chăm chắm nhìn theo cô chủ quán, nhưng lại nghe thấy tiếng chim ríu rít trên ngọn cây cao. Còn ông

vé số uống một lèo hết hai li cà phê đá vẫn thấy như chưa uống gì, bỗng nhiên phát hiện ra mùi hương của hoa lan đâu đó, của hoa dạ hương, hoa sữa đêm qua cònđọng lại.

ấy là yêu, là cảm sâu, cảm xa, phải lòng phải dạ đến tâm can mất rồi. Cả bốn ông đều chăm chú theo dõi, lắng nghe một cách hồi hộp mọi thể hiện từ phía côphát ra. Họ đã trở thành những người làm công tự nguyện cho cô gái. Bưng bê nước giải khát cho khách chờ xe buýt, cho khách qua đường, rồi rửa li, lau chùi đồ

đạc, thu tiền, thối lại… họ đều tranh nhau làm. Các ông giải quyết công việc làm ăn của mình hết sức lạ lùng nhanh chóng. Nhiều khi còn bỏ việc không làm để phụgiúp cô gái. Thu nhập của các ông xem ra bị giảm sút. Nhưng các ông chẳng thấy buồn phiền lo lắng… Lúc nào cũng hồn hậu vui tươi. Các ông gần gũi, ân cần nhiều

hơn với cô gái. Đôi lúc nói xấu lẫn nhau, chê người này là kém phong độ, người kia là xảo quyệt không thể tin được, người này là ngớ ngẩn kém hiểu biết, người nọ làthô bạo cộc cằn. Cạnh tranh trong tình trường cũng giống như cạnh tranh trên thương trường, nhưng cái phần quyết liệt sâu xa, ở tình trường chắc chắn hơn hẳn

thô bạo cộc cằn. Cạnh tranh trong tình trường cũng giống như cạnh tranh trên thương trường, nhưng cái phần quyết liệt sâu xa, ở tình trường chắc chắn hơn hẳnthương trường. Ai cũng hiểu, trong cuộc chinh phục tình yêu phải nắm lấy những lợi thế tối thiểu, “Nhất cự li, nhì tốc độ”. Các ông đã nhanh chóng tận dụng lợi thế cự

ly. Ngày trước, các bảng hiệu rải xa nhau, bây giờ dồn cục lại, kế bên xe nước giải khát. Ngày nào ông chủ “dịch vụ tất cả” cũng uống hai li sữa đậu nành, ông vé sốhai li cà phê đá, ông sửa xe và ông ba gác mỗi ông hai chai nước ngọt. Ông nói, ông im lặng, ông nhìn xa, ông nhìn gần… dù gần xa tới đâu, nói huyên thuyên tới mức

nào cũng quy về một mối. Các ông như những vệ tinh bay xung quanh cô theo một quỹ đạo. Cô gái luôn nhìn và mỉm cười với các ông. Cái nhìn và nụ cười ấy dườngnhư chứa đựng trở lại thời gian 20 năm về trước. Các ông yêu với mối tình đầu tiên…

“Thật không thể ngờ nổi!”. Các ông đã hơn một lần đồng thanh thốt lên. Cho dù chất giọng, âm lượng khác nhau nhưng đều có chung một tâm trạng. Ngỡ ngàngvới chính mình. Một sự thay đổi. Một nguồn sinh lực mới. Như người chờ tàu đêm, ngủ gà ngủ gật trên băng ghế, thấy tiếng còi tàu từ xa. Ông “dịch vụ tất cả” vươn

vai, vặn lưng, thực hiện một số động tác thể dục cơ bản. Điều chưa hề có ở nhiều năm nay. Những chuyện đã qua đã trở thành chuyện xa xưa, xa lắc, xa lơ. Ông vésố “hai tỉ rưỡi” hướng nhìn lên cao, một tầm nhìn mới có trong đời ông. Ông thấy một đám mây sáng láng lan toả. Con người ra đời trong nhà ổ chuột, lớn lên cùng

bọn lưu manh, giựt dọc khắp nơi. Năm năm sống trong trại giam, những tưởng cuộc sống chỉ tồn tại trong li cà phê đá mơ ước có một buổi chiều dắt con đến sânThống Nhất xem đá bóng.

Ông sửa xe thở dài nói thêm: “Kì thiệt!”. ấy là ông nói về cảm nhận cuộc sống. Không dưng ông lại nói tới cái hay, cái đẹp của đời người. Ông không còn bịnhững cơn đau do thù hận hành hạ. Ngày trước, ông là một kế toán trưởng đem thân hứng đạn cho người bạn giám đốc của mình, nhận hết tội lỗi, chấp nhận án tù 6

năm, những tưởng “nghĩa khí” của mình được bạn tri ân, được vợ nể trọng. Ai ngờ, mãn hạn tù trở về nhà lại phải chứng kiến vợ gian dâm với người bạn mà mình đãliều thân che chở. Ông hận cả thần chết, sao không để ông chìm sâu xuống đáy rạch, lại xúi người vớt lên để ông phải sống, phải chấp nhận nỗi đau đớn rứt rỉa từng

giờ từng ngày. Ông đã khỏi đau, không phải là kì lạ sao. Ông ba gác cao giọng hát bài “Tình ca”, bài hát tủ một thời “Khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh.Khi anh xa em, đời vẫn xanh vời vợi…”. Con người lắm mơ, nhiều ước, từng mong muốn trở thành siêu sao bóng đá, ca nhạc lăn lóc trong đoàn hát, đoàn làm phim,

kiệt sức vì sự đam mê, những tưởng cuộc đời chỉ còn lại một khúc đơn điệu nhàm chán “Con kiến mà leo cành đa/ Leo phải cành cụt leo ra leo vào” đã thấy ấm lạimột mơ ước bình dị. Ông mơ ước có được một cô con gái để dạy nó tiếng gọi ba, gọi mẹ và ru “Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi…”

Dường như cả bốn con người gặp nhiều thất bại, khổ đau ấy đều có chung một ý nghĩ, có chung một thái độ với cô gái. Họ rất trân trọng và ra sức bảo vệ giữ gìntình yêu của mình đối với cô gái. Không một ai có sơ suất làm tổn thương tới cô. Giữa họ, có một thoả ước ngầm: Chỉ cần được thấy đôi mắt và nụ cười của cô là

mãn nguyện rồi. Thời gian qua đi, hết mưa đến khô. Rồi những ngày cuối năm đã đến. Không một ai tiến thêm bước nào cả. Tất cả vẫn ở vị trí ban đầu.Một ngày nọ, hoa bằng lăng bắt đầu lác đác rơi. Cảnh sát giao thông đến dọn dẹp vỉa hè, thu gom toàn bộ đồ nghề của họ, cả chiếc xe đẩy bán nước giải khát

của cô gái. Một cuộc tranh cãi quyết liệt nổ ra giữa cảnh sát thi hành công vụ với các ông chủ chiếm dụng lề đường. Ông chủ xe ba gác như mọi khi, “nổ” từ đầu đếncuối, nói lí, nói tình, sùi cả bọt mép. Ông chủ “dịch vụ tất cả” nói năng điềm tĩnh, mạch lạc. Ông vé số và ông sửa xe trước sau chỉ nói gọn một câu: “Lề đường sạch

đẹp, tốt rồi! Nhưng phải để cho người ta sống lương thiện chứ!”.Cảnh sát ngạc nhiên hỏi: Các ông là gì của chị này?

Ông “dịch vụ tất cả” thản nhiên bảo: Có thể coi là đồng hương, đồng nghiệp!Các ông không đấu tranh cho các ông. Các ông đấu tranh cho sự tồn tại của chiếc xe đẩy bán nước giải khát của cô gái. Họ chấp nhận thôi không làm ăn nơi đó

nữa, sẽ chuyển nghề, sẽ đi làm ăn ở nơi khác nhưng nhất quyết bắt công an phải chấp nhận để cô gái tiếp tục bán nước giải khát ở đó.“Nếu bị xua đuổi cuộc sống của cô gái ấy sẽ ra sao!”.

Mắt của những người đàn ông vỉa hè đỏ hoe và ngấn nước. Những cảnh sát có mặt ở đó lặng đi… Những ngày sau, người ta thấy dưới gốc bằng lăng không cònnhững biển hiệu, không thấy bốn ông chủ ấy nữa. Cô gái vẫn bán nước giải khát. Sáng 6 giờ cô đẩy xe tới, áp sát vào hàng rào nhà biệt thự. Tối 7 giờ cô đẩy xe về,

lặng lẽ như một bông hoa trôi trên dòng nước.Rồi thời gian lại qua đi. Toà cao ốc đã xây xong, lừng lững và rực rỡ một góc trời. Con đường lớn vẫn cuồn cuộn người xe đi lại. Và nơi vỉa hè ngã tư ấy không

còn chiếc xe đẩy bán nước giải khát và cô gái. Không ai biết cô ấy sinh sống ở đâu. Có người nói: Chắc cô ấy lấy chồng, lấy một ông nào đó trong số bốn ông chủvỉa hè ngày trước…

Cũng chỉ là suy đoán thôi! Sự thật không ai biết cả. Những cánh hoa bằng lăng tím lịm thong thả rơi. Đâu đó mùi hoa lan, hoa dạ hương, hoa sữa lan toả mênhmang…

(Báo Văn nghệ)

Trăng nơi đáy giếng

“Tôi xin mình. Mình dẹp giùm tôi mấy cái bàn thờ này đi. Chuyện mê tín dị đoan, đâu hay ho gì”.Giọng thầy Phương vẫn từ tốn như thường lệ, nhưng đôi bàn tayliên tục gõ xuống bàn chứng tỏ tâm trạng thầy đang bức xúc.

Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn: Người đàn ông này đã là người cô thương yêu, tôn thờ cho đến nửa đời người. Trước đây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh đối vớicô, vậy mà nay cô phải trái ý ông. ý nghĩ đó làm cô rơm rớm nước mắt.

Hơn mười mấy năm, họ đã sống chung nơi căn hộ bé nhỏ này. Mỗi sáng, người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng. Những hômmưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu. Thầy Phương người nho nhã, mảnh mai, trắng trẻo.

Vốn là con nhà dòng dõi, lại được cưng từ nhỏ nên thầy kén ăn, phải chăm từng li từng tí.Nói là kén ăn, không phải là thầy đòi hỏi cao lương mĩ vị, mà chỉ cần những thứ đơn giản thôi, nhưng phải biết ý mới chiều được. Bữa ăn không cần thịt cá, đôi

khi chỉ cần đĩa bông bí chấm nước tôm kho đánh, nhưng nước tôm phải thật sánh, thật thơm, đỏ rực. Thịt bò thì nhất định phải nấu canh với hoa thiên lí, tô canh dìudịu mùi hương ngọt ngào. Đêm khuya ngồi đọc sách, chỉ cần ăn củ khoai bồi dưỡng, nhưng khoai phải ngọt, dẻo, hấp với lá dứa. Chiều thì vài lóng mía tiện thật sạch

sẽ, ửng màu đỏ cầm rượu.Căn nhà nhỏ, không có đồ đạc gì xa hoa, nhưng sạch như lau như li. Tính thầy Phương rất sợ bẩn. Trong bếp, phòng tắm, những cái chậu đủ màu được cô Hạnh

đặt đúng vị trí của chúng, tất cả đều khô ráo, sạch sẽ. Cái chậu rửa mặt không lẫn với chậu tắm, cái chậu giặt áo không lẫn với chậu giặt quần. Giặt giũ phơi phóngxong, cô Hạnh phải tháo dây ngay, vì thầy Phương không bao giờ đi qua dưới dây phơi, cho dù quần áo đã cất hết.

“Ôi dào, thời buổi bây giờ mà sao ông ấy còn tinh tươm quá, này, coi chừng chứ… chậm con là vì quá sạch đấy”. Các bà hàng xóm đùa. Trong khu tập thể này,các bà đều là cán bộ, việc cơ quan, việc nhà cứ ùn lên, ai cũng bết bát, chẳng có thời giờ mà chiều chồng. Các ông chồng trong xóm nào là chẻ củi, đi chợ, đón con,

chẳng từ một việc gì, chỉ riêng thầy Phương được hưởng ngoại lệ. Thực ra, đâu có phải vì thế mà hơn mười năm không có con. Cô Hạnh biết thừa điều đó nên nghengười ta đùa, cô chỉ cười…

người ta đùa, cô chỉ cười…ở đầu ngõ, ngay cổng vào khu tập thể là nhà bà Thu, thư kí Công đoàn trường Thuận Đạt. Ngày ấy, bà Thu đã hội ý xong với Ban chấp hành Công đoàn trường

và quyết định đến thăm chính thức cô Hạnh. Vì lí do tế nhị của cuộc viếng thăm, bà đã cẩn thận chờ cho đến lúc thầy Phương đạp xe ra khỏi nhà được hơn hai mươiphút.

“Vì trách nhiệm, tôi buộc lòng phải thông báo cho chị Hạnh biết. Người ta đồn anh Phương có vợ nhỏ, Công đoàn và Đảng uỷ đã tiến hành kiểm tra, thật đángtiếc, việc này hoàn toàn chính xác”.

Cô Hạnh nghe, ngồi nhìn thẳng vào mắt bà Thu, không tỏ vẻ ngạc nhiên. Trái lại, bà Thu kinh ngạc đến hụt hẫng trước vẻ bình thản của người vợ bất hạnh: Bà cứtưởng cô Hạnh sẽ ngất đi, hoặc ít ra cũng níu lấy bà mà hỏi vặn đủ điều. Nhưng không, cô cứ lặng lẽ, dịu dàng, dường như cố nén nỗi khó chịu vì bị quấy rầy!

Chờ mãi không nghe nói gì, bà Thu phát cáu: “Chuyện đến thế, chị tính sao? Chị phải có thái độ đi chứ? Hay chị là Phật đất?”.Cô Hạnh thở dài:

- Hoàn cảnh em không có con, dù anh ấy có thế, em cũng chẳng oán trách.- Nói thế, nghĩa là chị đã biết anh ấy phản bội chị mà cố tình giấu giếm tổ chức?

“Anh ấy không phản bội tôi” - Cô Hạnh ngẩng phắt lên. Vâng, dù rằng ông Phương đã có một người đàn bà khác, có một đứa con không do cô sinh ra, ông vẫnlà vị Thánh sống đối với cô. Cô không cho phép ai nặng lời khi nói về ông ấy. Bởi tất cả những chuyện này là do cô: Cô đã tự tay sắp đặt, chỉ vì không chịu nổi vẻ

buồn thầm lặng trên khuôn mặt ông.“Không phải dễ dàng mà thuyết phục được anh ấy - Bởi vì anh ấy quá thương tôi. Hơn nữa, là người có chức trách, anh không dám. Tôi phải năn nỉ, ép uổng,

hứa giữ bí mật cho anh ấy…”.Bà Thu cau mày: “Sao chị lại làm thế? Chị có biết như vậy là phong kiến cổ hủ không? Chính chị đã đẩy anh ấy vào con đường hủ hoá!”.

Cô Hạnh khóc: “Vâng. Có thể là như vậy, nhưng lúc ấy tôi không nghĩ gì hết. Tôi chỉ muốn anh ấy sung sướng”. Vâng, khi người ta thực lòng thương yêu nhau,có điều gì mà không thể hi sinh. Một cô gái quê bỗng chốc được cô Hạnh chăm lo từng li từng tí: Từng chục trứng gà, từng chai mật ong được chuyển về làng để tẩm

bổ cái thai mới thành hình. Rồi đến ngày cô được đền bù: Đứa con trai ra đời, cô Hạnh bế lấy nó, đỏ hỏn trong lớp tã. Ông phương quàng vai cô, vỗ về: “Con củaem đó”. Nghe chồng nói, cô ứa nước mắt vì sung sướng…

Nhưng giờ đây, ngồi trước mặt bà Thu, cô mới thấy chuyện đời không đơn giản. Sắp đến kì bầu tín nhiệm hiệu trưởng rồi… Ông Phương bảo:- Chức hiệu trưởng là cái gì… Bỏ, bỏ hết. Với tôi, chỉ cần mình vui lòng. Tôi chấp nhận mất tất cả.

Ông nói thế, nhưng rồi không giấu được vẻ buồn. Lại cái vẻ buồn thầm lặng làm xót lòng cô. Cả đời ông sống nghiêm túc, không để ai nói tiếng nặng tiếng nhẹbao giờ. Giờ đây, tưởng tượng tới khuôn mặt những người lâu nay vẫn đố kị với ông… Họ sẽ hả hê biết bao trước cái tội lỗi rành rành của vị Thủ trưởng đáng kính.

Họ sẽ rung đùi, cười khẩy chờ ông đứng lên nhận tội… Để rồi khoái trá xúm lại tố khổ ông, như bầy sói túm lại xé con mồi…Quả thật, cái tin “Ông Phương hai vợ” vừa được tung ra, đã có vài ba người rắp ranh ngắm nghé cái ghế ông đang ngồi. Cuộc bầu tín nhiệm được tổ chức vào

đầu tháng ba, được dự kiến như là ngày chôn vùi luôn sự nghiệp của ông hiệu trưởng nổi tiếng quản lí giỏi, đã đưa trường Thuận Đạt thành một trường tiên tiến dẫnđầu tỉnh trong hơn năm năm. Người ta chờ ông Phương đứng dậy rút lui và tự kiểm điểm, nhưng sao lâu quá chẳng thấy động tĩnh gì… Sốt ruột quá, một vị đứng dậy

cắt ngang lời ông Phương khi ông đang còn trình bày “chương trình hoạt động” mà ông dự kiến sẽ thực hành trong thời gian tới:- Chuyện năng lực của anh Phương thì có gì phải bàn nữa, dài dòng làm chi mất thời gian. Chỉ có điều, dư luận đang râm ran chuyện gia đình anh, anh em tui rất

hoang mang. Vì, lãnh đạo thì không chỉ có tài mà phải có đức…Ông Phương không nói, chỉ lặng yên bình thản nhìn kẻ địch thủ đang hân hoan, đắc thắng đó xẹp xuống, nhăn nhúm lại như một quả bóng xì thất vọng. Bởi vì cô

Hạnh đã đứng dậy đưa ra trước Hội đồng tờ giấy chứng nhận li hôn giữa cô và ông Phương cùng tờ giấy đăng kí kết hôn giữa ông Phương với vợ mới. Lúc đó cả hộitrường mới biết rằng, trên pháp luật, ông Phương chẳng có lỗi gì… Nghĩa là cái chức hiệu trưởng của ông, lấy búa tạ mà nện cũng không thể nào rung rinh nổi.

Không rung rinh nổi, nhưng người ta vẫn cứ tìm cách nện. Lòng người đầy ham muốn, đâu có buông tha cho ông Phương qua ải một cách dễ dàng như thế. Vìvậy, trọn năm sau, ông Phương quả là lao tâm khổ tứ, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.

Lại một lần nữa, bà Thu phải đến thăm riêng cô Hạnh.- Khổ thân chị, tôi tìm mọi cách trấn an dư luận để bảo vệ chị, nhưng mà người ta không thể thông cảm như tôi. Nói chị đừng buồn, hoàn cảnh chị rất gay. Chị

đã phạm pháp mà không biết: Sống chung như vợ chồng với chồng của người khác!Cô Hạnh sững sờ. Giờ đây ông Phương có còn là chồng của cô nữa đâu? Cô nhìn thằng bé đang thiêm thiếp ngủ trong tay, run rẩy. Cô biết, người ta đang lôi

tuột ông ra khỏi tay cô. Cô sẽ phải xa ông, bất giác cô ôm chặt lấy cu Nhứt, như cố níu giữ cái phiên bản của người đàn ông mà cô tôn thờ…*

Lại một lần nữa, tôi phải năn nỉ anh. Tôi không đành lòng thấy anh cứ gầy rộc đi, mắt trõm lơ, râu mọc xanh cả cằm. “Quân tử ứ hự đã đau/ Tiểu nhân dùi đụcđập đầu như không”. Anh vẫn thường nói thế. Con người anh tinh tế, tự trọng, chịu sao nổi bao nhiêu lời ong tiếng ve. Đành lòng dốc hết tiền của góp nhóp trong

mười mấy năm mua một căn nhà ở ngoại ô cho anh ấy đưa cô Thắm lên. Lúc ấy, Thắm lại đang có thai. Thương tôi, anh không chịu rời đi, tôi phải cắn răng làmmặtgiận, cấm lửa nhịn đói suốt mấy ngày…

Anh đi rồi, căn nhà trống đến khủng khiếp. Đi làm về, tiếng mở cửa tiếng bước chân tôi cứ vang lên lạnh lẽo như từ thế giới nào. Vào đến gian bếp, nhìn thấy

chiếc may ô của anh còn sót lại trên dây phơi, tôi sụp xuống, nức nở khóc…Thỉnh thoảng anh cũng về thăm tôi. Nhưng anh về một chút rồi lại đi. Tôi không dám trách. Sắp đến đại hội chi bộ, phải giữ gìn. Anh có muốn nấn ná tôi cũng

giục anh đi cho được. Anh bảo: “Mình đừng buồn. Tôi nói với mình đinh ninh từ khi chưa li hôn. Nay cũng thế, tôi ở bên ấy nhưng thực ra chỉ có mình mới là vợ củatôi”. Tôi nghe, chỉ biết khóc. Vợ chồng mà gặp nhau lén lút như thế này, cái số tôi sao mà trớ trêu? Có hôm bị bệnh nằm một mình không dám nhắn chồng, tôi đành

nhắn người mời bà đồng Thơi đến chích lễ giải cảm. Bà Thơi vừa nặn máu cho tôi vừa bảo: “Khí đen tụ ở giữa hai chân mày. Cái uất nén trong lòng mà thành bệnh”.Tôi lắc đầu: “Tôi không uất, không phiền. Chỉ vì mệt mỏi quá”. Cô Thơi sửa lại áo khăn thắp nén hương giữa trời. Hôm ấy rằm, trăng sáng. Cô Thơi niệm khấn rồi

cầm chén nước trong bảo tôi uống. “Để tôi xin cho chị một quẻ Thánh”. Cô Thơi xủ quẻ rồi nói: “Quẻ của chị là quẻ lộng giả thành chân. Đêm trăng nơi đáy giếng,thấy bóng chẳng thấy hình. Cứ theo quẻ này giả hoá thực, thực hoá giả, giả thực thực giả khó lường”. Tôi cũng không tin mấy, chỉ cảm thấy dễ chịu vì có người quan

tâm. “Việc gì thực hay giả, mà giả thực liên quan gì đến bệnh cảm của tôi?”. Cô Thơi nghiêng đầu như làm duyên, cặp môi son hé cười: “Lời Thánh sâu sa, nhiều khiđến việc mới hiểu”.

Đại hội Chi bộ đã qua, anh lại được tín nhiệm cao. Tôi mừng. Tôi nhắn Thắm săn sóc anh cho chu đáo. Không có ai khó chăm như anh. Cái gì cũng phải sạch,phải tinh tươm. áo quần gấp xong nhớ đặt vào tủ, ngay ngắn, bộ nào sắp mặc thì đặt ở cuối giường chứ đừng đặt đầu giường. Chỗ anh ấy ngồi viết thì phải tinh tấn,

ngăn nắp, đừng qua lại nhiều làm phiền anh. Tôi dặn gì, Thắm cũng nhất nhất vâng dạ. Thấy Thắm ngoan, tôi mừng.Tết đến, tôi lo mua nếp gói bánh. Năm nay nhà đông phải gói nhiều. Đang loay hoay tìm mua lá dong, chợt nghe nói bà Thu sắp có dịp về quê, tôi lật đật sang

nhờ bà ấy mua giúp. Vào đến cửa, tôi chững lại khi nghe tiếng anh Phương, rồi tiếng Thắm. Một giỏ quà, ý chừng đồ đi tết, đang nằm trên ghế. Bà Thu cười: “Khôngcó tôi thì anh chị còn mỗi người một nơi đến bao giờ? Nhưng mà nói vậy chứ không nhận quà này đâu nhé. Bày vẽ làm gì, cái tình với nhau là chính”. “ấy, chút quà

có tôi thì anh chị còn mỗi người một nơi đến bao giờ? Nhưng mà nói vậy chứ không nhận quà này đâu nhé. Bày vẽ làm gì, cái tình với nhau là chính”. “ấy, chút quàxin chị nhận cho, của thảo lòng thành”. Tôi rụng rời, không nhận ra được giọng của cô gái quê thơ ngây chất phác sáu năm về trước… Bà Thu ngọt ngào: “Cái cô

Thắm này khéo thật, chả trách bà Hạnh cất công tìm tòi chọn lựa mãi”. Tiếng Thắm cười “Chị ấy tưởng thế thôi chứ thực ra trước khi bà thím giới thiệu với chị thì anhPhương đã gặp em mấy lần khi về quê ăn giỗ”. “Quả là chồng khéo vợ khéo, trách gì chẳng thành đôi”. Họ cười, tiếng cười vui vẻ râm ran trong đêm yên ả…

Tôi rút lui, suýt ngã khi xuống thềm. Rồi cứ đi trong đêm như người ngây, mãi đến lúc bước vào một ngôi nhà, ngửi thấy mùi nhang trong không gian, và nhận ramình không hiểu từ lúc nào đã đến nhà cô đồng Thơi. Tôi ngồi sụp xuống nền nhà mà khóc, nhớ lại lời cô nói với tôi đêm trăng hôm nào. “Nín đi em. Em giỏi nín đi.

Rồi cô soi cho, cho thấy hết tiền oan nghiệp chướng”. Cô Thơi dỗ tôi như dỗ trẻ con. Mãi thấy tôi cứ tỉ tê khóc, cô nạt: “Sao lại khóc? Mất gì đâu mà khóc. Cáimất, thực ra đã mất từ lâu rồi. Chừ còn ôm huyễn mộng mà kêu trời như con đười ươi ôm cái ống tre rỗng mà cười một mình giữa núi”. Lời cô Thơi làm tôi tỉnh ra.

“Tôi sai rồi, còn oán ai. Người ta là vợ chồng, đã có con cái. Còn tôi… tôi chỉ là một vật thừa…” Cô Thơi hứ một tiếng, đỏng đảnh: “Đã thương thì thương cho trót,đã vót thì vót cho tròn. Đã giữ thì giữ riết luôn, đã cho thì cho đứt”. Tôi bỗng ngượng ngùng, không khóc được nữa. ừ, đã cho thì cho đứt luôn, sao tôi đã nói hi sinh

mà còn tiếc nuối. Nhưng là người có máu có thịt, làm sao bỗng chốc cắt lìa? Tôi đau có phải Thánh mà một phút dứt bỏ nửa cuộc đời.. Không, không phải nửa cuộcđời, anh là cả cuộc đời tôi…

Tết năm ấy, tôi sốt li bì, suốt ba tuần rụng gần nửa đầu tóc.Chiều mồng ba Tết, mở mắt ra, thấy anh Phương và Thắm ngồi trước giường. Tôi thở dài, se thắt. Tôi mong gặp một mình anh, một lần. Để tôi mơ ước được

mạnh trở lại, được để dành cho anh cái thau sạch, cái khăn sạch, lựa cho anh củ khoai thật bùi thơm ăn khuya, đọc sách. Nhưng anh không dám đến đây mộtmình… Tôi ứa nước mắt nhìn hai vợ chồng - Vâng, họ mới là hai vợ chồng. “Tôi hiểu cả rồi. Hai người không phải lo cho tôi. Cho thằng cu sang đây với tôi là đủ. Có

nó là tôi sống được”. Thắm giặt khăn lau mặt cho tôi. “Em thương chị lắm”. Tôi lặng lẽ. Anh Phương không nói gì, cũng chẳng dám tỏ thái độ gì. Tôi cố bình thản chenỗi xót xa. Tôi mất anh rồi, sự thực đã như thế từ lâu mà giờ này tôi mới bẽ bàng nhận ra…

Tháng sau, Thắm sinh con thứ hai, lần này là con gái. Cu Nhứt về ở với tôi, thằng bé bồng theo một con chó con. Căn nhà tưng bừng lên vì tiếng trẻ con cười,tiếng chó gâu ăng ẳng. Tôi như người sống lại. Thằng bé gọi tôi là mẹ Cả. Tiếng gọi thật ngọt ngào. Tôi rất muốn thằng bé gọi tôi chỉ là “Mẹ” thôi. “Như thế thì cu lầm

với mẹ hai. Ba bảo cu: “Mẹ cả, mẹ hai, hai mẹ đều là mẹ cả, mà!” Tôi bật cười. Cu Nhứt thông minh y như ba nó. Cái mắt sáng, cái da trắng, cái chân mày nétngang, tất cả đều là của anh. Mặc thằng bé gọi tôi là gì đi nữa, nó vẫn là con tôi. Tôi lại trồng khoai, lại nuôi gà. Lại để dành từng quả trứng. Thằng bé ăn, tôi thấy

ngon. Đêm nó ngủ dụi đầu vào lòng tôi. Tôi đã có con, tạ ơn trời, giờ đây tôi không cần gì hơn nữa… Lại tháng Chạp, tôi đến cô Thơi xin cho cu Nhứt cái bùa đeo cổ để đeo đi chơi tết. Cô Thơi mới tạc pho tượng ông hoàng đứng trên mây, vừa rước lên bàn,

thắp nhang xong thì quay ra thấy tôi. Đưa bùa cho tôi xong, cô bấm quẻ dịch rồi bảo:- Chiều lòng chị thì rước cho chị, chứ chị xin nhằm giờ không vong, vật tuy có nhưng mà vô dụng!

Tôi băn khoăn về nhà. Ngày xưa, anh Phương thường trách tôi mê xem bói. Anh không biết đó là chỗ dựa tinh thần của những người đàn bà hay bối rối nhưtôi… Đến cửa, tôi giật mình khi thấy Thắm. Cu Nhứt quấn lấy mẹ đẻ, cười rúc rích. Thắm khẽ khàng thưa gửi:

- Trình chị, em đã cai bú cho bé, nay xin chị cho cu Nhứt về ăn Tết với em.Tôi khựng lại, đau đớn. Một lát sau tôi đeo cái bùa vào cổ cho cu Nhứt. “Đeo cho em kẻo đi đường gió máy. Mà ăn tết xong mồng mấy mới cho em về?”.

Thắm không nói gì, chỉ nhìn tôi, một cái nhìn khó hiểu.Thằng bé đi rồi, còn lại con chó con luẩn quẩn với tôi. Đã một năm, giờ nó đã choai choai, láng mượt. Cu Nhứt dặn: “Mẹ cả nuôi cẩn thận cho cu”. Bao nhiêu

thứ dành cho thằng bé, giờ xẻ hơn nửa cho nó. Thui thủi vào ra, chỉ có nó và tôi.Từng ngày, tôi chờ con trở về, càng ngày càng trông càng ngóng. nhiều hôm, nghe tiếng thằng Tèo nhà bên cạnh gọi “Mẹ ơi!” giọng trẻ con sao mà giống nhau,

tưởng con về, đang làm gì tôi cũng vứt hết chạy ra. Chỉ thấy sân hiên vắng lặng, không một bóng người…Rằm tháng Giêng. Con chó đột nhiên bỏ đi đâu mất. Tôi tìm ngất ngơ quanh xóm chẳng thấy. Lòng cồn cào lại càng nhớ, càng thương cu Nhứt. Góp được một

chục trứng gà, tôi lững thững đạp xe đi thăm con. Lâu lắm mới đến nhà mới, tôi ngạc nhiên vì nó lạ hẳn so với cái thời hai vợ chồng đến mua. Cây cỏ mọc xanh trongsân, một mái hiên rộng được cơi thêm ra, thoáng mát. Tôi từ từ bước, phân vân như đi vào ngôi nhà lạ.

Cu Nhứt đang chơi ở hiên sau. Vừa đùa với quả bóng, thằng bé vừa hát. “Trên trời cao có muôn ngàn ánh sao… Nhưng mặt trời chỉ có một mà thôi. Và mẹ emchỉ có một trên đời…”. Thấy tôi, thằng bé reo lên, chạy ùa vào lòng tôi… Nhưng bỗng nó khựng lại, đưa mắt nhìn vào trong, rồi cầm tay tôi, thỏ thẻ: “Mẹ Thắm bảo

con, thời này mà còn mẹ cả mẹ hai, nghe cổ hủ lắm. Vậy con gọi bằng gì?” Tôi ôm cái đầu nhỏ bé vào lòng, chỗ có trái tim phập phồng đau đớn. “Thôi thì… Conhãy gọi bằng bác… bác tệ quá, hôm qua đã làm mất con chó cún của con”. “ồ, không mất, bác ơi, nó đây này!”. Con cún từ sau vườn chạy tới, nhảy lon ton, vẫy

đuôi rối rít. Ôi, cả con chó cũng bỏ tôi tìm về đây mất rồi!Bàng hoàng, tôi đứng dậy, bước đi. Rồi bỗng quay lui, tôi dạo một vòng sau nhà, như muốn nhìn tận mắt cái thế giới đang hút về tất cả những gì yêu quí nhất của

một đời tôi…Sau sân, anh Phương ngồi bên vòi nước, đang lúi húi giặt một đống áo quần đủ loại, đánh đánh chà chà trên sân xi măng. Chưa bao giờ thấy anh trong tư thế như

vậy nên tôi sững sờ, ngẩn cả người không sao nói một lời. Không hiểu sao đã chịu đựng bao nhiêu điều nặng nề, mà giờ đây tôi lại không kham nổi cái cảnh tượng hếtsức bình thường thế này? Thắm đang ngồi dỗ con, thấy tôi vào chỉ cười, hất hàm về phía đức ông chồng: “Làm trai, học sẩy học sàng. Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn”.

Tôi ngẩn ngơ như người mất hồn, lẩn thẩn nói: “Ngày trước ở với tôi, anh ấy chẳng phải động tay tới việc gì. Tôi đi vắng mà trời mưa, anh ấy cũng chỉ lôi giùm tôi cáiáo trên dây phơi, chứ cái quần cũng để mặc không hề đụng đến”. Thắm khủng khỉnh: “Em thấy chị ở cũng sạch chứ đâu có bẩn. Mà người quân tử có sợ bẩn thì

dùng khoèo mà khoèo, rồi dùng xà phòng mà rửa khoèo cũng được chứ sao?”. Tôi cảm thấy như có quả đấm giáng vào giữa mặt, lảo đảo, trời đất chung quanh tốisầm. Cố gắng về đến nhà, tôi lăn ra mà khóc, khóc thảm thiết. Láng giềng nghe tiếng hờ trời hờ đất chạy sang hỏi: “Ai chết thế?”. Tôi không nói được gì, không nghĩ

được gì, trong tâm trí chỉ có mỗi một hình ảnh: Thần tượng của tôi, vị thánh sống của tôi ngồi chò hỏ giặt đồ bên bể nước. Những bọt trắng xà phòng bay, bay tấptới, nhận chìm tôi, tức tưởi, mê man…

Lại một lần nữa tôi ốm nặng, tóc rụng lả tả trên gối, nhưng không báo với ai để khỏi ai bận lòng.Đấy là chuyện đời chồng trước của tôi…

*Người trong xóm cứ tưởng cô Hạnh phen này chết vì đã mấy lần cô bắt chuồn chuồn, cấm khẩu. Họ ngạc nhiên khi thấy cô không thuốc men gì mà lại đi đứng

như thường. Cô xin về hưu non, cuốc đất làm vườn, lại sống cái đời cần cù và đạm bạc như thuở nào. Sáng sáng, họ lại thấy cô mua bún bò bưng vào ngược conngõ, những bữa trời mưa lâm thâm cô kéo chiếc nón che tô bún, quên cả che đầu.

Rồi trước hiên nhà lại xuất hiện những cái áo nho nhỏ màu đỏ, màu xanh phơi trên dây. Ai đi ngang hỏi, cô cười hiền lành: “áo thằng cu. May cho cu mặc tết”.Nếu ai tò mò đi theo cô vào căn nhà vắng lặng, có thể thấy ngay giữa nhà là một bàn thờ đồ sộ mà cô gia công trang hoàng như một cung điện rực rỡ vàng son.

Giữa bàn thờ là tượng một người đàn ông đẹp đẽ phương phi, tay cầm kiếm, chân đạp lên mấy tầng mây. Có hỏi thì cô thì thầm: “Ông Hoàng Bảy, trấn thủ tỉnh ThừaThiên”.

Rằm mồng một, cô chất hương hoa đầy thánh điện của cô, rồi ra nhà bà đồng Thơi lễ bái. Nghe đâu bà đồng Thơi bảo rằng số cô Hạnh không theo ông Phươngđược trọn đời vì người âm ưng, mà người âm này vai vế lớn lắm, con thứ bảy của Đức Mẫu, quyền sinh sát cả một giang sơn. Lâu nay, ông với cô Hạnh đã được

được trọn đời vì người âm ưng, mà người âm này vai vế lớn lắm, con thứ bảy của Đức Mẫu, quyền sinh sát cả một giang sơn. Lâu nay, ông với cô Hạnh đã đượcmột con trai ở cõi vô hình, mà cô Hạnh đâu có hay.

“Nhờ có Thánh cứu, chứ không thì mấy trận đau, hắn đã chết trọc óc chứ mô còn tới chừ”. Bà Thơi nói. Cô Hạnh cười, vẫn cái cười dịu dàng, không còn buồnthảm như xưa, mà phảng phất một vẻ mơ màng - Vẻ mơ màng thường thấy trên gương mặt những người lãng trí. “Sắp tới tháng Ba rồi, phải không chị? Tháng Ba ni

chị cho em đi theo về chầu điện Hòn Chén”. Bà Thơi nghe cô Hạnh nói, hài lòng gật đầu. “ừ, tháng Bảy giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ. Lễ hội tháng Ba này em cũng nênvề chầu Đức Mẫu cho phải đạo dâu con”.

Đầu tháng Ba, ông Phương bỗng về thăm vợ cũ. Từ đó, người ta thấy ông qua lại luôn. “Năm lần bảy lượt tôi nói với mình, mình dẹp cái trò mê tín đó đi giùm tôi.Vì cái chuyện đồng bóng lễ bái của mình mà tôi mang tiếng nhiều lắm rồi, dù gì thì mình cũng là vợ cũ của tôi, một hiệu trưởng, một đảng viên…”. Cô Hạnh chẳng nói

gì, đang lo đặt đĩa khoai luộc nóng hổi lên bàn thờ. Trông dáng vẻ cô ân cần chẳng khác gì trước đây chăm chút cho ông. Cử chỉ đó làm ông Phương thêm bực tức.“Mình muốn trách khéo tôi phải không? Mình biết là đâu phải tôi muốn thế, chính mình đã muốn hi sinh cho tôi… Tôi xin mình, hãy vì tôi lần nữa…”.

Cô Hạnh đã đặt xong dĩa muối chấm khoai, thủng thỉnh ngồi xuống, nhìn ông Phương với đôi mắt rộng lượng như thể từ trên cõi trên nhìn xuống thế giới nhỏ bécủa loài người. “Hôm qua ông đã gặp bà Thơi phải không? Thảo nào bà ấy bảo tôi có muốn quay về với ông thì để bà ấy xin cho cái lễ chẻ đôi chiếc đũa đồng tiền, li

dị với ông Hoàng…”.“Mình đừng giận tôi, thuở ấy người ta còn khắt khe, mình cũng biết hơn ai hết. Giờ đây quan niệm về đời tư cũng cởi mở hơn trước, thỉnh thoảng tôi lại về thăm

mình. Để mình thui thủi thế này tôi cũng chẳng đành lòng”.Cô Hạnh nhìn ông Phương một lát rồi cười. Cái cười mơ màng lâu nay vẫn ẩn hiện trên gương mặt cô. “Ông à, thực ra tôi không giận ông. Nhưng chuyện ông nói

thì không thể được. Tôi đã vì ông đến nửa đời người, nay ông yên phận rồi, hãy để cho tôi yên phận tôi. Xưa tôi là vợ mình, chỉ biết có mình, nay đã là vợ ôngHoàng, tôi chỉ biết có ông Hoàng. Tôi đã nói với bà Thơi, tôi không cúng, không chẻ đũa, bẻ tiền chi hết, tôi không bỏ ông Hoàng, vì ông ấy không bỏ tôi, không

ruồng rẫy tôi bao giờ…”.“Nhưng làm gì có cái gọi là ông Hoàng, làm gì có cái bóng ma ấy, nó chỉ có trong trí tưởng tượng của bà thôi, bà có biết không?”. Ông Phương phát thịnh nộ,

không tự chủ được nữa, đập mạnh tay xuống bàn mà nói như quát.Cô Hạnh đứng bật dậy, run bần bật như bị xúc phạm nặng nề. Hai hàm răng cô đánh cầm cập vào nhau, rồi bỗng cô thình lình vớ lấy cả cái khay ấm chén trước

mặt, ném vào người chồng cũ. Đến lúc ấy ông Phương vẫn không nhận ra rằng từ khi bị cô Hạnh bắt gặp ngồi giặt đồ bên ảng nước, trong mắt cô, ông chỉ còn là mộttượng thần đã hết linh thiêng.

Người trong xóm thấy ông Phương phóng xe ra ngược con ngõ, áo và tóc ướt từng vạt nước trà vàng vàng, mặt bừng bừng lửa giận. Hai hôm sau, việc đến taibà Thu. Bà lắc đầu an ủi: “Chị ấy tốt bụng nhưng lí trí không vững nên tâm nó loạn. Trước đã bày ra chuyện phong kiến cổ hủ, nay lại sinh ra trò mê tín dị đoan. Thôi

thì mặc ý chị ấy, tôi cũng hết phép”.Cô Hạnh chẳng quan tâm gì đến ai, cứ vào ra trong ngôi nhà vắng tanh với nụ cười mãn nguyện của một người đàn bà hạnh phúc. Chiều hôm ấy cô thung dung đi

chợ chọn mua vải may chiếc áo dài mới để tháng Ba này ngược sông Hương trẩy hội mùa xuân.(Báo Văn nghệ)

Tiếng an dân

1.Khâm sai đại thần của nhà Chúa chỉ là một lão ăn mày da bọc lấy xương… Nguồn tin này lan truyền trong nhân gian làm bọn quan binh nha lại thuộc Trấn HạBiều toát cả mồ hôi. Giữa trưa, tại chợ Phù Vân, trong quán rượu nhỏ, xã trưởng của xã Bái Trời, sụp lạy một lão ăn mày gầy nhom, nhếch nhác, mời lên chiếu trên

để tỏ lòng tôn kính. Lão ăn mày đã chẳng nhận lời, còn nhổ vào mặt xã trưởng rồi bỏ đi. Xã trưởng cuống quýt chạy theo. Sự kiện này xảy ra dưới sự chứng kiếncủa cả bàn dân thiên hạ vùng chợ Phù Vân. Thế là lời đồn thổi lan truyền. Với lại, đích thân xã trưởng đã nói với quan viên hàng xã của mình: Ngài đại học sĩ đang

mang trọng trách của nhà Chúa, thay hình đổi dạng tuần tra vào dân gian… vì rằng năm xưa khi được may mắn ra chốn kinh kì, xã trưởng có họ hàng với quan Quận,có vinh dự hầu trà, điếu đóm cho ngài, nên trong một lần quan Quận và quan Học sĩ đàm đạo, xã trưởng đã được chứng kiến dung nhan của quan Học sĩ…

Xã trưởng cam đoan mình không nhìn lầm. Nhưng có lẽ, vì không muốn để lộ hành tung của mình, nên ngài Học sĩ giả ngây, giả dại, mắng chửi và nhổ nước bọtvào xã trưởng.

Nỗi lo của xã trưởng sau đó là bãi nước bọt nhổ vào mặt mình trong buổi trưa giữa chợ, có phải điều đó báo hiệu một tai ương cho tiến độ sự nghiệp của mìnhkhông. Xã trưởng vẫn cứ băn khoăn. Hình như ngài đại thần, khâm sai tức giận lắm, khinh rẻ lắm mới có hành vi như vậy.

Xã trưởng ngay chiều hôm đó đã đích thân tìm đến huyện đường của huyện quan sở tại. Huyện quan giật mình, cụm đầu cùng xã trưởng thì thầm to nhỏ. Một mặthuyện quan cho người theo dõi hành tung của lão ăn mày. Một mặt, ngài cấp báo lên cho quan anh Trấn thủ trấn Hạ Biều.

Thế là chưa đầy ba hôm, mọi hành vi của lão ăn mày giữa chợ Phù Vân trưa nào đã được liên tục mật báo về…Quan Trấn trấn Hạ Biều cau mày. Quan huyện Phù Vân cau mày. Và xã trưởng xã Bái Trời thấp thỏm lo âu.

2.Bên triền dốc đổ xuống khe vực Bái Trời, ông lão ăn mày đã chận đứng được tên trùm đạo tặc. Bằng những đường đao kinh hồn bạt vía, ông lão ăn mày đã

đánh hắn luống cuống cả tay chân.Nửa chiều, nắng còn hắt đỏ cả ngọn đồi, trải màu thẫm tím xuống khe vực Bái Trời… Tên trùm đạo tặc của trấn Hạ Biều toát cả mồ hôi. Hắn nhảy ra ngoài vòng

chiến, chém loạn mấy đao, ngửa mặt cười khì khì:- Lão huynh có những đường đao hay tuyệt! Không ngờ trong xó rừng góc núi này mà có được một đao pháp như lão huynh. Tiểu đệ bái phục, bái phục.

Ông lão ăn mày nghiêm mặt:- Bỏ đao xuống… để ta trói cho mau.

Gã đạo tặc lắc đầu, thay đổi cách xưng hô:- Sao lại trói tay nhau. Dẫu quan ông thay hình đổi dạng, tuần tra vào nhân gian, điều tra lẽ phải… thì tá mỗ này cũng không phải kẻ đáng bị trói tay. Phương chi,

nể danh giá của quan ông, tá mỗ chịu lùi mấy bước gọi là tôn kính, cả đời cầm đao làm đạo tặc, tá mỗ có một lời nguyền: Tuyệt kĩ đao pháp của tá mỗ chỉ được dùngvới bọn tham quan ô lại. Đao pháp của tá mỗ một khi đã được sử dụng thì phải tắm máu của đối phương. Quan ông với tá mỗ, không thù không oán, đừng ép nhau

vào chỗ chẳng đặng đừng.Đến lượt lão ăn mày cười to:

- Ta là khâm sai đại thần của nhà Chúa, thi hành nhiệm vụ an dân. Còn mi là đạo tặc trộm cướp. Bắt mi là phép nước… còn nói lời chống chế mà được ư?Đường đao của tên trùm ăn trộm bây giờ đã hết phần cung kính, nhường nhịn. Nó hiểm hóc và vô cùng lợi hại. Quan ngài khâm sai bây giờ mới thấy rõ cái uy lực

Đường đao của tên trùm ăn trộm bây giờ đã hết phần cung kính, nhường nhịn. Nó hiểm hóc và vô cùng lợi hại. Quan ngài khâm sai bây giờ mới thấy rõ cái uy lựccủa hắn. Ngài than thầm trong bụng, một tài năng như vầy mà đi vào đường trộm cướp, thật quá uổng, quá uổng.

Cuộc tranh tài quyết liệt kéo dài cho tới khi mặt trời lặn. Bỗng ối một tiếng quan khâm sai bay vụt đao ra khỏi tầm tay. Và, lưỡi đao của tên đạo tặc đã kề vào cổngài. Nhưng hắn không hạ thủ… Hắn xốc lại quần áo, cài đao vào lưng.

- Quan ngài nhặt đao lên và đi đi… Hãy tâu lại với Chúa Trịnh Sâm, nước loạn không phải từ dân đen tay trắng mà loạn từ sự thối nát chính sự của nhà Chúa,nhà quan…

Quan khâm sai sau phút sững sờ, đã kịp thời trấn tĩnh. Với tài kinh luân, thao lược, xoay đổi tình thế như những cuộc cờ, ngài xuống giọng:- Cám ơn lòng tốt của tráng sĩ. Ta muốn cùng tráng sĩ đàm đạo đôi điều.

Bây giờ gã vua trộm trợn mắt ngạc nhiên. Dẫu đã biết tiếng tăm của quan Học sĩ: Phong lưu, trí tuệ, nhân ái, kinh luân… nhưng lòng gã từ lâu đã xem thường bọnquan trường, nên hành vi nhã nhặn của quan khâm sai lúc này làm gã bất ngờ.

- Ngài mời tôi đàm đạo…- Vâng, với tư cách của tráng sĩ ta biết không phải hạng tầm thường. Ta mang sứ mệnh an dân, đi điều tra lẽ phải cho trăm học được nhờ. Không đàm đạo với

tráng sĩ cho thấu tình đạt lí là một thiếu sót.Gã vua trộm cười ha hả:

- Lần đầu tiên trong đời, tôi được nghe một mệnh quan triều đình nói với mình như vậy. Ôi, quả là vạn hạnh, vạn hạnh.3.

Bằng một cú đánh tuyệt chiêu giữa cuộc rượu đang vui, quan khâm sai đã hạ gục vua trộm. Cú đánh bất ngờ quá, gã vua trộm trợn trừng mắt ngạc nhiên. Bị tróitay trong lòng gã không khỏi tức tối, cái ngu của gã là quá tin người, đã đem hết ruột gan bộc bạch với quan khâm sai cũng có dòng máu của tầng lớp bề trên. Điều

gã nói ra dẫu là sự thực, vẫn xúc phạm đến ngài. Ngài đã đắng cay ngồi nghe, đắng cay nhếch mép cười, đắng cay vỗ an gã. Nhưng ngài không bao giờ là kẻ đồngsàng, đồng mộng với gã. Trăm bồ sách thánh hiền ngài đã học được để làm quan, làm tướng, làm mệnh phụ của dân… Đánh đồng ngài khâm sai với gã, quả là một

sai lầm nghiêm trọng. Cái sai lầm này chắc là đưa gã đến chỗ rụng đầu, mất mạng.Gã vua trộm, chúa của ngành đạo tặc phẫn uất trợn mắt nhìn…

Từ khi Chúa Trịnh Sâm nhiếp chính, nắm quyền hành nửa nước ở phương Bắc, tâm nguyện của Chúa là thống nhất sơn hà, thu về một cõi. Việc của Chúa là andân cõi Bắc, nuôi dưỡng tiềm lực quân sự thật mạnh và chuẩn bị cho một cuộc chinh phạt về phương Nam.

Quan Học sĩ là một công thần uyên tâm, bác học, văn võ toàn tài… được Chúa đặt trọng trách vào Viện cơ mật, từng theo Chúa tiễu trừ loạn đảng, dẹp yên bờcõi phương Bắc.

Quan Học sĩ cùng nhà Chúa đã khảo sát bốn phương, hoạch định nhiều sách lược làm dân giàu nước mạnh, quân đội hùng cường. Chúa Trịnh Sâm và quan ngàiHọc sĩ đã đề ra kế sách an dân cho trấn Hạ Biều.

Sau những lần tuần du khảo sát, quan đại Học sĩ đã tấu trình với Chúa Trịnh Sâm xin mở quốc khố, xây dựng một công trình đại thuỷ nông, chống lũ chống hạn,dẫn nước vào ruộng đồng để cư dân toàn trấn có thể gieo trồng cấy hái được mà sinh sống. Có như thế mới an được dân, mạnh được quân, giàu được nước.

Sau bao lần tâu trình nhà Chúa mới chuẩn y.Công việc tiến hành rất tốt đẹp. Thế nhưng đã gần ba năm mà hồ chứa, kênh mương vẫn không hoàn thành. Giặc giã, đạo tặc, trộm cướp nổi lên.

Gần đây lại nghe cấp báo: Lòng dân ở trấn Hạ Biều đã li tán. Một bọn đạo tặc, trộm của nhà quan, nhà quyền quí giàu sang đem phân phát cho dân đầu đen đóikhổ nên bọn này rất được lòng dân. Không dẹp sớm bọn này e trở thành một mối nguy lớn.

Tĩnh Đô vương Trịnh Sõm bốn sai chính quan ngài đại Học sĩ nhận mệnh khâm sai đại thần, đi về khảo tra tình hình, tìm đối sách sửa trị…Cầm kiếm lệnh nhà Chúa ban cho mà quan khâm sai thấy tâm cơ không lấy gì làm yên ổn. Ngài rất băn khoăn và lo âu.

Hơn ba tháng lầm lũi trong các làng xã, quan Học sĩ đã biết được nhiều điều. Chính trong thời gian này, ngài đã thu thập đầy đủ về hành trang và con người củavua ăn trộm.

Hắn tên là Hoàng Bang Tá, xuất thân là một học trò tay trắng. Tưởng học hành đỗ đạt làm quan, nhưng đi thi không tiền đút lót bọn quan trường, hắn năm lần bịđánh hỏng. Giận đời, hắn nói năng khiếm nhã, bị một xã trưởng có hiềm khích xưa, ghép vào tội phản loạn. Hắn bị bắt, giải vào giam ở nhà lao huyện Phù Vân. Trong

nhà lao huyện Phù Vân này, hắn gặp được những tên cùng khổ, giận đời tức trí cùng nhau mưu mô vượt ngục. Thế là bọn chúng đã lập nên một băng đảng đi cướpcủa nhà giàu và của quan lại để chia cho người nghèo. Võ nghệ và đao pháp hắn cũng học trong thời gian này của một lão tù có nghề võ gia truyền.

Đêm qua thức trắng để chén tạc chén thù với tên vua ăn trộm, ngài thấy được cái cốt cách tài hoa và kẻ sĩ của hắn.Quan Học sĩ đã thở dài. Những gì ngài nghe thấy đều trùng lặp với những gì mà tên đạo tặc này tố giác. Một vạn dân binh lực lưỡng thường trực trên công

trường đại thuỷ nông như được phó thác: Sừng tê, đào đá quí, trầm hương về làm lợi cho các quan ngài. Quai đê lệnh phải xây bằng đá, vì hết nhân lực ăn bớt ngânsách, các quan ngài cho đổ bằng đất. Lương thực, thực phẩm lệnh cho ăn no để làm tốt, chúng chặn phần hơn một nửa, dân binh đói khát không còn sức mà làm…

Làm không đạt, lũ đất mương phải lở, máng phải dập. Thế là bọn quan ngài lại đổ cho ông trời hại và hí hửng núp sau lưng ông trời hại để ăn theo lợi lộc, ngốn hếtngân lương quốc khố.

Thế nhưng không một ai điều tra, truy cứu đúng sự thực. Thậm chí quan giám sát, ngài cũng đã phớt lờ. Ngài… phần cũng có lợi lộc, phần cũng sợ mình thế yếu,không chống nổi những thế lực bao che. Quan giám sát đã làm sai vì lẽ đó.

Bất giác khâm sai Học sĩ rùng mình. Kể từ khi Tuyên phi Đặng Thị Huệ vào cung và được Chúa Trịnh Sâm sủng ái, cơ sự đã dần dần tồi tệ… Trấn Hạ Biều bắttay vào công cuộc đại thuỷ nông thì một tên quan vô liêm vô sỉ cùng bè của Đặng tuyên phi cũng chễm chệ áo mão cân đai về trấn nhậm trấn Hạ Biều. Đã hết đâu,

chưa tròn một năm, tên quan này đã thay toàn bộ từ huyện đến xã trưởng, lí trưởng là người của hắn. Một tiếng hắn: Nhất hô, trăm tiếng tay chân hắn: Vạn ủng. ý củaquan anh là mệnh lệnh của nhà trời.

Quan khâm sai thấy chua xót vô cùng. Kế sách thuỷ lợi của nhà Chúa đã biến thành thuỷ hại. An dân thành nguy dân. Lòng dân trấn Hạ Biều đã li tán. Họ chưanổi dậy nhưng một lòng tôn kính và ngưỡng mộ những phường trộm đạo đã thường xuyên giúp đỡ họ. Chính Hoàng Bang Tá, trùm của bang nhóm trộm đạo này, đã

mỉa mai nói với ngài:- Tôi đang thực thi đạo trời, phân phối lại của cải trần gian cho hợp lẽ công bằng xã hội. Người quá giàu sang nhờ bóc lột, kẻ quá đói nghèo vì bị bóc lột. Sự bất

công này là không hợp với chính đạo. Kẻ đọc sách như ngài và tôi không thể nhắm mắt làm ngơ.

Ngài khâm sai đã cay đắng ngồi nghe tên trùm đạo tặc nói - cay đắng gật đầu tán thưởng những điều hắn giãi bày. Hắn biết rằng, chống lại phép nước, đi làmtrộm đạo là cái mạng coi như đứt rồi. Nhưng sĩ khí và nỗi đau của kẻ đọc sách, nhìn điều oan trái là phải ra tay. Nay quan Học sĩ tâm đắc cùng hắn, đàm đạo cùng

hắn. Ruột gan hắn thế nào, hắn bộc bạch thế ấy. Hắn ghét cay, ghét đắng bọn tham quan, ô lại sâu mọt, đục khoét của nước của dân.Trong giờ khắc đàm đạo này, quan khâm sai chợt phát hiện ra, hắn là phần tử cực kì nguy hiểm. Nếu hắn có mưu đồ làm phản. Sơn hà này sẽ thêm rối ren nhiều

đỗi, và nạn can qua máu chảy đầu rơi sẽ không sao thoát khỏi.Chính trong khoảnh khắc này, quan ngài đã không ngần ngại vung tay, đánh một đòn tuyệt độc để bắt trói hắn lại. Hoặc thu phục được hắn, hoặc phải giết chết

Chính trong khoảnh khắc này, quan ngài đã không ngần ngại vung tay, đánh một đòn tuyệt độc để bắt trói hắn lại. Hoặc thu phục được hắn, hoặc phải giết chếthắn.

Quan ngài đang thực thi sứ mạng khâm sai đại thần, đang phải cố sức để cứu nguy xã tắc…4.

Quan khâm sai có tài kinh luân thì Chúa Trịnh Sâm là người cơ trí. Chúa vuốt râu, ngả người trong trướng nghe khâm sai tấu trình sự việc. Chúa chuẩn bị hai điều.Thứ nhất, thay quan trấn thủ Hạ Biều, truy cứu tội làm hư việc nước, tịch biên gia sản… cùng những quan lại có liên quan. Thứ hai, để tỏ lòng độ lượng và yêu mến

nhân tài của nhà Chúa, nay tha tội chết cho vua trộm Hoàng Bang Tá - cho ra làm quan giám sát ở trấn Hạ Biều, được phép cầm kiếm lệnh của nhà Chúa chém rụngđầu những ai phá kỉ cương không tuân thủ điều lệ xây dựng và bảo vệ nguồn nước ở hồ chứa xã Bái Trời - Toàn bộ kênh mương dẫn nước, phân nước, tiêu nước và

rừng bảo hộ quanh vùng thượng nguồn ba trăm dặm, đặt trong tay giám sát, cai quản, bảo vệ của quan giám sát Hoàng Bang Tá. Lệnh cho quan giám sát trong vònghai năm phải đôn đốc, giám sát để công trình thuỷ nông được hoàn thành.

Thế là tên vua trộm đạo tưởng bị rụng đầu, lại được thăng quan. Hắn chỉnh trang lại tư thế, người ngựa oai phong, đĩnh đạc lên đường, nhắm hướng trấn Hạ Biềumà tiến.

Vua trộm đi rồi, Chúa Trịnh Sâm thưởng công cho quan Học sĩ ba chung rượu. Ngài nheo mắt cười:- Ta biết chủ ý của quan Học sĩ rồi.

Người thu phục nhân tài Hoàng Bang Tá trước là vì ta, sau là giới hạn vây cánh của Đặng Tuyên phi.Quan Học sĩ toát cả mồ hôi, chưa kịp tâu điều gì, Chúa đã thở dài:

- Như vậy, cũng tốt… Ta chuẩn y như vậy cũng không tồi.Đó là thời gian… Quyền lực của nhà Chúa đã hình thành hai phái đối chọi và tranh đoạt nhau. Phái của Trịnh Tông, con dòng trưởng. Phái của mẹ con Tuyên phi

Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán.Phái của Tuyên phi họ Đặng ngày càng mạnh dần lên vì Chúa Trịnh Sâm đang sủng ái Tuyên phi.

Cơ cảnh vương quyền nhà Chúa lúc này muôn phần rối loạn. Chúa Trịnh Sâm càng có tuổi càng đắm say Đặng Tuyên phi. Vườn thượng uyển và nhiều cung phủđược xây dựng cầu kì. Tráng khí năm xưa của ngài đã tiêu hao và cạn kiệt vì tửu sắc.

Chúa lại đau khổ vì mẹ con Đặng Thị Huệ van cầu Chúa cái ghế thế tử, trong khi dòng trưởng đã có Trịnh Tông, lí ra phải được lập từ lâu. Chúa gian nan vì cáingai vàng phủ Chúa chỉ có một. Chúa yêu Tuyên phi nhưng khó lòng lập Trịnh Cán… Thế lực hai phái diễn ra khốc liệt trước mặt Chúa nên Chúa bị ám thị. Chúa

thường dò xét các đại thần là phe nào. Làm như vậy có hại cho Tuyên phi không? Chúa cơ trí nhưng đã đến hồi quẫn bách, Chúa mưu lược nhưng đã đến hồi loámắt… Quan Học sĩ thay đổi người của Đặng Tuyên phi làm Chúa ghét. Nhưng việc nước đã tới hồi tan hoang nên Chúa phải chuẩn theo. Chúa đang mâu thuẫn với

mình… Rối rắm từ thân Chúa mà ra. Ba năm sau Chúa loại bỏ quan Học sĩ và từ đây phủ Chúa được điều hành bởi một người đàn bà có nhan sắc nhưng vô học vàtham lam. Chính sự bắt đầu nát bét.

5.Vài năm trước, Hoàng Đình Bảo chỉ là một tên quan trấn thủ nơi miền phên dậu, nhờ gian manh thủ đoạn, hắn chạy chọt được về kinh thành. Biết Trịnh Tông

đang ngấp nghé chiếc ghế Thế tử, hắn quỳ gối xin theo phò. Nhìn bản mặt vô sỉ của hắn, Trịnh Tông chán ghét đuổi đi. Thế là hắn chạy theo phe của Tuyên phi ĐặngThị Huệ, lập tức những cơ mưu xảo trá của hắn được tin dùng, tước Huy Quận Công lọt vào tay hắn.

Chúa Trịnh Sâm thay quan Trấn thủ Hạ Biều, Huy Quận Công đạo diễn Đặng Thị Huệ mè nheo cùng Chúa để chỉ định người của mình. Chúa không dám trái ýTuyên phi. Như vậy, một tham quan vừa rời khỏi ghế, lập tức một tên vô lại ngồi vào. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cũng biết thế. Sợ tái diễn cảnh cũ, Chúa bèn cho tên

đạo tặc vừa mới thu phục được về làm quan giám sát để chế ngự quyền lực của Đặng Tuyên phi. Chúa cũng chơi bài sấp ngửa hai mặt, cũng lắt léo với chính mình…Nên khi Hoàng Bang Tá trở lại trấn Hạ Biều, thì cuộc cờ ở đây như một bát quái trận đồ chỉ có cửa tử, không có cửa sinh.

Nhưng Hoàng Bang Tá là con người vũ dũng, đã từ cửa tử phá nát mê cung mà tồn sinh, hiện hữu… Nên khi cầm kiếm lệnh Chúa ban, sứ mệnh an dân đốcthúc, quan giám sát bừng bừng khí thế, quyết chí đến cùng.

Một sáng mùa đông, mây mù ảm đạm, nhìn cơ cảnh của đám dân binh đang thi công trên công trường, ngài rút kiếm chém rụng đầu quan điều khiển đê. Nhữngmệnh lệnh chém đầu dược ban truyền. Kẻ nào sử dụng dân binh của công trường vào việc riêng tư trái phép: Chém. Kẻ nào phụ trách việc ăn mặc của dân binh mà

cấp phát không đủ, để dân binh đói rét: Chém. Kẻ nào khai thác gỗ ở rừng bảo hộ, làm rừng bị cạn kiệt: Chém. Kẻ nào săn bắt, đốt cháy, đào bới để tìm đá quý,lâm sản quý, phá vỡ môi trường tự nhiên, làm sụp lở đất rừng bảo hộ: Chém. Kẻ nào không làm tròn trọng trách giao phó để công trường không thi công kịp thời

hạn: Chém. Kẻ nào dùng công quỹ xây dựng đê để ăn xài: Chém…Quan đương nhiệm Trấn thủ Hạ Biều xám mặt. Nhưng hắn từng là người mưu lược, thâm độc. Hắn biết thời cơ chưa tới, phải nghiến răng nuốt giận để chờ. Lùi

một bước, để tiến mười bước. Đó là sách lược của Huy Quận Công dạy hắn.Những lệnh chém đầu lập tức có hiệu quả. Cỗ máy trơ lì ì ạch đã vận hành tốt. Chỉ hơn một năm công trình đã hoàn tất. Nước đã chảy về các đồng ruộng và

việc gieo trồng cấy hái đã bắt đầu đem lại miếng ăn. Gã chủ quán chợ huyện Phù Vân đã đổ đầy ba chum rượu để đãi khách. Bất luận khách là trẻ già trai gái, là lãonông hay quan gia bước vào quán gã, gã đều mời liền ba bát không lấy tiền… gọi là mừng thắng lợi.

Trong dịp này, quan giám sát Hoàng Bang Tá cũng bỏ tiền túi của mình, sắm một bữa tiệc linh đình, mời những bạn bè xưa về nâng chén. Nhưng buồn thay, khirượu thịt đã dọn đầy, chỉ một mình người bạn cố tri là gã chủ quán, ngồi đối ẩm với ngài. Những bạn bè xưa không ai đến. Họ là phường lục lâm trộm đạo; ngài là

quan nha của triều đình; luật đời đã phân ranh hai cõi; trộm đạo và quan gia không thể nào ngồi chung chiếu. Nỗi buồn đã làm the thắt cả tâm hồn của quan giám sát.Bây giờ ngài mới chợt hiểu ra… Và bây giờ ngài mới thấy mình chơ vơ cô độc.

Buồn hơn nữa… Khi con nước chảy về, ruộng vườn đâm hoa kết trái. Bá tánh của hai mươi xã, năm chục làng dọc theo các kinh mương đã biết giá trị của dòngnước là vàng bạc. Họ ra sức khai thác, ra sức trộm cắp con nước vào ruộng nương làng xã của mình. Thế là xảy ra tranh giành. Làng này đang đêm tháo trộm nước

vào ruộng mình, làng kia thiếu nước gây gổ, sinh sự… lại đánh nhau. Người này đánh người kia, làng xã này đánh nhau với làng xã kia. Cục diện lại bắt đầu bát nháo.Trấn Hạ Biều chưa kịp người ăn no đã sinh loạn…

Quan giám sát trấn Hạ Biều, chỉ sau ba năm nhậm chức, tóc ngài đã bạc trắng. Ngài sinh ra thường xuyên uống rượu để giải buồn. Có khi ngài uống tàn đêm vàtuần tra tàn đêm.

Một lần nữa quan giám sát lại ban truyền pháp lệnh. Lệnh đánh trăm roi những ai đào mương trộm nước. Làng nào, xã nào trộm nước mà không bắt được người,lí trưởng xã trưởng phải bị thay. Lệnh rất nghiêm nhưng bọn trộm nước ở kênh mương vào ruộng vườn cũng rất nhiều. Ngài ngao ngán lắc đầu… Đêm cũng như

ngày, ngài ráo riết tuần tra khắp mọi nẻo. Đội thuộc hạ của ngài chia ra các toán làm việc cũng ứ hơi!Làm việc cật lực ngài mới bảo vệ được con nước thông lưu, mọi ruộng vườn đều có nước, chấm dứt được những trận ẩu đả tranh giành đổ máu. Nhưng từ đó…

Ngài lại mang mối oán hờn với bọn lí trưởng, xã trưởng, cộng chung vào với oán hờn của bọn quan lại địa phương.Chính tên quan huyện Phù Vân trong một lần say rượu, hắn đã uất ức gào lên với quan trấn thủ:

- Làm quan để ăn bổng lộc nhà trời, ở trấn Hạ Biều này có khỉ gì để ăn. Trầm hương, gỗ quý, đá quý, lâm sản quý, hắn cấm tiệt. Có ai dám khai thác, dám bánbuôn… thì lấy cái bã gì để cống nạp cho ta, để ta cống nập cho ông; để ông còn cống nạp lên trên. ông không triệt được hắn, thì chúng ta cởi áo mà về, đừng quan

buôn… thì lấy cái bã gì để cống nạp cho ta, để ta cống nập cho ông; để ông còn cống nạp lên trên. ông không triệt được hắn, thì chúng ta cởi áo mà về, đừng quannha gì nữa!

Trấn thủ Hạ Biều là cháu của huyện quan - chính huyện quan được trấn thủ cưu mang và đặt để lên ghế này - Nên danh phận thì to hơn nhưng đôi khi quan trấnthủ cũng lắng nghe ý kiến của chú…

Lần này quan trấn thủ cười nham hiểm:- Thời cơ đã đến rồi. Quận Huy đã bảo tôi tìm cách thịt hắn. Trên sẽ không truy cứu. Ông chú tìm cách đi…

6.Đòn hạ mã là kế đắc sách của bọn chúng…

Mười năm sau, chủ quán rượu đã kể lại với quan ông Học sĩ như vậy. Quan Học sĩ bây giờ đã già lắm. Râu tóc ông bạc phơ. Lưng ông còng xuống. Ông xúcđộng nén tiếng khóc vào lòng, nhưng mắt ông vẫn đẫm lệ. Ông bây giờ không còn là mệnh quan của triều đình. Cuộc thế nhiễu nhương, từ khi chúa Trịnh Sâm loại

bỏ ông, tin dùng Huy Quận công vào việc triều chính, ông quay về ở ẩn mà lòng nóng như lửa đốt.Cái tin quan giám sát trấn Hạ Biều bị tử vong đến với ông, khi ông đã bị an trí ở một trấn miền phên dậu. Lòng ông quặn lên, ông ngửa mặt kêu trời… Ông đã

đau như trái tim của ông đang bị băm vằm vậy.Chính ông đã hại Hoàng Bang Tá! Năm xưa ông đừng ép buộc hắn. Cứ để hắn làm vua ăn trộm thì thoải mái cho hắn biết bao. Ông không ngờ thế cờ không lật

được mà ông lại mất đi một người tri kỉ, hại một kẻ tri âm… Tiến cử hắn, ông chỉ mong cục diện ở trấn Hạ Biều tốt đẹp hơn, bá tánh có hạnh phúc hơn. Ông biếthắn… uy vũ không khuất phục được, tiền bạc không mua chuộc được. Chỉ có hắn về trấn Hạ Biều mới đối đầu được với bè lũ của Đặng Tuyên phi, làm nên công

trạng. Nhưng sức người có hạn. Trời đã chẳng thương ông vì Chúa, đã ăn phải bả của Đặng Tuyên phi. Nước mắt ông chảy ròng. Kế an dân đã không thành được.Ông đau như thịt da ông bị tùng xẻo vậy.

Trưa hôm ấy, giữa kinh thành li loạn, tiếp sau Tuyên phi Đặng Thị Huệ cùng Trịnh Cán, Huy Quận công bị kiêu binh quân Tam phủ giết chết, băm vằm; NguyễnHữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm tiếm quyền… biến cố dồn dập, kinh thành tan tác. Ông từ một trấn miền phên dậu trở về mong tìm kiếm người thân.

Tình cờ, ông gặp gã chủ quán rượu ngày xưa. Hai người đã hàn huyên trọn cả buổi chiều…Gã chủ quán mắt đẫm lệ đã kể lại rằng:

… Đó là một đêm tối trời mùa hạ. Bọn gian manh đã xúi giục những tên xã trưởng, lí trưởng bất mãn… Chúng đã dàn cảnh đào mương trộm nước. Quan giámsát tuần tra bắt gặp, chúng liền bỏ chạy. Ngài một mình phi ngựa đuổi theo. Vì nóng lòng truy bắt kẻ gian, ngài quên cảnh giác. Một sợi dây giăng qua bờ mương.

Ngựa đang phi nước đại. Sợi dây hất tung ngài xuống kè đá. Ngài bị thương nặng. Những thằng ích kỉ, địa phương, cục bộ, dốt nát bị xúi giục, quay trở lại đánh ngàiđến chết. Đòn hạ mã, chúng đã thành công.

Ngài chết đi chưa đầy ba năm… Rừng Hạ Biều bị chặt trụi, đất đá ngổn ngang bị đào bới. Kênh mương mặc sức cho người ta đào trộm nước. Lại đánh nhau to,án mạng nhiều. Quan trên chỉ việc ngồi xử. Bên nào lo lót nhiều, bên đó thắng kiện. Cả một hệ thống đại thuỷ nông không ai tu sửa. Ngân sách chui vào túi các quan.

Làng tốn một, hô mười. Thế là sức nước, sức dân cạn kiệt.Mùa mưa năm đó, rừng thượng nguồn lở, hồ chứa với hàng triệu khối nước vỡ tung. Một trận đại hồng thuỷ cuồn cuộn trào về phủ ngập trấn Hạ Biều, quét sạch

nhà cửa ruộng vườn. Quan nha còn bận say sưa không kịp tháo chạy. Binh lính còn ngủ dật dờ không kịp thoát thân. Cả quan, cả dân cùng trôi theo dòng lũ lớn…Sóng nước bây giờ công bằng, bình đẳng dận chìm tất cả.

Trấn Hạ Biều gần như xoá trắng sau trận đại hồng thuỷ năm ấy. Những người sống còn đi tha phương cầu thực…Gã chủ quán rượu Phù Vân khăn gói ra kinh thành. Năm ấy, gặp khi binh biến tràn lan. Quân tam phủ kiêu binh giết cả bè lũ Quận Huy cùng Đặng Thị Huệ.

Chúng kéo nhau đi hôi của đầy đường…Gã chủ quán rượu buồn não ruột. Dẫu chỉ là dân đen, gã cũng biết rằng: Đời người rồi ai cũng chết. Nhưng có những cái chết vì nước vì dân sử vàng chói lọi. Có

những cái chết vì quyền vì lợi ác độc ti tiện để bia miệng nguyền rủa ngàn đời.Gã chỉ là tay bán rượu. Thật thà sống. Thật thà bán rượu. Thật thà mang cho đời một chút say sưa để quên đi phiền muộn. Nhưng lòng gã hằng mong thái bình;

hằng mong có một đấng quân vương để an dân trị nước. Gã đã từng khóc nhiều đêm, như cái ngày người bạn cố tri năm xưa bị kế hạ mã mà phải tan thân…Mùa xuân năm ấy, Quang Trung Nguyễn Huệ dẫn mười vạn quân binh ra kinh thành. Gã bán rượu đã lập một hương án bên đường để chào mừng người anh

hùng áo vải đó. Gã quỳ lạy ở bên đường; không phải lạy cái uy quyền to lớn của người thắng trận, mà gã lạy cái ân đức của ngài, sẽ đem đến thanh bình cho đấtnước, đem đến sự an lành hạnh phúc cho dân đen.

Mùa xuân năm ấy gã cũng khóc. Nhưng những giọt nước mắt này mang một ý nghĩa khác.(Báo Văn nghệ)

Đi một ngày đường

Ai cũng muốn mình trải qua kiếp người trong cõi đời một cách yên ổn: được sung sướng, hạnh phúc là điều quí hoá; những bất trắc, gian nan, đau khổ là do sốphận đưa đẩy vượt ngoài ý muốn và sự kiểm soát của mình. Vậy mà sau mấy mươi năm yên sống cùng với vợ con trên mảnh đất và làng quê thân thuộc, bác Hai của

tôi bỗng “nứt niềng”, giang hồ cất bước.Sau khi cơ sự xảy ra, bác dâu của tôi đoán chắc là chồng của bà đi cùng với mấy tay thương buôn thường về làng mua lúa gạo. Bà quyết đoán như vậy bởi vì bà

vẫn thấy mấy y hay to nhỏ với ông già; có lẽ mấy y rủ rê ông già làm chuyện chi đó. Linh tính của đàn bà khiến bà lo ngại. Thật đúng như vậy! Có lần, bác Hai tôibỗng than:

- Buồn quá!- Có chuyện gì mà ông buồn?

- Mình làm ruộng, rẫy quanh năm suốt tháng, mặt nám tay chai, da đen tóc cháy, gần hết đời người rồi mà chẳng thấy thảnh thơi. Biết làm sao mà đổi được đời!- Đổi sao?

ậm ừ mãi, bác trai mới nói:- Được như thằng Năm hàng xáo cũng sướng!

Bác gái tôi vừa kể, vừa khóc:- Chèng đéc ơi! ổng mà đem bì với Năm hàng xáo?!

Rồi bà liệt kê bao nhiêu là thói hư, tật xấu của người lái buôn ấy mà bà cho là trông thấy “nhãn tiền”. Năm hàng xáo tên thật là Năm Mèo. Y có bộ vó bảnh bao,

lại quen thói ăn to, xài lớn. Dưới mắt bác gái tôi, y là người ranh ma, gian xảo, thường mua cân già, bán cân non, lấy đầu này đắp đầu kia, so hơn tính thiệt từng xu,từng cắc. Bác gái tôi kết luận “người như vậy mà rộng rãi nỗi gì!”, đó là chưa tính đến thói phóng đãng, trăng hoa của y. Mặc dù đã có vợ đôi, vợ ba ở nhà mà hễ

gặp đàn bà, con gái là y cứ cà rà, hí hửng. Như những người đàn bà an phận, bác gái tôi hài lòng với người chồng thật thà, chất phác của mình. Bà thường nói vớimọi người:

- Tui thấy ông Hai lo cần mẫn làm ăn, tui thương…Bởi vậy, khi nghe bác Hai tôi ước ao được như Năm Mèo, bà đã gạt đi:

- Ông lột lớp mà thay hình, đổi dạng, học đòi theo Năm Mèo thì cứ đi mà đổi đời. Tui không biết tới!Bác gái tôi vẫn khóc:

- Mình giận lẫy mới nói như vậy. Không dè… ổng đi thiệt!Cứ để bác gái khóc cho thoả lòng. Trước sự tình ấy, ai còn biết nói gì hơn. Câu chuyện chẳng mấy chốc lan ra khắp đầu làng, cuối xóm. Ai cũng biết… Ngủ một

đêm, sáng dậy, vợ con của bác Hai tôi không tìm thấy ông đâu cả. Cả nhà hô hoán lên, đi tìm. Bác gái tôi đâm nghi, hỏi anh Thắng, con trai lớn của bác.- Hôm qua, ba mày có đong lúa bán cho chú Năm không?

- Dạ! Có! Lúc đó má qua thăm ngoại. Con tưởng là ba có bàn với má rồi!- Trời đất ơi!

Bác gái chạy ra bờ sông ngó xuống bến, chỗ Năm Mèo thường đậu ghe. Bến sông vắng ngắt, không một bóng người. Chiếc ghe chài của Năm Mèo đã nhổ neotừ hồi nảo, hồi nào. Bây giờ, chắc họ đã đi xa lơ, xa lắc. Bác gái tôi than thở với đàn con của mình:

- Ba của tụi bây bán lúa lấy tiền, đi theo… thằng Mèo rồi!Mấy người bà con, hàng xóm nghe chuyện, thấy buồn cười, cũng lựa lời an ủi bác gái tôi:

- Anh Hai theo thằng Mèo chớ có phải theo con mèo nào đâu mà chị Hai khóc! Vài bữa, ảnh lại về…- Theo thằng rồi sẽ theo con, mấy rồi! Trời ơi là trời! Ai coi! Già rồi mà ổng còn sanh tật, sanh tâm…

*- Đàn bà hay làm lớn chuyện! Ai mà làm gì đến nỗi tác tệ đâu!

Bác Hai tôi khẳng định như vậy, sau chuyến đi “bụi” về. Bác Hai đi hai ngày, một đêm. Khi trở về, ông vẫn còn gói nguyên hai bộ đồ mang theo, chỉ thêm chiếcnón nỉ đen mà bác cầm tay chớ không đội bảo là mua cho anh Thắng, và thêm đôi dép nhựa đỏ dành cho con gái út. Bác gái tôi cật vấn:

- Ông đi đâu?- Đi chơi… cho biết Sài Gòn!

- Sao ông không nói với tui?- Nói với bà đặng… dễ đi được lắm!

Bác gái thở hắt ra, như trút bao nỗi buồn lo đè nặng suốt hai ngày chồng mất tích, mất tăm. Bà không nói gì nữa, bỏ đi, lo v iệc nhà. Có lẽ, đối với bà, việc báctrai mau chóng trở về là đã quá đủ, hoặc là việc rầy rà chồng, bà để dành thủ thỉ lúc về đêm.

Chúng tôi, anh Thắng và tôi, là những người tò mò về chuyến đi của bác Hai tôi hơn ai hết. Chúng tôi rất muốn biết điều gì đã xảy ra trong thời gian bác Hai tôi

rong ruổi và cái gì đã khiến bác tôi cất bước giang hồ. Chỉ những khi vắng mặt bác gái tôi, bác Hai mới từng lúc hé mở với chúng tôi. Quả tình là sự việc khôngnghiêm trọng như bác gái tôi đã nghĩ. Chuyện đổi đời chỉ là ý tưởng mà bác Hai tôi đã diễn đạt không chính xác khiến bác gái hiểu lầm. Mọi sự bắt đầu từ một buổi

chiều…Đó là một buổi chiều rảnh rỗi hiếm có trong đời của bác Hai tôi. Là một lực điền, ngoài thời điểm gieo trồng, gặt hái, những công việc không tên của ruộng

vườn, nhà cửa, gia đình thường chiếm hết thời gian còn lại của bác. Lúc tết nhất, giỗ đám lại là lúc bác sa vào trà, rượu với chén chú, chén anh cùng thân bằng, quyếnthuộc, bà con, hàng xóm. Vậy mà có một buổi chiều, bác Hai tôi không biết làm gì. Bác ngồi ngó mông ra dòng sông chảy qua trước cửa nhà, thấy đám lục bình trôi

líu ríu, trôi miết về xa. Bác bỗng nghĩ về đời sống của đám lục bình kia. Dẫu nó là thân bèo dạt cũng đã trôi hết xứ này sang xứ khác, theo sông mà biết nơi gần, chốnxa. Bác lại ngẫm về mình, một đời chôn chân, mọc rễ trên mảnh đất này: đi chưa quá chợ huyện, chợ xã, vui chơi chưa ra khỏi luỹ tre đầu làng, con đường ra ruộng,

về vườn, cả xóm làng, cả mái nhà, vợ con… đều quá quen thuộc, quá gần gũi đến mức bác cảm thấy không nghĩ, không nhìn, không sờ mó, đụng đến cũng biếtđược. Ước muốn được biết về những điều mới lạ, những thứ ngoài mình bỗng chốc xâm chiếm bác. Bác nghĩ đến Năm Mèo và chiếc ghe mua lúa của y. Vậy là bác

gọi Năm Mèo, rồi bảo con trai bác đong và vác xuống ghe của y bốn mươi giạ lúa. Hai người đàn ông thì thầm với nhau. Hai giờ khuya đêm ấy bác Hai tôi xuốngghe của Năm Mèo. Vài phút sau, chiếc ghe chài chở lúa khẳm mạp ấy được kéo neo, nhổ sào, từ từ tách bến.

Thật chúng tôi không hiểu được là trong tâm hồn của một người đàn ông đã luống tuổi có vẻ bên ngoài cục mịch như bác Hai tôi lại có một khoảng dành choniềm khao khát hết sức lãng mạn ấy. Chúng tôi cũng sẽ cạn nghĩ khi cho rằng ông già chỉ bận tâm đến manh áo, chén cơm và nếu hơn nữa là đất đai, nhà cửa. Bốn

chục giạ lúa để đổi lấy một chuyến đi chơi cho biết Sài Gòn là một sự kiện đặc biệt trong cuộc đời của bác Hai tôi. Vì vậy, chúng tôi càng háo hức muốn biết cụ thểvề chuyến đi của bác. Bác tôi chỉ tủm tỉm cười, khi chúng tôi thúc giục:

- Từ từ… để quỡn việc rồi tao kể cho mà nghe!Nhằm lúc vui vẻ, bác nói cho chúng tôi biết thế nào là nằm trong khoang ghe chở lúa, thế nào là đi chợ trên sông, thế nào là ngủ trên bồng bềnh sóng nước.

Những lúc nhâm nhi bên mâm rượu, bác lại bật ra câu chuyện của Năm Mèo:- Thằng đó vậy mà bỡm bẫy lắm!

- Bỡm bẫy là sao, bác Hai?- Nó gạt mấy bà vợ của nó, mà gạt theo kiểu… hàng xáo mới ngặt!

Tiếng tăm về Năm Mèo thì làng tôi ai cũng biết nhưng đến đoạn này thì ai cũng ngóng nghe.Nó khoe với tao là nó có một bà vợ ngon lắm, là chủ quán bán rượu bia ở Sài Gòn. Nó nói “Tui sẽ dắt anh Hai tới đó chơi, cho biết mặt bả”. Mới đi một đỗi, nó

đã cho tắt máy, neo ghe đậu giữa sông. Tao tưởng máy hư, đang nằm trong khoang, lồm cồm bò dậy, định chui ra sau lái coi sự thể ra sao. Đang bò nửa chừng, taođã nghe có tiếng đàn bà. Hình như bà kia đứng trên xuồng nhỏ, cặp vô be ghe của Năm Mèo, giọng cằn nhằn, cẳng nhẳng:

- Ba nó đi cả chục ngày mà mặc dơ có một bộ đồ này hả?- Mấy bộ mặc dơ bữa trước đã giặt hết rồi! Tiền gói ở trỏng, cầm coi chừng rớt!

Bà kia nghe nói có tiền gói theo, nín thinh, không hỏi vặc mắc nữa.Vậy rồi Năm Mèo cho nổ máy, ghe đi tiếp. Đi một quãng sông nữa, cỡ mấy tiếng đồng hồ, Năm Mèo lại cho ghe đậu lại. Nó lại gởi lên bờ cho bà vợ khác số

quần áo dơ còn lại của mình và tiền, số tiền chắc là không nhiều lắm. Rồi nó lại cho ghe đi tiếp. Nó cười hì hì “Lót bến chuyến về, anh Hai, coi như mình lo trước nơiăn, chốn ở mấy ngày đi lại”. Tao hỏi nó có chừa bộ đồ dơ nào cho bà ở Sài Gòn không? Nó lắc đầu, nói tỉnh queo “Đàn bà ở chợ không chịu cực giặt quần áo cho

mình đâu. Với mấy bả, mình có phép khác!”

Bác Hai tôi nói tới đó thì dừng lại. Anh Thắng ngồi ở góc nhà, hỏi nôn tới:- Phép gì vậy, ba?

Bác Hai tôi gằm mặt xuống, nói cộc lốc:- Thôi! Bỏ đi!

Vậy là bác Hai tôi không chịu kể tiếp nữa rồi. Chúng tôi lần lượt tan ra, chờ dịp khác.Điều khiến tôi cứ thắc mắc là lần nào cũng vậy, cứ kể đến đoạn đó là bác đổ quạu. Tôi điểm lại tất cả những điều bác kể thì hình như bác không hề đả động đến

Sài Gòn, tựa như bác chưa bao giờ đến đó. Còn điều gì nữa hệ trọng hơn trong chuyến đi của bác mà bác thấy nói ra bất tiện hoặc bác muốn giữ lấy cho riêng mình.Tôi cứ theo đuổi ý nghĩ này nhưng không dám tỏ bày, chia sẻ cùng anh Thắng để giữ trọn vẹn tình cảm giữa cha con anh. Tôi lặng lẽ theo dõi bác Hai tôi.

Nhà tôi và nhà bác Hai tôi chỉ cách nhau một mảnh vườn nhỏ, cùng trên phần đất của nội tôi để lại cho con cháu; do đó, cả hai bên nhà đều có thể trông sang vànhìn thấy nhau. Nhiều lúc, tôi trộm thấy bác Hai tôi ra vào tư lự, có lúc tôi lại thấy bác ngó mông ra sông, đôi khi, tôi lại thấy bác ngóng xuống bến sông, chỗ Năm

Mèo vẫn thường neo ghe mua lúa. Tôi cứ nơm nớp lo. Hay là bác Hai tôi lại muốn một chuyến giang hồ? Nếu như lần này, bác Hai tôi lại đong lúa bán và lại… đi“bụi”, liệu bác dâu của tôi có im lặng mà chịu đựng nữa hay không? Là bà con ruột thịt, lẽ nào tôi lai làm ngơ nhìn bác tôi nát cửa, tan nhà!

Hôm ấy, gặp dịp hai bác cháu cùng đi sạ lúa ngoài đồng. Nhân lúc nghỉ tay, tôi lân la dò hỏi, định lựa lời mà khuyên can bác:- Bác Hai có tính đi Sài Gòn chơi chuyến nữa không?

- Không!- Đi một lần, đã biết chán, còn đi chi nữa, phải không bác Hai?

- Tao có biết Sài Gòn là gì đâu!- Vậy hôm trước, bác đi đâu?

- Thì đi… Sài Gòn!Trước vẻ ngơ ngác của tôi, bác Hai bật cười. Thế là, vừa vấn thuốc hút, bác Hai tôi vừa kể, sau khi tôi hứa là không được tiết lộ với ai, nhất là bác gái, về câu

chuyện nghe được ở bờ ruộng này. Bác Hai tôi kể. Tôi đã chắp nối câu chuyện đứt khúc, đứt đoạn này.“Chiếc ghe chài gắn máy bốn ngựa của Năm Mèo chạy đến chiều hôm đó là tới bến Sài Gòn. Sau khi nói chuyện buôn bán và giao cho bạn lái coi bốc dỡ dàng,

Năm Mèo dắt tao đến ngay quán nhà của nó. Cái quán hơi tuềnh toàng nằm cách bến sông xuống hàng độ vài ba hơi thuốc, nó giống như các quán bên đường dànhcho khách vãng lai như tài xế, lơ xe, chủ ghe, bạn lái… Quán có phòng tắm, nhà vệ sinh, có cả phòng cho khách ngủ trọ qua đêm nữa. Tao vừa tắm xong, bước ra,

đã thấy Năm Mèo ngồi chờ bên bàn rượu:- Làm vài xị rượu thuốc cho giãn gân cốt, anh Hai, rồi tui kêu bả ra giới thiệu.

- Được!… Tao gặp nó cũng ở quán rượu của vợ bé Năm Mèo. Nó cũng trạc tuổi thằng Thắng thôi. Trong đám đông mấy đứa con gái son phấn, áo quần loè loẹt, tấp

nập ra vô tiếp khách. Nó ăn mặc giản dị, sạch sẽ, chỉ đứng lấp ló trong góc bếp. Tao nhìn bộ dạng của nó, thấy giống mấy đứa con gái ở quê mình. Tao hỏi nhỏNăm Mèo. Năm Mèo bảo nó là con nhỏ giúp việc trong quán, giúp việc là làm đủ thứ việc vặt, việc quán, việc nhà, gọi nôm na là người ở. Tao thấy hình như nét mặt

nó không vui. Năm Mèo bảo nó đúng là con gái ở quê, do Năm Mèo dẫn dắt lên làm mướn mà có sự đồng ý của ba má nó. Nghe nói, ba má của nó nghèo lắm. Họở quê mà không có đất đai, ruộng rẫy chi cả, chỉ rặt đi làm mướn, làm thuê kiếm sống, Mấy tháng trước, má của nó bịnh, thiếu tiền lo thuốc mới mướn đỡ của Năm

Mèo. Sau đó không có tiền trả, họ phải cho con gái đi ở giúp việc cho vợ Năm Mèo để trừ đứt nợ lần hồi, trong vòng một năm. Nếu đã trừ đứt nợ mà con nhỏmuốn ở lại làm thêm thì vợ chồng Năm Mèo sẽ tính tiếp.

Chuyện của người ta, tao chỉ hỏi thăm cho biết, biết rồi cũng đành thôi! Cha mẹ nghèo khổ, buộc lòng phải đợ con, chớ biết làm sao?! Cuộc đời là vậy! Quêmình có tiếng là ruộng đất thẳng cánh cò bay nhưng cũng có kẻ no, người đói, kẻ dư giả bán lúa lấy tiền đi chơi như tao, cũng có người nghèo khó phải đem con đi

làm kẻ hầu, người ở như cha mẹ con nhỏ đó. Tao ngẫm: Đất Sài Gòn phồn hoa, đô hội, chắc cũng không thiếu gì kẻ sang, người hèn… Tao cứ nghĩ mà thấy buồn.Buồn! Tao ngồi uống rượu tì tì với Năm Mèo cho đến lúc trời tối mịt hồi nào chẳng biết.

Năm Mèo kêu mệt, đòi đi ngủ sớm, bỏ vô trong. Vợ bé của Năm Mèo đi ra, bảo có dành cho tao một phòng bên cạnh. Ngồi một mình cũng buồn, tao cũng vôphòng nằm nghỉ. Tao nằm hoài không ngủ được, phần vì lạ chỗ, lại vì đã ngủ cả ngày trên ghe lúa lúc đi đường rồi. Phòng bên kia, Năm Mèo rọ rạy hồi lâu rồi tao

nghe tiếng vợ nó nói nhỏ:- Kêu đứa nào cho anh Hai không?

- Thôi! Ông già rồi! Đừng làm bậy bạ! Còn giữ đường cho tui về dưới làm ăn!Bác Hai tôi ngừng kể, cười khậc khậc:

- Thằng hàng xáo đó vậy mà khôn! Nó mà để vợ nó gạt tao trận đó là nó hết đường về bến Nước. Nó gian xảo mà cũng biết lựa chỗ, lựa người. Còn tao tính đivãn cảnh cho biết Sài Gòn chớ đâu có tính chuyện bậy bạ đó. Mà mày nghĩ coi, tao già cả rồi, còn “củi lửa” gì đâu mà ham hố?

“.. Rồi sao nữa hả? ờ..! Tao nằm lăn qua, trở lại đến hơn nửa đêm. Bỗng tao nghe có tiếng động ngoài quán rồi lại nghe có tiếng con gái khóc. Tao ngồi dậy, mởcửa phòng, bước ra. Tao thấy quán đã dẹp, vắng teo mà con nhỏ giúp việc còn ngồi khóc trong góc bếp. Tao ra bàn ngồi, ngoắc nó lại, hỏi chuyện. Nó đến, không

dám nói lớn, sợ người khác nghe thấy. Thì ra, có thằng quỉ ôn nào đó là khách ngủ trọ mò vô mùng nó. Nó không chịu, giẫy được, chạy ra.- Sao không la lên, méc bà chủ?

- Bà chủ dặn, nếu có như vậy, không chịu thì thôi, không được la. Nếu la lên, sẽ làm mất mặt khách, khách sẽ không tới quán nữa. Chừng ấy, bà chủ sẽ trừlương, đuổi việc…

- Lỡ bây giẫy không khỏi rồi sao?- Con không biết nữa! Lần nào cũng vậy, con ráng giẫy, chạy ra, không dám trở vô trỏng nữa…

- Vậy là xảy ra nhiều lần rồi hả?- Dạ! Con nhỏ “dạ” rồi khóc nghẹn.

- Sao bây không trốn về quê?- Dạ! Chú Năm biết nhà ba má con dưới quê. Con trốn về, thế nào chú Năm cũng theo bắt lại, vì ba má con còn nợ tiền của chú Năm. Con tính sẽ ráng ở đến

trừ hết nợ là con xin về…- Lỡ, từ đây đến đó, bây giẫy không khỏi đám quỉ đó, rồi sao.

Con nhỏ làm thinh, khóc:- Liệu bề, bây trả hết nợ, vợ chồng Năm Mèo có cho bây về không?

- Dạ! Con không biết!- Thôi! Từ từ… để tao tính cho.

Vậy rồi, tao nhường cái phòng của tao cho nó vô nghỉ đỡ. Còn phải dặn nó gài chốt trong cho chắc chắn. Tao ngồi lại ngoài quán, với bình trà, chờ sáng.Sáng ra tao uống cà phê với Năm Mèo, nói chuyện chuộc con nhỏ.

Sáng ra tao uống cà phê với Năm Mèo, nói chuyện chuộc con nhỏ.- Nhỏ nào, anh Hai?

- Con nhỏ giúp việc.- Con Thơm hả?

- ờ! Chắc… con Thơm!Tao kể hết sự tình cho Năm Mèo nghe. Năm Mèo ngồi làm thinh nghe rồi nói:

- Chuyện đó… để tui nói lại với bả. Bả xếp chỗ ngủ lại cho nó, thì êm. Còn anh Hai cứ để tiền mà đi chơi…- Thôi! Tao hết muốn đi chơi rồi! Giúp cho con Thơm rồi, tao về dưới quê liền. Sợ bả với mấy đứa nhỏ ở nhà rầu lo. Hồi đi, tao có nói với ai tiếng nào đâu!

Năm Mèo ngồi dùng dằng một lát rồi kêu con Thơm ra:- Ông Hai trả nợ dùm cho ba má mày. Mày chịu trở về dưới quê không?

- Dạ! Chịu!Thấy con nhỏ mừng rơn mà tao bất phẫn. Tính ra, vừa nợ vừa tiền lời ngót nghét gần ba mươi lăm giạ lúa. Cũng may, tao đem vừa đủ, còn dư chút ít. Lúc ngồi

một mình chờ sáng, tao đã tính thầm: Nếu như vợ Năm Mèo đã tính hết nợ mà tiền tao đem theo còn thiếu thì tao hẹn lại với Năm Mèo tới khi về dưới này tao sẽđong lúa thêm cho đủ số. Tính tiền bạc với vợ chồng Năm Mèo xong xuôi, tao với con Thơm đi xe xích lô ra bến xe miền Tây. Nó mua vé về quê nó. Tao mua vé về

đây. Tao coi lại, thấy cũng còn dư chút ít tiền. Tao cho con Thơm thêm vài chục để ăn đi đường. Còn một ít tao ra sạp hàng trước bến xe mua cho thằng Thắng cáinón và con Mén đôi dép. Rồi… tao và con Thơm, mạnh ai nấy lên xe, về thẳng.

Ngồi xe về dọc đường, tao cứ nghĩ: Tao chuộc con Thơm giùm cho ba má của nó chẳng qua như thả cá về sông. Trong dòng sông mênh mông, hễ con cá nàythoát thân thì con khác cũng dính câu, mắc lưới. Thế nào Năm Mèo cũng tìm được đứa khác đem lên giúp việc cho vợ nó, cũng là con gái nhà nghèo khó ở quê

mình. Rồi cảnh cũ lại diễn ra nữa thôi, vì trong cuộc đời rộng lớn này, không thiếu gì người còn phải lấy thân mình đổi lấy miếng cơm, manh áo. Nghĩ như vậy nhưngtao cũng chẳng tiếc số tiền đã bỏ ra để chuộc con Thơm giùm cho ba má nó. Coi như tao giúp người hoạn nạn, vậy thôi!

… Chuyện như vậy, tao nói, mày tin không? Nếu mày không tin thì đợi khi nào Năm Mèo về mua lúa ở làng mình mà hỏi. Nhưng tao chắc rằng, dù Năm Mèocó đứng ra làm chứng, bác gái mày cũng không tin bởi vì… bả đâu có tin Năm Mèo. Mà, ai tin nó cho được? Nó là thằng bợm bẫy mà!”

Bác Hai tôi ngửa mặt cười, cái cười đầy tự tin và mãn nguyện. Tôi cho rằng bác Hai tôi hài lòng với việc đã làm. Và, tôi tin tất cả những gì mà bác đã kể lại vềchuyến đi ngắn ngủi của mình.

(Báo Văn nghệ)

Chuyến đi vòng quanh xóm

Tuy mới là gà choai nhưng nhìn chú người ta đã thấy được trước chú sẽ là chú gà đẹp nhất xóm. Bộ mặt Trống choai sáng sủa với đôi mắt to tròn và đen lanhlánh, cái mào mới nhú mà đã đỏ rực, cái mào vàng tươi. Trống choai đã có gần đủ lông ở cổ, cánh, ở đuôi. Phần lớn là lông đỏ tía, xen vào đó là những cái lông biếc

xanh, lông trắng muốt nhìn rất đẹp. Lúc này Trống choai đi bắt mấy con mồi bám quanh một cái chảo gang bị sứt, nhọ bám đầy.Chú bắt được dăm con mồi thì mặt mày chú bị dính đầy nhọ. Nhìn chú như một con gà nào khác.

Chú định trở về chuồng thì có tiếng quát to:-Mày ở vườn nhà nào đến đây? Cút ngay không ông đánh cho gãy cổ.

Trống choai lạ lắm, đáp lại:-Em đây mà anh Xám!

-Đừng nói láo!Nói chưa xong Trống choai đã bị một cái mổ đau điếng ở đầu và một cú đá thốc vào ngực, tức đến ngạt thở.

-Anh nhầm rồi anh xám! Đúng là em Trống choai đây mà.-Cái mặt đen nhẻm thế kia mà đòi giả vờ là em tao à?

Lại một cái mổ, một cú đá nữa.Đau quá Trống choai định đánh lại, nhưng "em không được đánh anh". Trống choai đành quay người chạy trốn ra khỏi vườn. Xám - anh chú còn chạy đuổi theo

đánh tiếp.-Được rồi! Trưa nay, em sẽ mách mẹ cho anh xem!

Chú đi xa vườn dần. Chú định đi thật xa để mẹ mất công đi tìm, tội anh Xám càng nặng.*

Một mặt nước ao hiện ra.Nhiều bông hoa tím nổi bập bềnh bên trên một nền lá xanh biếc.

Có mấy chị Vịt đang xuống ao.Thấy Trống choai, một chị Vịt bèn rủ:

-Xuống ao chơi đi!Trống choai đang buồn nên đi theo ngay.

Các chị Vịt lao xuống ao nhẹ nhàng còn Trống choai thì "bõm" một cái, chú đã bị chìm nghỉm, sặc sụa. Chú cố trồi đầu lên, vẫy cánh lia lịa:-Cứu em với!

Mấy chị Vịt đỡ Trống choai lên bờ rồi hỏi:-Em không biết bơi à?

Trống choai lắc lắc vội cái đầu nước còn đang chảy nhỏ giọt. Nhọ trên mặt Trống choai theo nước trôi sạch. Chị Vịt lớn nhất bảo:-Nước khác với đất. Không đi trên nước được. Phải biết bơi kia!

à ra thế.Một chị Vịt đẩy một bông hoa tím đến sát mép ao cho Trống choai ngắm.

-Hoa bèo đấy. Đẹp không?Trống choai trố mắt. Cánh hoa bèo như lụa tím, khẽ rung rinh trong gió sớm - giữa màu tím lại còn xen màu vàng, tươi như nắng. Lần đầu được thấy, Trống

Trống choai trố mắt. Cánh hoa bèo như lụa tím, khẽ rung rinh trong gió sớm - giữa màu tím lại còn xen màu vàng, tươi như nắng. Lần đầu được thấy, Trốngchoai thích lắm nói:

-Nhìn như cái nhà lầu bằng lụa ấy.Cả đàn Vịt cùng cười.

Trống choai cám ơn các chị Vịt, đi tiếp về phía trước.*

Một Lợn mẹ đang đứng một mình, cách xa đàn con một quãng khá xa và bảo:-Khi nào mẹ hô "chạy" thì các con chạy nhé!

Cả đàn lợn nhao nhao:-Vâng ạ! Lợn mẹ lại bảo:

-Đứa nào chạy đến chỗ mẹ đứng đầu tiên sẽ được gọi là chị cả, tiếp theo sẽ là anh chị hai, ba. Đứa nào chạy cuối cùng là út. Nhớ chưa?-Rồi ạ!

Nghe tiếng mẹ ra lệnh "chạy" cả đàn con vội vàng phóng nhanh tới trước; con chạy rất nhanh, con bị vấp ngã lăn đùng ra đất.Trống choai vừa xem vừa cười khoái chí lắm… Chú cũng chạy đến bên đàn lợn để xem tiếp.

Lúc này Lợn mẹ đang bảo con:-Bây giờ mẹ thưởng cho đứa nào chạy giỏi nhé. Mẹ có tám bầu vú. Đứa nào chạy nhanh nhất được chọn vú để bú rồi sau đó đến đứa thứ hai, thứ ba cho đến út

là chót.Đàn lợn reo lên vui mừng.

Bỗng chú lợn cả ngẩng đầu nhìn mẹ rồi nói:-Mẹ ơi! út nó ốm yếu nhất nên mới chạy về chót. Vậy con xin nhường bầu vú ngon nhất cho út, mẹ thấy có được không"

Lợn mẹ cảm động nói:-Mẹ khen con biết thương em. Con xứng đáng là anh cả lắm.

Cả đàn lợn lại reo lên.Riêng Trống choai rất buồn. "Đấy anh, người ta thì thương em như vậy còn anh cả Xám của mình thì lại đánh đuổi mình đi…"

Hai giọt nước mắt trong veo nhỏ xuống bên đôi chân vàng tươi của Trống choai.Nhìn lợn mẹ cho con bú. Trống choai càng thấy nhớ mẹ và càng giận anh.

Chợt có tiếng một cậu bé nào đó reo lên ở gần đó:-Ô! Mèo con bắt được chuột rồi, đến mà xem!

Khi Trống choai đến nơi thì chỉ còn Mèo con, xác chuột, một bác Ngan đang đứng đấy.Trống choai hỏi Mèo con:

-Anh vừa bắt được chuột đấy à? Bắt có khó không?Mèo con liền kể:

-Tôi bắt được là nhờ mẹ tôi dạy đấy. Mẹ tôi bảo tôi tập trèo cây, leo vách, rồi cách rình chuột… Mẹ tôi biết có con chuột này đang tìm cách chui vào bồ kia đểtrộm khoai và thóc. Mẹ tôi liền bảo tôi đi rình bắt… Tôi đến một góc, thu nhỏ người lại ngồi rình… Tôi thấy có cái gì động đậy và tiếng sột soạt rất nhỏ. Tôi định

nhảy ra vồ bỗng sực nhớ ba điều mẹ dăn: Chuột chạy êm lắm, tai chuột, đuôi chuột dài, đằng này đã không kêu, ngắm kỹ đuôi thì ngắn ngoẻn, tai cũng không có…tôi mở to mắt nhìn kỹ hơn, thì ra đó là một chiếc lá xoài khô, mới thoáng nhìn thì giống con chuột thật… à, con chuột này được mẹ dạy cho cách đánh lừa chúng

tôi… tôi càng nằm im… có cái gì động đậy ở phía trước. Tôi phóng ra, vồ trượt chỉ nắm được cái đuôi của nó. Nó cố rướn chạy nhưng làm sao thoát được. Thế làtôi chộp ngay cổ nó, bóp chặt.

Trống choai nghe, phục Mèo con lắm.Nhưng một lần nữa nó lại nhớ mẹ nó. Càng nhớ mẹ nó càng ghét anh Xám…

Mèo bỗng nói:-Thôi tôi phải đem nó về cho mẹ tôi thấy, mẹ tôi mừng. Con chuột đầu tiên tôi bắt được đấy anh ạ!

Nó ngoạm vào con chuột, lao đi…*

Có tiếng Bê kêu ở trước mặt.Trống choai liền đi về ngả đó tìm hỏi đường trở về chuồng với mẹ, với đàn.

-Chào chị Bê! Chị đứng đó có một mình thôi ạ!-Chào anh! Ôi, tôi buồn lắm. Hôm nay tôi bắt đầu phải ở nhà một mình ăn cỏ non con ông chủ cắt cho, mẹ tôi phải đi cày.

-Sao chị không xin đi theo?-Ông chủ bảo tôi lớn rồi đi theo chỉ vướng chân mẹ.

-Tôi thì bị ông anh đánh đuổi đi ra khỏi vườn nên mới phải xa mẹ tôi đây.-Sao lại đánh đuổi?

-Có mà trời biếtLúc này, Bò mẹ đi cày đã về.

Bò mẹ đi nhanh đến chỗ Bê, âu yếm hỏi:-Con ở nhà một mình có buồn không?

-Con nhớ mẹ quá. Cỏ ngon mà con không thích ăn nữa.Trống choai hỏi thím Bò đường về chuồng mình.

-Cháu chịu khó đi qua vườn sắn ở trước mặt, gặp bác Mực bác biết đường và nhà trong cả xóm đấy.Trống choai định đi ngang nhưng thím Bò gọi giật lại:

-Này, đi qua vườn sắn phải cẩn thận nhé.-Có gì vậy thím?

-Có chồn đấy. Hôm nọ nó vừa mới bắt cô gà mái mơ của nhà này.Nghe cũng hơi rợn nhưng Trống choai vẫn làm vẻ không sợ:

-Cám ơn thím đã dặn nhưng không sao đâu.*

*Nói vậy nhưng khi đi ngang qua vườn sắn Trống choai nghe tim mình đập thùm thụp.

Vườn sắn đang lên tốt. Lá sắn xoè ra như những bàn tay, cọng lá đỏ tươi, thân cây rắn rỏi.Trống choai nhìn trước, nhìn sau, bước đi thật nhanh, có lúc như chạy.

Qua gần hết khu vườn chú mới bắt đầu cảm thấy yên tâm thì "soạt" một cái, một cái bóng Xám từ trong bụi rậm phóng ra "Quác! Quác! Quác!"Trống choai kêu lên, ngoảnh lại thì đã thấy Chồn túm được mấy cái lông đuôi của mình trong vuốt của nó. Sợ quá nên không thấy đau lắm, Trống choai vỗ cánh

bay nhanh để thoát nạn…Vừa may, có tiếng sủa và quát to.

-Chồn hôi! Mày không biết tao ở đây à?Chồn hôi liền vụt quay lại và chạy biến vào bụi rậm

Bây giờ bác Mực mới quay lại hỏi Trống choai.-Cháu đi đâu mà lại đi một mình qua cái vườn kia.

-Cháu tìm đường về chuồng nhà cháu. Mẹ cháu là Mái vàng.Cũng vừa lúc có tiếng reo to:

-Trời ơi! Trống choai! Mẹ đi tìm con suốt từ sáng đến giờ. Con đi đâu mà lạc đến đây?Từ trong vườn ngô đang trổ bắp bác Mái vàng chạy nhanh ra, ôm chầm lấy Trống choai như sợ nó biến mất.

Trống choai kể lại hết mọi chuyện cho mẹ nghe. Bác Mực cũng chú ý lắng nghe:-Thôi thế là bác Mực và mẹ hiểu rồi. Bây giờ con chào và cám ơn bác Mực rồi mẹ con ta về nhà thôi.

Trống choai đi sát bên cạnh mẹ, kể tiếp những chuyện đã thấy, đã sống trong suốt ngày hôm nay.Nghe tin Mái vàng đã tìm được Trống choai, tất cả mọi người đều lần lựơt chạy về, vui mừng ra mặt.

Trống choai nói với anh Xám:-Cũng chỉ tại anh đánh đuổi em đi nên em mới phải xa mẹ, xa đàn

-Nghe con kể mẹ đã hiểu hết. Con ăn mồi ở cái chảo đầy nhọ, mặt con bị dính nhọ, anh Xám con nhìn tưởng gà ở đâu đến mới đuổi đi.Trống choai chỉ vào đầu, vào cổ:

-Anh ấy mổ vào đầu con, đá cả vào ức con, vào cổ con nữa…-Thôi con về được là vui rồi. Với lại ngày hôm nay con đã được thấy, được gặp và làm quen nhiều người đấy chứ.

-Gặp con Chồn hôi thì sợ hết hồn, suýt chút nữa thì toi mạng với nó.-Nhưng chỉ có Chồn hoa là xấu thôi. Còn bao nhiêu người khác đều tốt cả, đúng không nào?

Trống choai nín thinh.Anh Xám bây giờ mới đến cạnh Trống choai và bảo:

-Xin lỗi nhé! Anh nhầm!Vừa lúc cô chủ nhỏ vãi ngô cho gà ăn.

Mái vàng liền bảo các con:-Thôi, các con ăn đi rồi còn lên chuồng.

Lên chuồng rồi, trước lúc ngủ, Mái vàng lại bảo Trống choai kể lại mọi chuyện.Trong chuồng, tiếng Trống choai kể chuyện, tiếng cười rúc rích của người nghe làm mọi người quên cả ngủ.

Bỗng Trống choai hỏi mẹ:-Nhưng mẹ này, sao con đi cũng từ nhà này mà con về cũng đúng nhà này là sao?

Hiểu ý con, Mái vàng đáp:-Xóm chúng ta là xóm Ao dưa vì dáng cái ao giống như một quả dưa, các nhà đều nằm quanh ao, nên từ nhà ra đi cứ hết một vòng là lại về nhà mình… Các con

hiểu không?-Hiểu rồi mẹ ạ!

-Như thế là hôm nay, Trống choai đã có một chuyến đi vòng quanh xóm. Ai đến xóm ta cũng đều khen đẹp. Hôm nào tốt trời mẹ sẽ dẫn tất cả các con đi mộtchuyến, các con có thích không?

Cả đàn gà nhao nhao:-Thích mẹ ạ!

Bỗng có tiếng nói:-Nhưng con sợ con Chồn hôi lắm.

-Không lo, Mẹ sẽ mời bác Mực cùng đi. Có bác Mực thì không con Chồn hôi nào dám ló mặt.-Đúng rồi! Thế mẹ nhé, hôm nào mẹ cho chúng con đi một chuyến vòng quanh xóm nhé!

(Báo Văn nghệ Trẻ)

Lan Hoàng Vũ

Chiều ba mươi tết. Tường và hai đứa con gái - cả hai đều là sinh viên đại học về quê nghỉ tết - đi chợ bán hoa tươi. Khoảng giữa chiều, Dung vợ Tường đạp xeđến chợ hoa kéo riêng chồng ra một chỗ, bảo:

- Cái ông gì mua chậu lan Hoàng Vũ của nhà mình gọi điện về. Ông ấy bảo nhà mình bán địa lan giả ...- Vậy em nói với ông ta thế nào?

- Em bảo nhà chúng tôi chưa bao giờ biết làm hàng giả, hàng rởm, bác hãy xem lại. Ông ta bảo ông ta xem kĩ rồi, nói với chồng cô hãy mang chậu lan khác lênđổi cho tôi. Nếu không, đúng ngày mồng một tết tôi sẽ chở chậu lan giả xuống tận nhà trả lại.

- Bây giờ ta tính sao? - Tường tỏ vẻ lo lắng.- Để việc ở chợ em và các con lo, anh hãy lên nhà ông ta giải quyết dứt điểm, kẻo lỡ ngày mồng một, ông ta mang chậu lan trả lại rồi nói năng sàm sỡ gì đó, nhà

mình giông cả năm. Thôi, anh đi ngay đi.

mình giông cả năm. Thôi, anh đi ngay đi.Lách qua các quầy hàng chật chội đậm đà hương vị chợ tết của miền quê đồng bằng Sông Hồng, Tường ra cổng lấy chiếc xe máy cà tàng, rẽ về phía đường cái

nhằm hướng thành phố phóng nhanh.Chiều ba mươi tết mà còn phải rời quê đi lo những việc khúc mắc, Tường cảm thấy một chút buồn tủi gợn lên.

Tường là Tiểu đoàn trưởng bộ binh. Do một “trục trặc kĩ thuật” mà Tường phải đeo hàm đại uý tới tám năm vẫn không lên được thiếu tá. Tường chấp nhận giảipháp về hưu non năm 44 tuổi. Về quê, nhận thấy Tường chân thật, thẳng thắn, có cốt cách gia giáo, dân chúng bỏ phiếu tín nhiệm Tường làm Chủ tịch xã. Khi ấy, vợ

chồng Tường có hai đứa con gái. Chiều theo ý vợ đẻ thêm đứa thứ ba được thằng con trai. Đúng vào lúc lệnh cấm sinh con thứ ba ban hành. Tường bị cách chứcChủ tịch xã. Tuy có buồn mấy ngày, song Tường lại nghĩ: Mình có lương hưu đại uý rồi, hưởng thêm lương Chủ tịch xã nữa là tham. Lộc bất khả hưởng tận. Tri túc

bất họa. Mình dừng lại ở đây để người khác làm là hợp lẽ đời, hợp cả ý trời. So với mức sống ở nông thôn lương hưu đại uý của Tường không phải là thấp. NhưngTường chưa đến tuổi 50, sức vóc còn xung mãn mà đã ngồi bằng lòng tửu sáng trà trưa như các vị bô lão, Tường không chịu nổi. Tường mở khoá ngăn tủ, chiếc tủ

kinh cổ kính của người cha quá cố để lại, lấy mấy bộ Tam tự kinh, Ngũ thiên tự, Đạo đức kinh... ra mầy mò tự học. Tường nuôi hi vọng khi vốn chữ Nho đã khakhá, anh sẽ làm cái nghề viết thư pháp, khắc trạm trên các đền, miếu, lăng tẩm, giúp người để có niềm vui sống và có chút tiền công bù đắp vào đồng lương hưu để

nuôi các con ăn học. Vậy rồi một hôm, từ trong ngăn sách chữ Nho của người cha rơi ra một tập tài liệu nói về các loài hoa địa lan. Tường đọc bị cuốn hút, hết ngạcnhiên này đến ngạc nhiên khác. Từ đây Tường mới biết rằng địa lan là một loại hoa vô cùng quý giá. Lan có hàng trăm loài. Cội nguồn của các loài địa lan chính là

các loài phong lan rừng, do con người thuần hoá dần mà thành địa lan. Lan càng ở trong rừng sâu, núi cao, vực thẳm càng quý. Vì sức tồn sinh dai dẳng, mãnh liệt,hút cái tinh khí của trời đất hoang sơ mà làm thành hương thơm. Sức sống thì bền bỉ, nhưng không phải ai cũng tầm và thuần hoá được lan; không phải ai cũng được

lan ban tặng cho cái thanh tao thần diệu của nó. Thời Tần Thủy Hoàng, người ta đã biết thuần hoá lan. Trong cung đình có hẳn một ông quan chuyên nghề về lan, gọilà quan tầm lan. Ông này cùng với đám quần thần vào rừng sưu tầm các loài lan quý đem về thuần hoá cho vua thưởng ngoạn. Lúc vua thưởng lan thì ngay cả ông

quan tầm lan cũng không được đến gần. Vậy nên mới có câu “vương giả chi lan” hoặc “vua chơi lan quan chơi trà”. Lan là thứ hoa vương giả, chỉ vua chúa mới đượcchơi, còn hàng quan chỉ được chơi hoa trà, dù là quan tầm lan cũng vậy.

Bao thế kỉ đã trôi qua, địa lan được thuần hoá ngày càng nhiều, dù bây giờ lan không chỉ là thú chơi độc quyền của ai nữa nhưng không vì thế mà nó bị rẻ rúng.Nhiều người chơi lan là để tạo một bầu không khí thanh tao trong nếp nhà; có người chơi lan vì triết lí sống của lan ứng nghiệm với triết lí sống của mình; có người

ươm lan nghiêng về mục đích kinh doanh. Tường ươm lan vì cả ba mục đích ấy. Các chậu lan của Tường dù để chơi hay để bán Tường cũng nâng giấc, gửi hồn mìnhtrong đó. Tường cảm nhận được mọi cung bậc trong ngôn ngữ của các loài lan. Những chậu lan với Tường như những người bạn tri âm tri ngộ, vui buồn có nhau.

Tuy thế, ai cần mua Tường vẫn bán. Cuộc sống hiện tại có quá nhiều món tiền vợ chồng Tường phải trang trải. Nhưng Tường không bán lan theo kiểu sòng phẳng,lạnh lùng. Mỗi lần bán một chậu lan, Tường có cảm giác lưu luyến như vừa tiễn một người thân đi xa, đôi khi buồn đến não lòng như một cuộc biệt li mãi mãi. Bởi

thế, trước khi bàn giao một chậu lan cho khách, Tường thường phải giảng giải rất kĩ về giá trị cao quý, phương pháp chăm sóc, cách thưởng ngoạn lan. Và thườngkhách cũng rất lắng nghe Tường nói. Có người còn mời Tường qua lại nhà họ nhiều lần để thị phạm. Chỉ riêng có ông ta - cái ông mà lúc này Tường đang phải tìm

đến nhà giải quyết khúc mắc - là tỏ ra khác người. Chiều hôm ấy, ngày ông Táo lên trời, chiếc Nissan màu sữa đục rì rì tiến vào cái làng nghèo ven biển rồi đỗ lạitrước ngõ nhà Tường. Từ trong xe thòi ra một người đàn ông quãng tuổi lục tuần, cao lớn nhưng dị tướng: Chân ngắn, đi vòng kiềng, lưng rùa hơi dài, cái mặt to

nhưng vầng trán hẹp, mũi gãy, cằm vêu ra, cặp mắt chó giấy nhỏ và lạnh như hai mảnh thép. Ông ta bước thẳng vào sân lan của Tường, ngắm từng chậu rất kĩ. Cuốicùng ông ta dừng lại chỉ tay vào một trong số ít chậu lan quý:

- Cậu bán cho tôi chậu này!- Thưa ông, đây là chậu lan Hoàng Vũ, hơi đắt. Lan Hoàng Vũ có đặc điểm...

- Khỏi cần nói nhiều! Bao nhiêu?- Thưa ông! Tôi muốn nói kĩ một chút về chậu lan Hoàng Vũ này. Vì tôi sợ...

Tường tranh thủ nói nhanh cho ông ta biết sơ đẳng về cách chăm sóc, cách cho hoa ngậm sương lành, tránh sương muối, tránh ánh nắng chói gắt, tránh mưa quáđộ. Tường toan nói: “Tôi sợ ông không hiểu tâm tính nó, nó sẽ phụ lòng ông” nhưng anh còn ngập ngừng thì ông khách đã ngắt lời:

- Cậu định quan trọng hoá, tâng bốc nó, làm cao để chém đẹp chứ gì?Bị hiểu sai, Tường ức nghẹn cổ, nhưng Tường nhận thấy có nói điều gì lúc này cũng sẽ không lọt được vào tai con người oai vệ nhưng tự phụ này. Tường đành

phát giá năm trăm nghìn đồng. Ông khách nài nỉ bớt ba mươi nghìn. Ông ghi số điện thoại nhà Tường rồi kẹp số tiền cùng với cac-vi-dit của ông trao cho Tường.Ông cùng với lái xe khiêng chậu lan đặt lên xe, bon bon chạy ra khỏi làng. Tưởng như thế là xong, dè đâu chỉ còn mươi tiếng đồng hồ nữa là giao thừa mà ông còn

giở quẻ!*

Tường đưa tấm các có tên Đỗ Hạ Đẳng lên so với số nhà. Tường nhận ra nhà người cần tìm là toà biệt thự hai tầng khá lớn nhưng thiết kế có vẻ cục mịch, nhữnghoa văn trang trí trên ban công, cửa sổ lại quá loè loẹt trông rất dởm. Tường không gọi điện trước cho ông Đẳng nhưng trông cái vẻ khoanh tay đi đi lại lại trên thềm

hè thì cứ như ông đang sốt sắng mong Tường vậy. Vừa nghe xong câu chào của Tường, ông Đẳng đã trách:- May quá, cậu lên đây rồi, tớ khỏi phải chở chậu hoa xuống trả!

- Chậu lan Hoàng Vũ bị làm sao ạ?- Nó là hoa dởm chứ sao! Hoa không hương mà cậu dám nói với tôi là hoa cao quý lắm!

Một thoáng lo ngại với Tường. Cái hôm hăm ba tháng Chạp, tức là cách hôm nay sáu ngày, ông Đỗ Hạ Đẳng đến mua chậu Hoàng Vũ, hoa mới e ấp chớm hé,dù còn để ngoài sân Tường đã cảm nhận được một mùi hương thanh cạo, bịn rịn của nó. Chỉ tiếc rằng hôm ấy ông Đỗ Hạ Đẳng có vẻ vội nên Tường không hướng

dẫn cho ông biết cách thưởng hương.Tường theo chân ông Đẳng leo cầu thang lên tầng hai. Bên cạnh bộ sa lông đời mới, chậu lan Hoàng Vũ đặt trên cái đôn sứ màu xanh biếc. Các bông hoa đã nở

vừa đủ độ đẹp, cánh hoa màu vàng cam, phơn phớt tím ở mỗi cuống bông trông giống nhưng nàng vũ nữ đang nhảy múa. Các nàng vũ nữ này ban ngày đứng theomột hướng, múa vũ điệu ban ngày; ban đêm lại xoay hướng khác, múa vũ điệu ban đêm. Vậy nên mới gọi là lan Hoàng Vũ.

Tường ngồi xuống chiếc sa lông phía phải chậu lan, anh không cảm nhận thấy mùi hương. Ngồi sang chiếc sa lông bên trái, Tường cũng không cảm nhận được gì.Lẽ ra vào một buổi chiều nắng nhẹ, chớm tiết xuân se lạnh thế này lan Hoàng Vũ phải toả hương đậm đà mới phải. Bây giờ thì Tường lo ngại thực sự. Tường quan sát

xung quanh căn phòng xem có vật gì gây hãm hương của Hoàng Vũ không. Tường chẳng thấy có con thạch sùng hay con chuột chết nào. Cũng không thấy mẩuthuốc lá hay sái thuốc lào vất quanh. Căn phòng quét ve màu ghi sáng. Mọi đồ vật đều còn mới, đắt tiền, tuy không sang trọng lắm. Tường láng máng nhận ra một

điều gì đó, rất có thể không phải nguyên nhân từ chậu hoa. Tường bảo ông Đỗ Hạ Đẳng:- Thưa ông! Chúng tôi thành thật xin lỗi vì đã bán cho ông một chậu hoa không được như ý. Nếu ông thông cảm, chúng tôi xin đổi cho ông một chậu khác, tuỳ

ông chọn.- Chính tôi cũng đang cần cậu nói câu đó - Đỗ Hạ Đẳng vừa nói vừa móc điện thoại di động lên gọi - Chú mày đấy à? Đánh xe đến đưa anh đi có việc nhé!

Một lát sau, chiếc Nissan màu sữa đục đã chở ông Đỗ Hạ Đẳng, chậu lan Hoàng Vũ và Tường xuôi về dưới làng quê. Tường bê chậu Hoàng Vũ vào căn phòngngôi nhà xây giản dị của anh, vừa đặt lên một cái đôn thì mùi hương tinh khiết, thanh cao từ các bông hoa toả ra như quấn quýt lấy anh.

ngôi nhà xây giản dị của anh, vừa đặt lên một cái đôn thì mùi hương tinh khiết, thanh cao từ các bông hoa toả ra như quấn quýt lấy anh.- Bác Đẳng, bác Đẳng ơi, lan Hoàng Vũ toả hương đây này!

Khi ấy ông Đỗ Hạ Đẳng đang đi dạo ngoài sân lan. Ông chạy vào đến nơi dúi sát mũi vào những bông Hoàng Vũ hít lấy hít để một hồi. Ông ngẩng lên nói sẵng:- Cậu chơi xỏ tôi đấy phải không? Làm gì có tí hương nào!

Quả thực lúc này chậu Hoàng Vũ đã ngừng toả hương. Ông Đỗ Hạ Đẳng hậm hực quay ra. Nhưng, khi ông vừa bước chân đến sân lan, chậu Hoàng Vũ lại từtừ nhả hương. Tường gọi:

- Bác ơi quay lại đi! Nhưng bác bước thật nhẹ thôi. Lan Hoàng Vũ lại đang toả hương đấy!Đỗ Hạ Đẳng bán tín bán nghi, bước những bước thật nhẹ. Vào đến cách chậu lan khoảng một mét, mắt ông như loé sáng miệng ông reo lên:

- Đúng, nó toả hương thật!Ông hít thêm mấy lần. Một lát sau ông lại kêu:

- Nó không toả hương nữa, mẹ kiếp! Cái chậu lan của cậu như có ma ám vậy?Tường cũng nhận thấy chậu Hoàng Vũ lại ngừng toả hương. Bây giờ thì Tường dám chắc nguyên nhân gây ra hiện tượng chập cheng thất thường này không phải

tại chính những bông lan. Tường pha một ấm trà mời ông Đẳng, rồi nói:- Để giúp bác chơi được chậu lan Hoàng Vũ này, tôi muốn bác nói thật về bản thân mình một vài điều được không ạ?

- Được chứ sao không! - Ông Đẳng đáp và nhìn soi mói toàn thân ông cựu đại uý làm nghề ươm hoa. Hẳn là một gương mặt phong sương, có vẻ nho nhã nhưngquê mùa; một bộ quân phục cũ bạc màu của Tường đã không cho ông Đẳng một mối ác cảm nào khiến ông phải cảnh giác, giữ gìn.

- Tôi hỏi thật, gần đây bác có đi ăn chơi ở đâu không? - Tường nói đến đó sợ ông Đẳng không hiểu ý nên nói tiếp - Chẳng hạn như bác có đi... vui vẻ với cavehay gái bao gì đó không?

- Chậc! Chuyện ấy thời buổi bây giờ thằng đàn ông nào chả dính một tí. Tớ mới ăn nằm cả đêm với một con bé mười chín tuổi ở khu nghỉ mát Bảo Long, sướnghết tầm ...

- Xin được chia vui với bác - Tường nói, giọng giấu một chút giễu cợt - Vậy chứ gần đây bác có giành giật, đấu đá gì đó với ai không?- Tớ mới đánh nốc ao hai thằng. Cả hai đều là trí thức!

- Bác giỏi thật đấy! Mà nếu không giỏi thì cũng phải quyền biến lắm mới đốn ngã được hai nhà trí thức. Chuyện hấp dẫn nhỉ, bác kể nghe nào!- Thằng thứ nhất là một tên được người ta gọi là nhà văn trẻ. Cách đây mấy năm gã nhà văn trẻ đó viết cái truyện ngắn in báo. Ai đọc cũng bảo thằng cha nhân

vật cán bộ hôi hám, suy đồi ở trong tác phẩm đó rất giống tớ. Mặc dù tớ và tay nhà văn trẻ đó không hề quen biết nhau nhưng đọc xong cái truyện ngắn ấy bụng tớtức anh ách. Được, mày viết ám chỉ ông thì ông sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ! Đúng dịp đó, vị thủ trưởng cơ quan của tay nhà văn trẻ về hưu, tớ liền tư vấn cho

cấp trên bổ nhiệm một gã vốn có gốc gác làm nghề đánh bả chó thế chân vào cái ghế đó. Vậy là trong mấy năm liền vị thủ trưởng nọ nó trị cho tay nhà văn trẻ lên bờxuống ruộng bằng đúng cái miếng võ chuyên dùng để đánh bả chó của nó. Cuối cùng tay nhà văn trẻ bị nốc ao. Mất toi chức trưởng phòng!

- Sau đó anh ta còn viết được văn nữa không?- ấy, cái giống nhà văn nhà vẻ nó quái quỉ lắm, mất chức rồi nó vẫn viết được văn. Nhưng mà ai thèm đọc văn của một thằng mất chức! Nói thật, quan sát thằng

đánh bả chó nó hạ thủ tay nhà văn trẻ, tớ cảm thấy rất sướng mắt!- Còn ông trí thức thứ hai bác cho nốc ao là ai?

- Một tay kĩ sư cầu đường, giữ chức vụ giám đốc công ty. Cái hôm tay này chỉ đạo thi công mở rộng đường phố chạy qua nhà tớ, tớ bảo nó tiện thể có xi măng,cát, đá, đổ giúp tớ cái sân sau. Tay này hứa dơi hứa chuột làm đẹp lòng tớ lúc đấy, sau đó thì quên luôn. Được rồi, mày không biết đến tao thì tao sẽ cho mày biết

tao là ai! Trí thức nghĩa là những kẻ có bằng cấp, học vị. Ta sẽ đánh vào đúng cái bằng cấp, học vị của nó thì nó mới đau nhớ đời. Tớ xem bằng đại học của nó,không có tì vết gì. Xem tiếp bằng cấp ba, cũng không có gì sơ xuất. Xem đến bằng phổ thông cấp hai. Đây rồi! Phốt đây rồi! Dòng ngày tháng năm sinh lệch một

con số so với lí lịch cán hộ. Tấm bằng lại viết bằng hai loại mực. Tớ biết đây là tấm bằng tốt nghiệp xịn, chẳng qua thời chiến tranh người ta chưa coi trọng bằng cấplắm nên viết sơ suất thôi, nhưng vì ghét thằng kĩ sư, tớ xui mấy thằng đầu mặn phát đơn kiện. Tay kỹ sư vừa chỉ đạo làm xong cái đường phố ấy cũng là lúc nhận án

kỉ luật khai man bằng cấp, mất chức giám đốc công ty, xuống làm công nhân nấu nhựa đường. Nói thật, quan sát thằng kĩ sư bằng đỏ thất sủng như chó cụp đuôiphải gò lưng thổi lửa nấu nhựa đường tớ cảm thấy rất sướng mắt!

- Vậy là rõ rồi! Loại người như bác sẽ không bao giờ chơi được lan Hoàng Vũ!Câu nói mang tính khẳng định của Tường khiến Đỗ Hạ Đẳng sững người như kẻ chết ngồi trên sa lông. Đẳng nhìn chăm chắm vào Tường một hồi lâu. Hóa ra cái

thằng cha làm nghề ươm hoa ở cái làng ven biển nghèo xác xơ có tướng mạo hiền hiền, quê quê này không dễ bắt nạt. Bây giờ, Đỗ Hạ Đẳng mới nhận ra mình dạidột, đã coi Tường như một đứa trẻ con quê mùa, mông muội, chót kể ông ổng những chuyện “sát phạt nội bộ” mà đáng lẽ ông phải giữ kín.

- Bác không chơi được các loại địa lan, đặc biệt là lan Hoàng Vũ - Tường nhắc lại như có ý nhấn mạnh ý nghĩa của lời nói - Giống lan này chỉ có thể lớn lên,khoẻ khoắn, đâm hoa, toả hương khi người chơi nó có một trái tim nhân hậu, một tâm hồn thanh cao, khả ái. Còn bác thì thân xác nhầy nhụa mùi nhà thổ, lòng dạ tối

tăm, hẹp hòi, đê hèn, độc ác...- Câm mồm! Tao đến đây để bắt mày phải đền chậu hoa chứ không phải để nghe mày lên lớp đạo đức - Chợt nhìn thấy một chữ Nho do Tường viết bằng mực

Tàu trên nền giấy đỏ treo trên tường, Đẳng tỏ ra khinh bỉ, nói tiếp - nho nhe mất nhóc nhách! Liệu cái phần hồn đấy!Nói xong, Đỗ Hạ Đẳng phăm phăm bước ra sân lan, chọn một chậu hoa to nhất, nở nhiều hoa rực rỡ nhất bảo chú lái cùng ông khiêng lên xe. Khi ngồi vào ghế

xe, trước khi đóng cửa, ông chỉ vào chậu lan nói với Tường:- Chậu lan này to hơn chậu lan tớ vừa trả lại một tí, nhưng tớ không trả thêm tiền đâu vì tớ phải phạt cậu về tội xấc láo. Chào nhé. Chúc mừng năm mới...

Tường định nói với Đỗ Hạ Đẳng rằng: Chậu lan ông vừa bê tuy nó to, hoa nở xum xuê, nhưng nó là giống lan Trần Mộng, nó đứng hàng sau cùng trong các giòngđịa lan cả về vẻ đẹp lẫn hương thơm. Giá của nó chỉ bằng nửa chậu lan Hoàng Vũ. Nhưng không kịp nữa rồi. Chiếc Nissan đã nổ máy và lao đi rất nhanh.

(Báo Văn nghệ)

Chuyến xe chiều ba mươi

-Thu ơi! Xuống bếp coi nồi bánh cho má đi con. Má mắc ra chợ mua thêm mấy thứ lặt vặt, kẻo chiều ba con về tới rồi!- Má biểu thằng Thành đi, con hổng coi đâu!

Nghe vậy, má Thu ngạc nhiên hỏi:- Sao vậy con, em Thành coi sao được? Nó hổng biết canh chừng, lửa củi lan ra cháy nhà thì sao?

Thu ngồi lặng thinh, mắt thẫn thờ buồn thiu. Thu chẳng thiết làm gì lúc này. Chiều ba mươi rồi, mai là Mồng một Tết, thằng Thành đã có bộ đồ mới, “kẻng” hết

Thu ngồi lặng thinh, mắt thẫn thờ buồn thiu. Thu chẳng thiết làm gì lúc này. Chiều ba mươi rồi, mai là Mồng một Tết, thằng Thành đã có bộ đồ mới, “kẻng” hếtchê! Từ hôm qua tới giờ, nó hết mặc vô rồi cởi ra, ngắm nghía vuốt ve không chán mắt. Còn Thu… kể như không ai “ngó ngàng” gì tới. Má lo sắm cho thằng Thành,

còn Thu, lẽ ra bữa nay cũng đã được má sắm cho nhưng tại má giận Thu, má ghét Thu! Rõ chán, chỉ có mỗi cái việc Thu đánh rớt cái khăn lau chén có dính xà bôngvào nồi canh chua từ tuần trước mà má giận Thu, rồi má “tuyên bố” với cả nhà là Tết này “cúp” phần quà của Thu. Thu trách mình lơ đễnh thiệt. Nhưng mà cái việc

cỏn con ấy, Thu có muốn thế đâu. Má “ác” quá chừng, lại còn mét ba nữa!- Đấy, ông coi! Con gái bằng này mà chẳng biết làm gì cho ra hồn. Nồi canh chua ngon thế, bao nhiêu là cá, giờ chỉ có nước mang mà đổ đi. Đoảng ơi là đoảng!

May mà nghe xong, ba Thu không nổi nóng. Ba chỉ rầy Thu mấy câu. Hôm sau, trước khi theo xe lên lâm trường, ba kéo Thu đến, dặn:- Con ở nhà ráng ngoan nghe! Ba đi công tác có lẽ hăm chín, ba mươi Tết ba mới về được. Cứ yên tâm, má con giận má la con vậy thôi. Được để ba tính phần

con. Thế nào, có tiền thưởng, ba cũng mua cho con… Mà thôi, nói trước mất vui!Lúc ấy, Thu chỉ muốn ôm chầm lấy ba mà hôn cái mùi mồ hôi nơi ngực áo ba. Thu thương ba quá, mắt tự dưng cay cay. Má Thu lúc ấy - chừng như có vẻ ân

hận - dịu giọng:- Thôi, để ba đi Thu à!

Thu vẫn còn giận má, giả đò không nghe. Ba khẽ khàng:- Ba hứa mà! Thôi cho ba đi nào. Vô coi phụ má con dọn dẹp nhà cửa đi, con gái ngoan của ba!

Ba đi rồi, chỉ còn mấy má con ở nhà. Thằng Thành cậy mình nhỏ suốt ngày chạy rông. Việc gì má cũng chỉ sai Thu, chán muốn chết!Suốt ngày, Thu chỉ mong ba về.

Bữa qua hăm chín. Nay là ba mươi. Sáng đến giờ chẳng thấy ba về. Thu muốn chạy ra đường ngóng cổ đợi chiếc xe lấm lem bụi đỏ từ phía lâm trường về, chiếcxe Thu đã quen thuộc, thân thiết. Ba của Thu thường chiều chiều từ trên chiếc xe ấy, bước xuống, quần áo lem luốc, mặt nhễ nhại mồ hôi. Thu cảm thấy nôn nao nhớ

ba, nhớ chiếc xe, không biết chiều ba có về không…- Đi, xuống bếp coi giùm má đi nào, chiều ba con về tới đó!

Má lại giục. Thu miễn cưỡng đứng lên nghe theo, gan ruột nóng như có lửa.Chiều.

Một giờ… Rồi ba giờ…Ba vẫn chưa về.

Cu Thành, em Thu, vẫn loanh quanh trước cái gương ngắm nghía bộ đồ mới. Cái thằng, chẳng “biết điều” tí nào, chốc chốc lại còn lấy ra khoe với Thu:- Chị coi, em đẹp chưa nè!

Mấy lần, Thu suýt phát cáu với nó. Tội nghiệp, nó có lỗi gì đâu? Chỉ tại Thu đang mong ba đó thôi.- Thu ơi! Thu à! Má biểu nè con!

Nghe má gọi, Thu đang ở ngoài cửa đáp: - Có chuyện gì vậy má? Để con đợi ba chút xíu mà!

- Thôi, vô đây, má cho con đây nè.Thu ngờ ngợ, quay vô nhà. Má chìa ra trước mặt Thu một bộ đồ may bằng vải bông màu hồng lấm chấm.

- ở đâu vậy má? - Thu mừng rỡ hỏi.- Thì má sắm chứ ở đâu.

- Thế sao má biểu…- Thôi, bận thử tôi coi. Tôi nói giỡn chớ bộ. Ngốc ạ!

Thu cười nhỏ nhẻ, ngượng nghịu. Vừa lúc Thu định đến trước gương bận thử bộ đồ mới thì có tiếng xe ôtô quen thuộc dừng trước cửa nhà. Ba về. Đúng là baThu đã về. Thu quên cả bộ đồ má cho, lao ra ôm lấy ba:

- Sao ba về muộn vậy ba?- ờ… tại ba còn mắc ghé cửa hàng.

Ba mở túi vải, lấy ra không phải một mà những hai bộ đồ:- Đó, con một bộ, em Thành một bộ. Tiền thưởng của ba đấy nghe!

Thằng Thành chạy lại mừng rỡ:- Thế là con có hai bộ, má à!

- Con cũng có hai bộ, nè ba!Ba Thu quay qua ý chừng hỏi má. Má không đáp. Hai người nhìn nhau mỉm cười. Hai chị em Thu tíu tít khoe với nhau quần áo mới!

- Đặt cho ba ấm nước nóng Thu ơi! Ba tắm một chút để đêm còn đón giao thừa chứ!Thu mau mắn đáp:

- Dạ, ba nghỉ đi, con làm ngay đấy.Nhưng má đã đỡ lời:

- Thôi, con cứ bận thử cho ba con coi đi. Để đó má lo!Thu nhìn má toét miệng cười.

(Báo Văn nghệ)

Tiếng hót

Ca vang lên đón mùa xuân, trong veo, lảnh lót nhất là họa mi. Líu ríu vừa thả vừa xâu chuỗi âm thanh rích rích rắc rắc, râm ran không biết mỏi là bầy sáo sậu. Cứanh chàng, cô cậu này ngừng thì chàng kia, cô khác tiếp theo luôn.

Mùa xuân lim dim, mùa xuân bừng tỉnh, mùa xuân dường như cũng nhảy nhót, đung đưa theo tiếng hót của họa mi, của bầy sáo tung ta tung tăng trên cánh đồng,nhí nha nhí nhoáy chuyền cành trong vòm cây ngan ngát hương hoa…

Buổi sớm, mùa xuân long lanh trong từng giọt sương trên lá, trên cành, nghe tiếng hót mà rung rinh theo.Họa mi chỉ hót mượt mà nhất trong yên tĩnh.

Họa mi chỉ hót mượt mà nhất trong yên tĩnh.Sáo thích ríu rít trên lưng trâu đứng im cho sáo vừa nhặt lũ ruồi rồi tắc lưỡi reo lên: “Bắt bắt! Bắt bắt!”. Khoái chí, trâu nghếch sừng, hé răng: “ò… ò… ọ ọ

ọ…”… Không hót được, trâu ngân nga thế thôi, nghe thấy êm tai, đẩy chuỗi nhạc vui của sáo lên cao…Mùa xuân, vút cao là tiếng hót của các loài chim.

Không có mỏ, ếch “hót” trong cổ họng, khen: “Được! Được, được!”… thán phục chim.Lợn thì ủn à ủn ỉn.

Gà trống “ò… ó… o…”. Gà mái tác, toang tác nghe mà muốn nhấc chân lên để nhảy!…Tất cả đều… hót vang.n

(Báo Văn nghệ)

Cành san hô đỏ

Nhà bé Linh có một cành san hô đỏ. Không hiểu bố để đó từ lúc nào. Cành san hô rực rỡ quá. Linh thích quá, ngắm mãi mà không chán. Chị Nhi khoe với Linh:đấy là quà của bố tặng chị, năm chị lên sáu tuổi cùng theo bố ra bãi. Quê Linh năm nào cũng có lũ, những con lũ làm ngầu đục cả nước biển.

Cứ hễ tan bão, tan lũ là người lớn trong làng ra bãi kiếm củi từ những cánh rừng xa xôi trôi về. Linh không trông thấy, nhưng nghe mẹ kể: Có năm những ngôinhà thật lớn ở đâu cũng bềnh bồng trên sóng. Những cột nhà, những vì kèo tấp vào bãi, những chiếc mâm gỗ chạm trổ thật đẹp cũng có người nhặt được.

Linh không thích những thứ ấy. Linh muốn theo mẹ ra bãi, nhặt san hô mà thôi. Không hiểu chị Nhi đã đọc quyển sách nào nói rằng có những vùng đảo san hôkhổng lồ. Những con tàu to, đi thật xa, thuỷ thủ thường thấy vùng biển ấy đỏ rực lên, nhất là khi ánh nắng mặt trời chiếu thẳng xuống. Thuỷ thủ gọi đó là vùng đảo

thần tiên của nàng tiên cá. Mỗi năm nàng tiên cá thường cắt những cành san hô thả trôi theo sóng gửi về đất liền. Có thể cành san hô trên tường kia là của nàng tiêncá gửi cho hai chị em bé Linh.

Theo mẹ ra bãi Linh chưa hề thấy một cành san hô nào đẹp như vậy. Thường nó đã phai màu, bạc phếch hoặc đã trốc lớp vỏ màu đỏ diệu kì trơ ra bộ xương

đen bóng, khẳng khiu. Linh sực nhớ đến một quyển sách nào đó mà chị Nhi đã đọc cho Linh nghe: Cành san hô đỏ tặng cho những người dũng cảm đã vượt quasóng gió và bão táp. Và bất giác Linh nghĩ đến bố giờ này đang ở ngoài biển xa, bố cũng xứng đáng có một cành san hô đỏ như thế, đẹp rực rỡ hơn thế.

(Báo Văn nghệ)

Hương vị của trái cây

Buổi tối, cả nhà họp mặt đông đủ. Trường khoe:- Hôm nay em đến nhà cô Sáu, cô cho ăn vải Thanh Hà, ngọt ơi là ngọt. Quả thì to bằng quả bàng mà hột lại chỉ nhỏ bằng hột nhãn thôi nhé. ăn chán ăn chê mãi

không hết.Vải thường thì cả nhà ai cũng biết, nhưng vải Thanh Hà quý như vậy thì chỉ có bố mẹ biết thôi. Mặc dù Tường đã tả khá tỉ mỉ như thế nhưng mấy chị em chưa ai

hình dung ra quả vải Thanh Hà nó như thế nào. Thế cũng coi như là chưa biết.Liên hớn hở:

- Vải cũng không thích bằng quả trứng gà! Cả nhà có ai được ăn quả trứng gà bao giờ chưa nào? Quả “mùa hoa lê-ki-ma nở” ấy mà! Đúng là chưa ai được ănrồi. Ôi chà! Nó beo béo, ngầy ngậy và rất thơm. Bửa ra, cứ y như lòng đỏ trứng gà luộc rồi ấy nhé, toàn bột là bột… Chú Lâm cho em năm quả, ngon thì ngon thật,

nhưng ăn nhiều quá, ngán đến mang tai.Đúng là cả nhà chưa ai được ăn quả trứng gà lạ lùng đó thật. Ai cũng thắc mắc: Không biết nó hình thù ra sao nhỉ? Vỏ màu gì? Có đúng là có bột màu vàng như

lòng đỏ trứng gà không?Trường và Liên đều khoe cả rồi, chỉ riêng Ngọc Loan từ nãy vẫn lúi húi làm gì trong buồng. Mẹ quay vào, hỏi:

- Thế còn Ngọc Loan hôm nay đi những đâu?Ngọc Loan bưng ra một đĩa đầy những quả mơ rất to. Vừa đi vừa kể:

- Con đến chơi nhà bác Định. Bác mới đi thăm chùa Hương, mang về đầy một làn mơ. Bác cho con nhiều lắm nhưng chỉ ăn vài quả thôi. Bác cứ nói mãi con phảinhận và mang về cho cả nhà cùng ăn.

Thế là chẳng cần Ngọc Loan kể mơ chùa Hương to như thế nào, ngon giòn như thế nào, cả nhà ai cũng biết được chùa Hương có giống mơ thật đáng quý, đúngnhư người ta vẫn thường khen.n

(Báo Văn nghệ)

Cây bồ kếp lá vàng

Lại có thư của Phúng bạn tôi từ Buôn Ma Thuột đất Tây Nguyên gửi ra. Lại vẫn là những dòng chữ gần đây bỗng líu ríu nét nọ lẫn nét kia, viết trên mảnh giấy rìalờm xờm vết xé từ vở học trò. Cầm thư mà hình dung ông bạn mình vừa từ ngoài đồng ruộng bước vào nhà, đầu vẫn nguyên cái mũ lá rộng vành, trên người độc cái

quần xà lỏn, uống xong bát nước chè lớn, khoát bàn tay to sều chai sần vì cày cuốc, bảo thằng con út mười ba tuổi đang ngồi học ở góc nhà: "Ê, cún! Cho bố mượncái bút và cuốn vở, bố viết cái thư nào!". Nếu nhân loại có những tộc người mang tiếng là hay bi quan, như dân ấn Độ, lại có người được tiếng là lạc quan hơn người,

như dân La Mã, thì Phúng bạn tôi thuộc hạng người sau.Lại na ná như trước, khoe đất đai tươi tốt, công việc thịnh đạt, đàn địch thì ít động tới, còn thơ ca hò vè thì dăm bữa nửa tháng lại có một bài, nhưng lần này

Lại na ná như trước, khoe đất đai tươi tốt, công việc thịnh đạt, đàn địch thì ít động tới, còn thơ ca hò vè thì dăm bữa nửa tháng lại có một bài, nhưng lần nàyPhúng giục tôi thu xếp vào chơi. Vào chơi mà xem Phúng đang vào vụ thu hoạch. Vào mà xem cà phê mùa này trĩu trịt cành la cành bổng, thu hái xong ước trên một

tấn. Ngô giống mới bắp dài hơn gang tay bẻ về vàng rực cả khoảng sân rộng trước nhà. Bao tải, thúng, địu căng ních, đầy phè rồi mà đậu xanh chưa đập vẫn cònchất mấy đống lớn ngoài hiên. Vào mà xem cả một vạn thước vuông đất đỏ hồng xuê tơi sau mưa bạc trong nắng vàng. Đàn gà ba trăm con, đỏ ối cả vườn cây ăn

quả toàn lê, táo, đào, mận, cây nào cũng ngùn ngụt như đám lửa đang bốc ngọn. Cuộc sống rõ ràng như như chính lệnh, cây cối, sản vật, muông thú vật nào ra vậtấy, còn con người thì tự hiển lộ, có cảm giác được tôn lên thành đấng bậc, sánh cùng cái lớn lao như vũ trụ, tự nhiên mà chẳng cạnh tranh ai!

Từ miền Bắc, Phúng dắt díu vợ con vào vùng đất Krông Ana này ngay từ sau ngày thống nhất đất nước. Cũng là điều cực chẳng đã mà dấn thân liều lĩnh vàocuộc phiêu du. Cực chẳng đã vì lương anh giáo quèn không nuôi nổi cô vợ trẻ với ba đứa con trẻ ba năm liền. Lại thêm những eo sèo rắc rối, những định kiến chật

hẹp trong các mối quan hệ. Còn liều lĩnh là bởi mới chỉ là nghe nói mà tin đó là vùng đất lành, đất vàng đất bạc, chứ đâu đã mục sở thị. Phúc thay cho những kẻkhông trông thấy mà vẫn hằng tin! Anh giáo được chia cả một vùng đất rộng hơn hai chục héc ta. Tất nhiên chỉ là đất hoang. Nhưng quả nhiên như trời sinh vạn vật

bằng hiếu đễ, đất nuôi vạn vật bằng ăn mặc, thấm thoát trong vòng có dăm năm, cái gia đình anh giáo ấy đã vượt qua cảnh đói nghèo, bước sang thời kỳ thăng hoa,tròn đầy trong no ấm, sởn sơ, dư dật.

Đọc thư Phúng mà mừng cho Phúng. Con người nhất thiết phải được sống trong no đủ cái đã. ấy thế! Nhưng mừng cho bạn mà không khỏi ngờ ngợ. Ngờ ngợlắm. Vì ông bạn mình, từ thuở thiếu thời sống với nhau, và ngay trong những lá thư nao nức khoe khoang sự thành đạt trong công cuộc làm ăm, nét chữ thì rối rít,

ngôn ngữ thì ồn ào, mà cốt cách vẫn không phải là kẻ chí thú làm ăn, vẫn không phải là người để cả tâm lực vào miếng cơm, manh áo, đồng tiền. Ngờ ngợ lắm. Vìcảnh trong thư như từ bàn tay vẽ ra, hư thực lẫn lộn, sản phẩm của một đầu óc lãng mạn, chứ không phải cảnh đời thật nó là như vậy.

Ngờ ngợ lắm. Vì tháng bảy năm ấy liên tiếp mấy thư liền. Không kìm giữ được nữa, Phúng cho tôi biết kế hoạch làm ăn mới của mình và ráo riết giục tôi hãy nghĩlại, hãy bỏ mảnh đất Thủ đô chật chội vào đây, chung sức với anh. Hai mươi héc ta đất đã có sổ đỏ của Phúng sẽ biến thành một trang trại kiêm vùng du lịch sinh

thái. Chà! Phúng sẽ chặt hết vườn cây ăn quả. Phúng sẽ trồng cỏ nuôi bò. Tính ra nếu cứ ba mươi cân cỏ cho một cân thịt bò thì Phúng sẽ nuôi được hai trăm conbò. Phúng sẽ đào hai cái hố lớn. một cái mười héc ta, một cái năm héc ta. Và theo khoa học, một mét nước cho một cân cá thì sẽ cơ man nào là cá. Nhưng cá ấy

không để ăn, không để bán, mà là để nuôi cá sấu. Cá sấu! Trứng cá sấu ấp ba mươi quả, nở hai mươi tám. Một tháng tuổi giá một chỉ vàng một con... Còn một đôisấu lớn hết cỡ, chừng một sải tay, giá những mười hai cây vàng. Chưa hết! Phúng sẽ trồng tre trên mấy quả đồi. Để trồng tre sẽ thuê máy đào lỗ của Pháp, giá thành

chỉ năm trăm đồng, bằng giá một chén trà, một lỗ thôi. Khách du lịch sau khi thăm nơi nuôi cá sấu sẽ về nghỉ dưới bóng tre và thế là:Ngày xưa theo mẹ hái măng [/i]

Giờ trồng trẻ mới phải chăng đỡ sầu. [/i]Cây tre nào cũng cúi đầu [/i]

Che sương giá lạnh lá trầu thêm xanh. [/i]Măng non khỏi bị nắng hanh [/i]

Bên nhau cùng mọc mai thành bụi to. [/i]Cò ơi mày chớ có lo! [/i]

Tre ta ấm bụi nhà cò ấm hơn [/i]Rúc ra rúc rích bầy chim [/i]

Võng đưa ta ngủ nổi chìm giấc mơ(*) [/i]Ôi! Những vần thơ mộc mạc, giản đơn mà dồi dào cảm xúc của bạn tôi!

*Chúng tôi cùng dạy với nhau ở một trường cấp hai huyện miền núi Xín Chải. Xín Chải, cái tên chẳng gợi một khái niệm rõ rệt, một ấn tượng nào. Nó cũng mờ

nhạt cũng như cái trường cấp hai vẻn vẹn ba chục học trò, hai anh giáo cùng một cô giáo tên Dự của chúng tôi. Cô Dự hồi đó tuổi ba mươi, hơn chúng tôi sáu tuổi.Cô Hà Nam theo gia đình lên đây khai hoang từ đầu những năm sáu mươi. Vóc mập mạp thôn nữ. Nhưng cô có khuôn mặt xinh xắn. Cô dạy thể dục và nữ công.

"Các em chú ý. Khi ta uống rượu, rượu vào thẳng máu. Thở cũng vậy. Ô xi vào thẳng máu. Xem thế đủ biết thở quan trọng như thế nào!". Đó là bài học cô đã dạyhọc trò và dạy luôn cả tôi[/i] và Phúng. Tôi dạy các môn khoa học xã hội. Phúng dạy các môn khoa học tự nhiên, nhưng Phúng lại là chàng trai khôi ngô, tuấn tú, tài

hoa, biết chơi đàn và sáng tác thơ ca. Vóc thấp đậm, vai xuôi. Mặt tròn, mũi cao, mắt sáng, tóc xoã gáy. Ngày đến nhận việc ở trường, vai đeo ba lô, tay Phúng xáchhộp đàn viôlông. A! Nghệ sĩ viôlông! Phố huyện xôn xao. Chẳng nề hà, cân nhắc điệu đàng, nghệ sĩ ra mắt luôn công chúng tắp lự. Chủ nhật ấy, dân phố và kẻ mua

người bán vây quanh cái sân khấu mới dựng ở giữa sân chợ nghe loa phát bản tin cổ động bầu cử Hội đồng Nhân dân hai cấp xong là nghe Phúng cò cử cây nhị Tâybản nhạc Làng tôi xanh bóng tre.

Phố huyện chỉ là hai dãy nhà gianh áp mặt vào nhau, dài hơn trăm thước. Một cái loa hai nhăm oát mắc ở ngọn cây gạo đầu phố đủ cho cả phố nghe tin tức vàtiếng đàn cò cưa của Phúng. Tình[/i] thân ái vừa mang tính cổ truyền nơi phố huyện vừa là nền nếp gần gụi trang nhã của nghề dạy học, càng dư thừa điều kiện nẩy

nở, nên quan hệ giữa anh giáo và người phố huyện càng mau chóng trở nên thân mật. Thân mật lắm. Thân mật đến mức suồng sã. Đến mức gặp anh giáo đi chơi phố,có thể dúi ngay vào tay anh giáo cái bánh tẻ, phẩm oản, quả cuối hoặc gọi ra một chỗ ghé tai tưởng nói gì quan trọng, hoá ra hẹn chủ nhật tới này mời anh giáo đến

đụng một góc cầy tơ. Phúng hoạt bát, quảng giao, hoà hợp với cuộc sống hồn nhiên chất phác nơi huyện nhỏ. Quen thân với tất cả mọi người. Nhiều lần, anh cònmượn được cả ngựa cả súng săn của gia đình học trò đi chơi, đi săn trong rừng.

Phố huyện Xín Chải nhỏ teo. Nhất cử nhất động của mỗi nhân vật ở đây đều được nhân lên thành bội số theo quy luật khuếch đại. Trên quả đồi sau phố có cáinhà thờ Kitô giáo đổ nát từ thời Tây, gần đây có thêm giáo dân từ miền biển Nam Định, Thái Bình lên khai hoang mới được dựng lại. Nhưng chỉ là một gian nhà gỗ

và một tháp chuông nhô cao mái nhọn hoăn hoắt bằng gỗ pơmu thôi. Nhưng tiếng chuông nhà thờ ngày hai buổi sáng chiều nhắc nhở con chiên đến giờ kinh nguyệncũng theo quy luật khuếch đại, nên sang sảng văng đảo, âm âm, inh inh trong mỗi căn nhà, mỗi hồn người.

Đó là những ngày sống vui vẻ nhẹ nhõm nhất trần đời của chúng tôi. Chẳng vướng bận, lo âu. Cũng chẳng có gì phải khắc khoải dằn vặt. Sáng lên lớp, chiều soạnbài. Tối họp hành với bà con hoặc thăm nom học trò. Cơm ăn ngày ba bữa có Dự nấu giùm. Lương thực thực phẩm được cung cấp theo tem phiếu. Mỗi năm năm

mét vải đủ may một bộ cánh mới. Dưới vòm trời phố huyện miền núi, trôi đi trong êm đềm một đời sống tự nhiên thuần phác, xa cách hẳn sự vật lộn nhọc nhằn.Chủ nhật mỗi tuần là những ngày thần tiên. Leo lên mình hai con ngựa thồ tầm thấp xấu mã và hiền lành, trên vai ghềnh gàng hai khẩu súng kíp mượn của dân,

chúng tôi thoát khỏi lốt những anh giáo xoàng xĩnh phố huyện, biến thành những chàng kỵ sĩ, những trang đại hiệp dong duổi trong các khu rừng gần xa.Phúng, tất nhiên là anh chàng khởi xướng ra những công cuộc này. Phúng truyền dẫn sang tôi niềm say mê và tình yêu cuộc sống giữa thiên nhiên. Hoá ra ông trời

ăn ở cũng không đến nỗi thiên vị. Mảnh đất xa xăm tưởng là hoang vắng, buồn tẻ mà đâu có thiếu niềm vui. Bồ đề, gu đay, thành ngạch chen cành nơi vùng rừng thấpvào độ thu sang ràn rạt tiếng vẫy cánh của bầy chim câu béo nục. Trên cao hơn, nơi sa mộc xanh như những bụm khói đặt và các giống thông thơm hắc mùi tinh dầu

vu vu gió thổi là nơi con sóc đuôi bông nhảy nhót, truyền cành. Viền một vệt dài cạnh cái thung lũng hình lá đào là rặng gioi cổ thụ mùa này lất phất bay cả ngàn chùmhoa bông trắng ngà hình chiếc đuôi chồn. Buộc ngựa ở cửa rừng, chúng tôi rẽ lau lách, trước hết tìm đến con suối len lỏi giữa hai lèn đá. Giơ súng lên, Phúng lại chúc

nòng, xa rời điểm xạ; trong làn nước trong leo lẻo, có đàn cá chép đỏ hồng đang phất đuôi, múa vây, vô tư lượn lờ, đẹp như tranh vẽ. Ngẩn ngơ một lúc, Phúng lạikéo tôi đi. Tháng bảy trong những thung lũng nhỏ đã quang quẻ bóng lúa, lúc này đang dày đặc bóng con chim cu cặm cụi nhặt thóc rơi. Chim cu đi cả bầy, hàng

kéo tôi đi. Tháng bảy trong những thung lũng nhỏ đã quang quẻ bóng lúa, lúc này đang dày đặc bóng con chim cu cặm cụi nhặt thóc rơi. Chim cu đi cả bầy, hàngtrăm con. Nhưng từ trên cao nhìn xuống vùng ruộng xam xám màu chân rạ chỉ thấy những cái đầu gật gật và tim chúng tôi dường như thót lại vi chợt vọng bên tai

tiếng chân bầy chim chuyển vừa hối hả vừa rụt rè trên mặt đất.Đoàng! Đoàng! Hai phát súng kíp nổ vang khoang trời hẹp, phá vỡ sự yên tĩnh đang được nâng niu trên cả một vùng núi đồi. Buông súng, ngửa mặt nhìn trời,

chúng tôi nhìn thấy những cánh chim vẫy đạp loạn xạ, hốt hoảng nghiêng ngả, chòng chành. Lạ thay, bốc bay lên cả, cả trăm con chim vẫn trong tư thế bầy đàn và chỉsau ít phút khiếp đảm, kinh hồn, đã lấy lại bình tĩnh nhanh chóng tạo thành một vùng lượn mềm mại, rồi quay tròn, cuối cùng đổ nghiêng xuống khu rừng lúp xúp bụi

cây tầm thấp ở phía bên kia, đối diện với chúng tôi. "Chúng biến đâu mất rồi!". Nhổm dậy, Phúng kêu khe khẽ rồi đưa mắt kiếm tìm. Hai chúng tôi xách súng lomkhom vượt qua mấy tràn ruộng vừa nãy đầy bóng chim. Gặp một bờ ruộng cao, chúng tôi nằm phục xuống, giấu mình và nhận ra bầu trời trên đầu mình bỗng nhiên

ắng lặng như cõi vô hồn.Không! Đàn chim cu không biến đi đâu hết! Cả tôi và Phúng đều đã nhìn thấy chúng. Rìa thung lũng bên kia, cạnh một thửa ruộng lớn ở chân bìa rừng, như từ

trong chiêm bao, như được hưởng phép màu nhiệm, một cây bồ kếp cổ thụ vừa hiện ra. Cây bồ kếp thân lớn tày ôm, lá óng ánh sắc vàng kim khí, chóp nhọn đanggiang cành mời mọc. Như những con thằn lằn, hai chúng tôi thận trọng bò tới. Rồi không ai bảo ai, chúng tôi cùng lật ngửa người trên mảnh ruộng dưới chân cây bồ

kếp nọ. Và lập tức có cảm giác cả hơi thở của mình cũng biến mất trong khoảnh khắc. Im lặng đã được đổi lấy im lặng tuyệt đối, vĩnh hằng. Im lặng như cõi vô thanh.Đàn chim cu cả trăm con hiển nhiên đã biến thành tượng đá, ngậm mỏ, im phắc trong sự chở che hào hiệp quạnh hiu và bí ẩn của cây bồ kếp già trông xa hệt như

kim tự tháp nhưng long lanh ánh vàng.Ôi! Chúng tôi vừa bắt gặp điều siêu tưởng, xuất thế. Hoà tan vào cảnh quan kỳ lạ, trong trạng thái tôn thờ, ngưỡng vọng, chúng tôi đã bắt gặp cái phân tâm của

tâm hồn mình. "Cây gì mà đẹp đẽ, lạ lùng đến thế kia! Domine non sum dignus. Ôi! Đức chùa trời, con không xứng đáng!". Mắt khim khíp, môi Phúng bỗng lật bậtrun rẩy. Một hạnh phúc trần thế và cao siêu, đã đạt tới là đây và thế là chẳng còn gì để nói với thời gian nữa rồi ư? Đó là những ngày Phúng bắt đầu yêu, và được

yêu.*

Khoảnh khắc thần tiên ấy thật sự khó hiểu với hệ diễn giải thông thường và mong manh quá. Vì chẳng bao giờ, chúng tôi còn gặp lại được nó nữa rồi. Chủ nhậtsau đó, Phúng dậy sớm, nháy mắt bảo tôi: "Tới đi đằng này cái nhé". Rồi xách cái hộp đàn đựng cây viôlông đi. Buổi trưa, Dự lên buồng tôi, vẻ hớt hải khác thường.

- Anh có biết Phúng đi đâu không?- Chắc là đến một gia đình học sinh nào.

- Học sinh nào?- Hay là đến nhà cô Tâm ở xóm Tân Lập?

- Tâm!Mặt Dự tái nhợt. Chỏm gò mũi Dự lấm tấm mồ hôi. Tình yêu như rượu, như ô xy hít thở vào thẳng mạch máu, tác động ngay đến cơ thể con người. Dự từ đâu

đã thầm yêu Phúng. Cô giáo không thể chịu đựng nổi khi ở lớp Phúng dạy xuất hiện một nữ sinh như Tâm. Tâm ở trong đám học sinh từ Hải Hậu, Nam Định lên khaihoang mới nhập học. Một thiếu nữ đã nẩy nở trọn vẹn ở tuổi mười bảy. Dong dỏng cao. Mái tóc dài óng mượt. Gương mặt trái xoan với cặp mắt nai hay nhìn xuống,

cho ta ấn tượng đậm đà về vẻ nhu mì, mộ đạo, khác hẳn cái cảm tưởng khi ta nhác thấy cây thập tự bằng bạc buông từ cái cổ nõn nà xuống khuôn ngực trinh nữtròn trịa nén căng nhục cảm sau làn áo màu mận tím của cô.

Ngồi xuống, thở hắt ra, cô giáo ôm mặt nức nở:- Không đến nhà Tâm, nhưng cũng là đến với Tâm. Anh Phúng anh ấy đến kéo đàn ở nhà thờ đấy, anh ơi!

Dừng lại, rồi ngoảnh mặt đi, nước mắt chan chan, Dự nghẹn ắng:- Em sợ nhất là anh Phúng chấp nhận làm lễ cưới Tâm ở nhà thờ. ở đây, huyện ai người ta cho phép thế. Anh ấy dại dột mà không biết mình dại dột, anh ơi.

Dự đã không quá lo xa.Dự đã dự đoán vì đã nhận ra tính tình anh giáo Phúng. Phúng, cái bản tính hồn nhiên, ưa thích phiêu lãng, niềm say mê vẻ đẹp đẽ, cao quý sơ khởi. Phúng đã yêu

Tâm cô bé học sinh lớp 7 xinh đẹp, con chiên ngoan đạo và từ đó chủ nhật nào cũng đến kéo đàn cho tốp trinh nữ trong nhà thờ Kitô giáo nọ tập hát những bàithánh ca. Tình yêu giống như rượu nặng, chẳng thể giấu giếm được. Huống hồ ở nơi phố huyện chật hẹp này. Biết làm sao được, khi theo quy tắc cổ điển, mọi thể

chế xã hội từ trước đến nay chưa bao giờ biết vượt ra khỏi sự hạn hẹp của mình, luôn tỏ ra khôn ngoan, bằng bản năng, đã biết tự vệ cho lợi ích của mình. Đám cướianh giáo Phúng lấy cô học trò tổ chức trong nhà thờ có vị linh mục làm phép bí tích. Đó là một đêm giá lạnh. Hai dãy nhà phố huyện thiêm thiếp dưới làn mưa rây

xám mờ. Văng ra từ ngọn tháp nhà thờ le lói ánh bạch lạp là tiếng chuông mừng lanh lảnh và âm u, mịt mờ.Đã mất đi rồi cái linh hồn tươi tắn, ngày tiếp ngày lúc này là những nỗi niềm nặng nhọc nối theo nhau. Phúng về ở nhờ bên nhà vợ, tít tận xóm Tân Lập, cách

huyện lỵ bảy cây số. Gặp nhau sau giờ lên lớp, nghĩ bạn mình có lỗi lầm gì bị phê phán công khai đâu mà sao cứ ngường ngượng ngầm ngập, lúng ta lúng túng nhưtiếp xúc với kẻ bị kết án trọng tội. Còn bạn thì như có điều gì ám ảnh không yên, nên cố tình lảng tránh, dạy xong là vội vội vàng vàng nhảy lên cái xe đạp tàng, hấp

tấp đạp về.Hoá ra điều khó khăn nhất của cuộc sống là lại ở chỗ phải đối mặt với những người xung quanh mình. Buồn thay, đó cũng lại là cái bí ẩn, không thể biết của cuộc

sống. Phúng chểnh mảng dần việc dạy học. Tiếp đó, thay cho những chủ nhật đi bắt cá săn chim, giây phút xuất thần, sống ngoài trần thế hiếm hoi là những ngàyPhúng trằn mình trong lao động khổ sai: chặt gỗ, gái củi, đánh gianh, nhặt trám, lấy măng đem bán ở chợ huyện. Bịt cái khăn rằn trên đầu theo kiểu người Giáy. ẽo ẹt

gánh đôi sọt giang đến khu chợ gần. Hoặc lóc cóc theo con ngựa thồ đến những chợ xa hơn, hạ nạng thồ xuống, ngồi bên hai cái hũ sành nút lá chuối, ngước hai conmắt lờ ngờ lên, cất tiếng khàn khàn: "ờ! Cán bộ mày mua rượu đi! Rượu nấu bằng men lá, ngon lắm vớ". Dù là nhại lại giọng người Giáy, người Tày, theo thói quen

quăng mình vào cuộc phiêu du bất tận, hoặc giả ngô ngọng đánh lận con đen thì cuối cùng cũng là vô tình thực hiện bước ngoặt đời người, biến mình thành kẻ khác.Tuy nhiên, nói cho cùng thì rồi ai cũng có bước ngoặt của đời mình. Đối mặt với những người xung quanh, chống lại cái trật tự của hoàn cảnh chẳng phải là công

cuộc của riêng Phúng. Chúng tôi lần lượt chia tay phố huyện nhỏ và ngôi trường phổ thông như đứa trẻ còi cọc, dẫu thêm tuổi đời vẫn lèo tèo mấy chục học trò, vàiba thầy cô giáo. Đầu tiên là cô giáo Dự. Sau đó là tôi. Dự thấm thoát đã ba mươi tám tuổi đời. Soi gương đã giật mình vì thấy cái đuổi mắt nứt kẽ. Một hôm đến tôi,

bịt miệng rồi bật khóc hu hu: "Em đã đến nỗi nào mà ông Xuỷ, Chủ tịch Mặt trận huyện đánh tiếng hỏi làm vợ kế". Ông Xuỷ bảy mươi tuổi, mới goá vợ, cao lều đều,mắc bệnh vẩy nến, da dẻ mặt mũi chân tay lúc nào cũng chong chóc đỏ hỏn, hay cười ngỏn nghẻn, khoe: Bệnh này không chữa được, không lây nhiễm, không gây

chết người, khi đặt vấn đề tái hôn với cô giáo lỡ thì ở phố huyện.- Anh ạ - Gạt nước mắt, Dự tâm sự - Em nhớ, hồi ấy em mười hai tuổi. Một hôm có một bà bạn đến chơi với mẹ em, bà dẫn theo anh con trai của bà hơn em

chừng năm sáu tuổi. Trông anh ấy mặt mũi cũng khôi ngô, từa tựa như Phúng trường ta. Anh con trai thấy chiếc ghi ta của bố em thì cầm lên đàn. Cũng như anhPhúng, anh ấy cũng có khiếu âm nhạc. Tiếng đàn nghe rất hay. Thấy em lắng nghe, anh ấy hỏi: "Thế em học lớp mấy?". Em đáp, em học lớp sáu. Anh ấy bảo đem

sách toán cho anh xem. Chỗ nào không hiểu anh gảng lại cho, vì anh là cây toán ở lớp. Tại sao anh ấy săn sóc em thế. Thì ra hồi tản cư, gia đình em và gia đình bà nọở cùng nhau trên Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Hai gia đình đã hẹn dựng vợ gả chồng cho em và anh ấy từ lúc chúng em còn bé tí: "U hẹn thì u đi mà lấy người ta!".

Xấu hổ và tức quá, em gắt với u em thế.Dừng lại, mắt đỏ hoe, Dự sụt sịt ai oán:

Dừng lại, mắt đỏ hoe, Dự sụt sịt ai oán:- Thế mà bây giờ gần bốn chục tuổi rồi, em một mình lẻ bóng. Em phải xin về xuôi thôi. Đồng rừng này không phải đất của đàn bà con gái chúng em.

Đất này là đất của đàn ông. Vùng hoang dã này lúc nào cũng khuyết trống sức người. Chỉ có điều, đàn ông bỗng trở thành những kẻ chẳng còn được chút quyềnlực nào với chính mình. Phúng mau chóng trở thành một gã lực điền thực thụ chỉ hùng hục trong lao động thổ mộc. Lao động, sản ra công, tạo ra hiệu quả kinh tế.

Cắm đầu vào đất đai, công việc, ngoài ra chỉ còn thú vui đàn ông là làm chồng một cô vợ trẻ ham hố vô cùng chuyện chăn gối. Vì thật tình, xung quanh là trốngkhông, trống không đến triệt để và tĩnh mịch nuôi dưỡng nhục cảm màu nhiệm hơn bàu không khí ồn ào sôi động rất nhiều lần.

Những ngày ấy và bóng hình của chúng kết tinh ở Phúng sau này trở đi trở lại nhiều lần trong câu chuyện đôi hồi của tôi và Dự. Dự hoá ra do trục trặc giấy tờ màphải rời khỏi Xín Chải sau tôi. Bốn mươi ba tuổi nàng mới lấy chồng. Chồng nàng là một người đàn ông năm mươi tám tuổi mắc bệnh vô sinh, nhưng tráng kiện và

máu mê. Ông khiến cho Dự kinh sợ đời sống tình ái vợ chồng. Vào thời kỳ tiền mãn kinh, nàng li dị chồng. Sống độc thân, trong một ngõ nhỏ vô danh ở thành phố,nàng càng ít bè bạn nên càng năng đến chơi với gia đình tôi.

- Anh không thể tưởng tượng được đâu - Dự nói tiếp về Phúng: - Về sau, nếu gặp anh cũng không nhận ra được Phúng đâu, anh ạ. Nhất là khi anh ấy đi làm thợsơn tràng.

- Làm thuê cho người ta?- Thì thế. Làm thuê cho bọn khai thác gỗ lậu. ở vùng núi đá Đản Khao ấy. Trời, tóc anh ấy để dài đến ngang vai. Mặt tróc hết da, loang loang lổ lổ như lang ben.

Anh ấy kể: núi đá toàn nghiến, đinh. Nhưng một tấc gỗ là một bát máu. Vì hạ được cây gỗ rồi còn cắt, gọt, rồi bắn, cậy, bẩy chán mới ra được tới cửa rừng. Thế màcòn phải đến non nửa số gỗ bị kẹt trong khe đá, rơi xuống vực không lấy được. Trong rừng tối u u. Chỉ nhìn thấy hai con mắt người là sáng như mắt thú. Thảng hoặc

có thấy ngưa ngứa ở chân, cúi xuống tuốt hai ống chân thì hai bàn tay giơ lên thấy đỏ loè máu muỗi hút của mình. Hai bàn tay máu, chứ làm gì có đàn địch với thơ canưa.

- Khổ!- Khổ lắm! Chứ còn được phát nương, cày ruộng còn là sướng. Trông anh ấy mới thấy thương. Nào người có ra người. Phiên chợ, đem gỗ ra bán, đến chơi với

em. Có lúc ngượng ngập, ứa nước mắt, định nói rồi quay đi. Giờ thì đã muộn rồi. Ông trí thức lại sống với cô nông dân. Mà cái cô này mới gớm ghê. Nó vắt kiệt sứclực của anh ấy.

Nghe trong giọng nói của Dự thấy cả nỗi ghen tức lẫn niềm xót xa. Một cô vợ trẻ năm này sang năm khác chỉ liên tục chửa đẻ nạo hút. Ba đứa con gái ốm đausài đẹn liên tục. Lại đèo thêm ông bố vợ tám mươi tuổi điếc lác mù loà. Lấy cái gì mà ăn mà không đi Tây Nguyên.

*Với hoàn cảnh sống ấy, Phúng không thể không đi Tây Nguyên. Tuy nhiên, kỳ lạ thay, niềm tin tưởng rằng trong bất cứ một sự việc nào, ở nơi sâu thẳm của nó

cũng có một sự thật ít được biết tới, đã chi phối suy đoán của tôi và đã tỏ ra đúng trong trường hợp này. Cuộc chuyển cư đi Tây Nguyên của gia đình Phúng, dẫu thếnào cũng vẫn phảng phất một cuộc viễn du tinh thần, nhằm giải toả một ẩn ức, và có tính chất kiếm tìm. Phúng, gã đàn ông đang tìm cách hoà giải với định mệnh.

Tháng mười năm nay, suy đoán của tôi có cơ hội đã được kiểm nghiệm. Vì sau bao năm trời xa cách, Phúng bằng xương bằng thịt đã hiện diện ngay trước mắttôi đây. "Phúng đây! Phúng đây, có còn nhận ra tớ không?". Nghe tiếng đập cửa và tiếng gọi, tôi vội chạy ra mở cổng. Phúng đây thật rồi. Phúng với đôi chân chạng

nạng, thập thễnh đang từ cái cổng gạch nhà tôi bước vào. Một khuôn mặt xương xẩu lút trong mớ tóc xoã bạc xác. Một bên vai trĩu nặng cái túi quần áo xanh bạc cũkỹ. Một bàn tay để ngửa, với những ngón tay chai sần cứng queo.

Con người lạc quan là con người tự coi mình là lớn, sánh vai cùng ba cái lớn trong vũ trụ là Đạo, Trời, Đất. Sách vở nói thế. Những lá thư của Phúng tự hoạ mìnhthành một đấng bậc như thế. Còn bây giờ thì hình như không phải thế. Đã bị đánh quỵ hoàn toàn rồi. Đã gặp phải cái ngặt nghèo của hoàn cảnh. Đã biến thành một

kẻ thân tàn ma dại nạn nhân của thói lãng mạn, viển vông. Đã mệt mỏi, tiêu điều cạn kiệt và bệnh tật đầy mình. Cả đến những ngón tay. Chúng như những chiếc càngcua đã chết. Chúng không đủ sức co lại để ôm chén trà tôi đưa, chứ nói gì đến đàn địch. Hèn nào mình những dòng chữ viết trong thư của Phúng cứ ríu lại nét nọ lẫn

nét kia, những dòng chữ miêu tả niềm vui cao cả lớn lao.- Ra Hà Nội từ hôm nào?

- Mới. Nhưng rời Krông Ana thì đã năm tháng rồi.- Thế đã đi những đâu?

- Lang thang khắp. Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá, Nghệ An, Nam Định. Thỉnh thoảng, gặp một đứa học trò nó mời về quê nó chơi. Rồi tạt về quê mình. à,mà cho tớ tắm cái đã rồi kiếm cái gì vào bụng đi. Tớ đói và mệt quá rồi!

Vợ tôi từ trong buồng gọi tôi vào nghe điện thoại, kỳ thực tôi vừa vào đã níu lấy tôi, thì thầm riết róng:- Này, có phải lão Phúng ông và bà Dự hay nhắc đến đấy phải không? Rõ khiếp. Gọi cửa gì mà thô lỗ thế. Họ hàng ân huệ gì mà đòi hỏi như ông tướng ấy.

Người với ngợm gì trông khiếp quá. Vừa bẩn thỉu, cô hồn lại đờ đẫn như mắc bệnh tâm thần. Còn giọng nói, có để ý không, ngọng líu rồi. Mà em báo trước, lão ấyđến nhà mình là ở lại đây ăn vạ đấy.

- Ai bảo cô thế!- Thì bà Dự có lần đến chơi, ông đi vắng bà ấy bảo chứ ai bảo. Vợ nó bỏ rồi. Mây gió lắm. Hâm lắm. Con vợ nó có nhân tình từ hồi ông và ông ấy dạy học ở tít

tịt trên Xín Chải Xín Chung gì ấy cơ. Thế nên mới chuyển vào Tây Nguyên. Viển vông lắm. Con cái nó cũng không chịu được. Mà bị xuất huyết não một lần rồi đấy.Xuất huyết rồi nên người nó mới ngẩn ngơ thế. Giờ thì lang thang. Cô Dự cô ấy bảo: Thư cho cô ấy lúc nói địa chỉ là nhà một cô giáo ở Quảng Bình. Lúc địa chỉ là

một bà bán cá ở chợ Rồng.Tôi sụt hẫng cả người vì kinh ngạc và hoang mang. Nhưng nghe tiếng Phúng gọi, tôi bước ra phòng khách. Vừa tắm xong Phúng đang lắc đầu cho nước trong tai

ộc ra. Và ngồi xuống đi văng, kéo cái túi đựng quần áo xanh bạc, bàn tay với những ngón tay cứng đơ khó nhọc lắm mới lôi ra được một cuốn vở học trò nhàu nát,quăn queo, Phúng mấp may môi:

- Ông... ông... nghe mình đọc... một bài thơ nhé.Hai con mắt Phúng lấp lánh như vừa dược tiếp nhận một nguồn thần quang từ nơi sâu thẳm phát ra. Cặp mắt say đắm, xuất thần, ngưỡng mộ, tôn thờ, không có

một dấu hiệu mệt mỏi, bệnh tật nào. Nhưng tiếng nói của Phúng thì bây giờ tôi mới nhận ra, thật sự đã ngọng nghịu hẳn rồi. Ngọng nghịu hẳn rồi, nghe dài dại lắm,nên vừa dõi theo vừa phải đoán chừng. Đã vậy mỗi tiếng phát ra lại là một nỗ lực phi thưồng vì nó quá nặng nhọc, khiến mặt Phúng tím đỏ lên như cơn áp huyết.

- à, mà cậu... chưa biết nhỉ? - Phúng ngập ngừng, khó khăn: - Tâm... nó bỏ tớ... từ lâu rồi. Tuy thế... tớ vẫn qua... lại nhà mẹ đẻ cô ấy. Phải nói... bà là... mộtphụ nữ tuyệt... vời.... Đây này...

Mẹ vợ tôi tốt quáKhông tưởng tượng ra đâu

Chẳng bao giờ cau cóBà yêu từ con chó

Đến con chim trên trời.Một hôm tôi về chơi.

Một hôm tôi về chơi.Bà gọi gà cục cục

Con chim chào chào đựcNó gật gật cái đầu.

Gạo bà rắc như sao.Đàn chim sà ngay xuống.

Bà nhắc tôi chạy trốn.Chim, gà kín cả sân

Chẳng ai có bạc tiền.Đủ mua cảnh như thế! Ôi! Những câu thơ chân mộc, được phát ra từ đôi môi méo, ngọn lưỡi rụt và cái thanh quản mang di chứng bệnh tật của Phúng, nghe

chẳng còn rõ nữa và thế là đã bay đi như đàn chim cu hôm nào, sau khi đã thực hiện hết chức năng truyền đạt, để lại một cảm giác trống vắng đến ngẩn ngơ trongtôi. Giống như hồi nào tôi và Phúng ngơ ngẩn trong cảm xúc siêu thường tan hoà vào cái lớn lao của tự nhiên trước cây bồ kếp hình kim tự tháp vàng hiện ra như một

phép màu nhiệm có đàn chim cu cả trăm con trốn lẩn. Thì ra là vậy, chung quy con người là thế, bao giờ thì nó cũng vẫn khăng khăng một bản chất hướng thượng,thờ phụng điều cao cả trong cuộc sống qua cảm quan sáng tạo của mình, có phải thế chăng?

Khách không mời

Những ngày đầu thử sức trong cuộc mưu sinh Đạt gần như chỉ chạy dông ngoài phố. Đạt đã ba mươi tuổi, đang yên ổn ở một cơ quan có cả đống người nay cáicơ quan ấy bị thu hẹp lại. Nhiều người phải thôi việc, phải về hưu non, Đạt thuộc số ít vẫn được giữ trong biên chế nhưng phải nghỉ không lương dài dài. Đạt vốn ở

phòng nghiên cứu, được đào tạo bài bản, có chút ít từng trải nhưng công việc xem ra nhiều vu vơ. Một thời tem phiếu đã qua, Đạt không được chuẩn bị tinh thầntrước tình thế chuyển đổi hàng ngày.

Đạt chạy dông ngoài phố với chiếc xe máy cá xanh, loại xe đồng nát thường được phong lên cấp cá ươn, lúc bấy giờ loại cá xanh hay cá ươn này vẫn còn thoithóp chứ chưa tuyệt diệt như bây giờ. Chiếc xe chạy ậm ạch, cứ "pan" vặt luôn luôn, phải dạt vào vệ đường loay hoay tự sửa rồi nhảy lên guồng đến vã mồ hôi máy

xe mới chịu nổ lại. Đạt thường ghé một toà báo quen, báo này đang muốn trở thành nơi gặp gỡ của mọi tầng lớp, từ trí thức đến bình dân, trụ sở báo dành hẳn mộtphòng gọi là phòng cộng tác viên, các cộng tác viên thật và giả đều có thể lui tới, tha hồ gẫu chuyện. Giữa đám đông ồn ào như họp chợ, Đạt chỉ ngồi nghe, xem ra

cũng lý thú nhưng khó len vào cuộc. Đành lại lặng lẽ cưỡi chiếc cá xanh, hay là cá ươn chạy ậm ạch lòng vòng. Đến lúc thấm mệt, Đạt táp xe vào ven đường, thóiquen thường dẫn dắt anh tới quãng phố có cái chợ từ trong hẻm họp tràn ra và cứ tự nhiên anh táp vào cái quán cà phê vừa mặt phố vừa kề bên con hẻm. Ngồi

nhâm nhi tách cà phê đen, Đạt cố nghĩ đến một điều gì đó nhưng đầu óc anh bùng nhùng, nghĩ không ra. Dòng người qua lại trên hè phố và ra vào con hẻm đan dệt ởbên ngoài quán, phản chiếu qua những tấm gương kính thành những hình ảnh mờ nhoè. Đạt lơ mơ, không phân biệt được những gì đang diễn ra chung quanh.

- Chào anh, mong anh thứ lỗi... anh có bán cái cá xanh hay là cá ươn của anh đang dựng ngoài kia?Người đàn bà hỏi Đạt ỡm ờ, cô ta không còn trẻ nhưng linh hoạt và có chút điệu đàng. Không biết cô ta vào quán và ngồi cùng Đạt từ lúc nào? Đạt hơi khó chịu:

- Cô muốn mua, hả? Để làm gì?- Tôi mua để bán lại cho bảo tàng!

Cái cách đùa cợt sỗ sàng như thế chỉ có thể có giữa những người quen biết nhau. Đạt ngẩn mặt, cô ta là ai nhỉ? Mình đã gặp ở đâu nhỉ?- Anh đừng có ngẩn mặt ra như thế... Tôi là khách không mời nhưng vẫn thường xuyên có mặt ở phòng cộng tác viên của toà báo mà anh anh đến ấy. Tôi thích

anh, cứ tự nhiên mà thích chứ chẳng có lý do gì cả!Người đàn bà bỗng nhìn thẳng vào mắt Đạt, cái nhìn thôi miên khiến Đạt càng muốn lảng tránh càng bị hút vào cô ta. Cô ta tên là Mánh, chẳng hiểu tên thật hay

tên lỡn nhưng qua câu chuyện dông dài của cô ta, Đạt cảm thấy cô ta quan tâm đến mình thực sự. Sau vài lần gặp gỡ, cũng ở quán cà phê này, Mánh thay đổi cáchxưng hô, gọi Đạt là mình xưng tôi, cứ như hai người lẫn vào nhau, dù Đạt muốn hay không, mặc kệ!

- Này mình ơi, mình nhìn đám đông qua lại nhốn nháo ở ngoài đường kia, mình nghĩ ra được điều gì, thử nói tôi nghe?Đạt chủng chẳng:

- Tôi không nhìn và cũng chẳng nghĩ gì hết!- ồ, sao lại thế! Để tôi đổi chỗ cho mình và mình hãy giường mắt to lên. Cứ bình thản, đừng vướng vào những chi tiết ngoài mục đích... Chẳng hạn ta muốn biết

thiên hạ bây giờ ăn mặc ra sao thì chỉ cần chú ý nhìn quần áo của họ, còn mặt mũi họ tạm gác sang một bên... Mình đừng tự ái cho là tôi dạy dỗ mình, chẳng qua làtôi có việc đang muốn bàn với mình. Nào, mình thấy gì và nghĩ ra được điều gì nào?

Đạt cảm thấy được xoa dịu nên giọng anh chùng xuống:- Bây giờ trong thiên hạ có nhiều người mặc quần bò!

- Đúng thế. Quần bò. Quần bò đủ loại - Bò sẫm, bò mài, bò hoa rồi bò ống côn, ống đứng, ống loe, ống tướp nữa... Nhưng từ đó mình phải nghĩ ra được điềugì, đúng hơn là việc gì hay ho cho mình chứ. Việc gì nào?

Đạt còn ngờ nghệch, anh bị bất ngờ khi Mánh ngỏ ý mời anh cùng với cô làm một cuộc điều tra xã hội học về chiếc quần bò. Sao lại không nhỉ? Cần phải lênđược con số thống kê những người thích, hay không thích mặc quần bò, kèm theo những mục đích nhỏ về tuổi tác, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp... làm cơ

sở cho những phân tích khoa học. Đạt là người thông thạo những quy cách đảm bảo tính khoa học cho một công trình. Anh chỉ thắc mắc, bỗng dưng đi điều tra vềchiếc quần bò để làm gì nhỉ?

- Tất nhiên không phải để chơi rồi, mình ơi! - Mánh cười khinh khỉnh - Có nơi đang cần một công trình đại loại như thế. Mình bán nó cho họ... Mua và bán, mìnhlạ lắm hả? Nhưng đấy là phần việc tôi lo, mình không phải dính vào!

*Đạt sống ở một đường phố vắng, thời Pháp thuộc đây là phố của các gia đình công chức trung lưu, gồm những ngôi nhà xinh xắn, thỉnh thoảng có nhà còn có

vườn bao quanh. Trải qua thời gian, cả dãy phố đã trở nên cũ kỹ, mỗi ngôi nhà được chia cho nhiều hộ, vườn bị phá đi, các hộ tuỳ ý cơi nới, cả đến hành lang và lốiđi chung cũng bị ngăn ra, che chắn lại. Đạt còn độc thân, chỉ có vẻn vẹn một gian phòng mười mét vuông (thế cũng đã đủ để thiên hạ cho là ở rộng!) vốn trước kia là

gian kho chứa đồ tập tàng, khuất nẻo và ẩm mốc. May mà chưa tiết lộ với Mánh cái gian sơn riêng, nơi ẩn trốn của anh. Mỗi lần về tới nhà, đóng cửa lại, chỉ mộtmình với đống sách vở bát nháo và những đồ đạc tạp nham, Đạt không vui cũng không muốn buồn nhưng nhẹ nhõm vì không còn vướng víu. Một tuần lễ Mánh cặp

kè với Đạt để tiến hành vụ việc điều tra xã hội học về chiếc quần bò. Quả là có một môn khoa học gọi là xã hội học, được coi là thời thượng của thời hiện đại. Đạt có

kè với Đạt để tiến hành vụ việc điều tra xã hội học về chiếc quần bò. Quả là có một môn khoa học gọi là xã hội học, được coi là thời thượng của thời hiện đại. Đạt cótìm đọc và thu lượm được chút ít về nó. Vào cuộc rồi tự nhiên anh đâm hăng, muốn thi thố trước Mánh. Chính anh là người lập phiếu điều tra, chọn vùng, phát phiếu

tới những đối tượng ngẫu nhiên rồi thu phiếu về, lên số thống kê và tiến hành phân tích. Mánh đóng vai trợ lý, chạy việc vặt nhưng mồm miệng lúc nào cũng bô lô bala để chứng tỏ mình là người chủ xướng. Ngồi giữa quán cà phê (vẫn cái quán kề ngõ chợ nơi họ gặp nhau lần đầu) Mánh cứ huơ bản tổng kết lên, nói oang oang:

"A, những con số mới đẹp làm sao! Hỡi những ai thích hay không thích quần bò, những con số mới đẹp làm sao! Hỡi những ai thích hay không thích quần bò, nhữngcon số này sẽ nói chuyện với các vị!". Rồi cô ta biến đi cùng với bản tổng kết. Đạt ngượng chín người trước đám khách ngồi trong quán, anh không nói gì cả. Thôi,

sự thể đã đến thế này đành phó mặc cho Mánh, anh hì hục nổ máy chiếc cá xanh hay là cá ươn, lặng lẽ ra về... Bây giờ chỉ còn một mình Đạt trong thế giới riêng nhỏbé, hiu quạnh nhưng thân thuộc, anh có thể nằm dài ra giường trong trạng thái lơ mơ nửa thức nửa ngủ. Gian phòng của Đạt có ô cửa sổ hẹp nhìn sang nhà hàng

xóm. Chênh chếch phía trên cao, thuộc tầng hai của nhà bên ấy cũng có một ô cửa sổ, ô cửa sổ này rộng hơn nhưng luôn đóng kín, không hiểu phía trong là phònggì. Đột nhiên hai cánh cửa sổ chưa bao giờ Đạt thấy mở ra ấy bỗng mở toang. Anh choàng dậy đứng sau cửa sổ phòng mình nhìn sang và trong khoảnh khắc vệt

nắng chiều tràn qua ô cửa sổ nhà bên vừa để ngỏ, ánh hồi quang của nắng hừng lên như ánh lửa. Có một cô gái đứng từ khuỷu tay trên thành cửa sổ, người cô hơinhoai ra, mái tóc loà xoà, đuôi tóc bắt nắng dường như hoe đỏ. Cô gái chăm chú nhìn sang nhà Đạt, vẻ như tìm kiếm cái gì đó và khi cô bắt gặp ánh mắt Đạt chăm

chú dõi theo cô, cô hơi quay đi nhưng không phải là né tránh...- Chào cô bé, cô mới từ đâu đến? Anh nên nhớ anh đến nơi này còn sau em kia!

Cô gái quay lại, hướng về phía Đạt khiến anh phải hơi quay đi nhưng cũng không phải là né tránh. ánh mắt anh vẫn ngầm theo dõi cô:- Lạ lùng nhỉ!

- Nào có gì lạ, em sinh ra và lớn lên ở ngôi nhà này, trong căn phòng này. Thuở ấy, ở bên cạnh nhà anh, căn phòng anh đang ở còn là cái kho. Anh chịu chưa?Cô gái nheo mắt cười, nụ cười làm khuôn mặt cô bừng sáng. Đạt hấp tấp nói:

- Tôi xin chịu... Nhưng cô chưa trả lời, cô mới từ đâu đến?- Rồi anh sẽ biết thôi, vội vàng gì!

Cô gái lui vào trong phòng, cửa sổ phòng vẫn mở rộng nhưng không thấy cô xuất hiện trở lại. Từ lúc đó đầu óc Đạt ngập tràn hình ảnh cô gái, cô ta nói "vội vànggì!" Nhưng anh đã trở nên vội vàng muốn gặp lại cô ta. Chập tối Đạt tuôn ra đường, anh đi qua lại dọc quãng phố trước cửa nhà, thỉnh thoảng nghe tiếng lá khô bị

gió cuốn ràn rạt, anh lại giật mình, tưởng chừng cô gái từ trong ngôi nhà hàng xóm bước ra...- Em biết thế nào anh cũng ra đây tìm em. Em đã hỏi được tên anh. Còn em là Huyền Vi... Ta đi ngược lên phía đầu phố đi!

Huyền Vi đi sát bên Đạt những hè phố rợp bóng cây, đèn đường quãng này thưa thớt nên Đạt có cảm giác Huyền chỉ là một hình bóng chập chờn. Huyền Vi nóirằng cô từ nơi xa trở về thăm lại nơi này, tiếc rằng đường phố đã thay đổi, ngôi nhà cũ của cô cũng thay đổi, chẳng còn ai biết cô. May có một bà cụ lưng còng, ăn

trầu thuốc, cô ngồi giã trầu trong chiếc cối đồng nhỏ xíu cho bà cụ, bà cụ giữ cô lại và mở khoá cửa căn phòng xép, nơi cô đã sống qua suốt thời thơ ấu cho cô thămthú...

- Hoá ra căn phòng ấy bây giờ là phòng kho. Trái ngược với bên anh, cái phòng kho ngày xưa lại trở thành phòng ở của anh. Sự tình cờ mà nên quen biết...Huyền Vi bật tiếng cười nho nhỏ, tiếng cười trong veo, bay quấn quýt - Em trở về đây cũng phải có ai câu chuyện trẻ con của em chứ nhỉ!

Hai người đi tới gần đầu phố, nơi có ngã ba mở ra một đại lộ rộng thênh, ánh đèn cao áp sáng xanh, người và xe qua lại tấp nập. Huyền vi khẽ chạm vào cánh tayĐạt, giữ anh lại:

- Thuở em còn trẻ con, em thường đứng ở đây, đứng dưới gốc cây này, cái cây xù xì, vỏ xanh rêu, trên chỗ trạc ba kia có cái hốc. Em đứng dưới gốc cây nhìnra ngã ba và chờ đợi... Em chờ đợi niềm vui và cái niềm vui trẻ con ấy đến với em rất giản dị. Một người bán đồ chơi xuất hiện nơi ngã ba, ông ta đã đứng tuổi, vác

trên vai một cây sào có những dóng ngang buộc đủ loại đồ chơi xanh đỏ. Cái cây đồ chơi ngất nghểu với những hình người và con vật bằng gỗ bấc hoặc giấy bồi,những lá cờ đuổi nheo nhỏ xíu, những chiếc chong chóng nhỏ xíu quay tít mù, tất cả cứ trôi dập dềnh trên đầu dòng người qua lại. Ông hàng rong vác cây đồ chơi

thong thả đi về phía em và em lẵng nhẵng đi theo cái cây đồ chơi ấy. Em đã từng nhịn quà sáng, dành tiền mùa của ông hàng rong thứ đồ chơi này khác nhưng đemnó về nhà, chỉ chơi một lúc là chán. Còn đi theo ông ta, trôi theo cái cây đồ chơi dập dềnh ở trên cao thì lại khác, như được hoà mình vào một thế giới khác, khiến

mình mê mẩn... Bây giờ, đứng ở đấy hướng về phía ngã ba, em vẫn thấy hiển hiện hình ảnh ông hàng rong vác cây đồ chơi và cảm giác mê mẩn kiểu trẻ con chợtsống lại - Huyền Vi quay về phía Đạt, khuôn mặt cô hơi ngửa lên, những đường nét thiếu nữ pha trộn với một vẻ gì đó, chân thật đến gần như ngây ngô và giọng nói

của cô bỗng đổi khác, như từ đâu xa vọng lại - Cảm ơn anh đã đi cùng em đến chỗ này để em có thể trò chuyện!Đạt trở về nhà thức đến khuya. Câu chuyện của Huyền Vi chỉ đơn giản là chuyện trẻ con, không có gì lạ. Điều Đạt lạ lùng là sự hiện diện và cách kể chuyện của

Huyền Vi, dường như cô muốn lôi cuốn anh cùng sống lại một thời trẻ con của riêng cô. Chập tối hôm sau Đạt ra đường đã thấy Huyền Vi đứng chờ anh ở chỗ tốihôm qua anh đứng chờ cô. Hai người đi xuôi về phía cuối phố, quãng đường này vắng vẻ hơn dẫn tới một bãi trống ngổn ngang những đống vật liệu xây dựng. Huyền

Vi có vẻ vội vàng, cô vượt lên trước và nói với Đạt:- Đến đây thì anh phải theo em, em sẽ dẫn anh đi theo lối tắt ngày xưa, chỉ mình em biết. Là vì ngày xưa em bám theo ông hàng rong vác cây đồ chơi, cứ qua

khỏi chỗ này là ông ấy biến mất. Em phải đi tìm... Nào, ta đi thôi!Bên kia bãi trống, cạnh đống cát sỏi cao lù lù có con hẻm càng vào sâu đường càng nhỏ dần, với vô số ngõ ngách. Trong hẻm không có đèn đường, tối tăm và bí

hiểm như một mê hồn trận. Đạt không theo kịp Huyền Vi, đôi lúc anh đâm vào ngõ cụt và nghe tiếng cười của Huyền Vi khúc khích ở phía sau: "Rẽ lối này...". Tức làrẽ phải, rẽ phải nữa. Rồi rẽ trái... Hoá ra đã băng sang một đường phố khác, chắc là cách nơi Đạt ở không xa nhưng anh chưa tới bao giờ. Con phố này nhà cửa đứt

nối, còn nhiều dấu vết của một phố nghèo, chỉ thấy lều quán và rác rưởi nhưng lại có một hồ nước sáng trắng lên trong đêm.- Ông hàng rong vác cây đồ chơi thuở bé em đi tìm ấy, ông ta ở chỗ này. Một mái nhà lá trông ra hàng cây bạch đàn ven hồ, bây giờ thì chẳng còn gì nữa, nhưng

mấy bậc đá dẫn xuống mặt nước hồ chắc chắn còn. Đây, mấy bậc đá vẫn nguyên ở đây...Đạt đứng trên bờ cỏ, nắm lấy tay Huyền Vi giữ cho cô lần xuống theo từng bậc đá. Cô khoả chân xuống nước rồi leo lên, nỗi xúc động vì được trở lại đúng nơi

cần trở lại khiến cô quên khuấy bàn tay mình vẫn nằm trong tay Đạt:- Em tìm thấy nhà ông hàng rong, em nói rằng em chỉ tò mò muốn biết ông làm ra đồ chơi như thế nào? Một lúc sau bỗng ông nói: "Để ông làm cho cháu cái này,

xem cháu có thích không..." Ông lấy một quả bóng nhựa, một đoạn ống giang, dán giấy màu, tô vẽ rồi gắn chúng vào nhau, thế là thành một cô bé có cái đầu tròn vovới cái mình dài thượt. Nhưng ông gắn cách nào đó, mỗi khi lắc nhẹ cái mình là cái đầu lắc theo, cả hai bím tóc cũng ngoe nguẩy. Ngộ vô cùng. Lúc ấy em nghĩ, đây

là em mình, bạn mà mà cũng có thể là mình luôn. Em ôm con búp bê ngộ nghĩnh ấy, chạy ào ra ven hồ, đứng ở đầu bậc đá, giơ cao nó lên, lúc lắc, nó cười với em vàem cười với nó...

Huyền Vi nói dồn dập, cô hơi lùi xa rồi lại xích đến gần Đạt, thân thiết tự nhiên như giữa hai đứa trẻ:- Vẫn chỉ là một câu chuyện trẻ con phải không anh? Nhưng có một ông thợ ảnh, có lẽ phải gọi ông ta là nghệ sĩ thì đúng hơn, không biết ông ta đứng chỗ nào,

bấm máy lúc nào, một bức ảnh có mây soi đáy nước, bậc đá xanh rêu với hai khuôn mặt trẻ con soi vào nhau, cùng cười hồn nhiên nhất trên đời. Bức ảnh ấy được inthành tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên", phát hành khắp thành phố, nhiều người có lắm. Em cũng có một tấm, giữ được lâu lắm. Rồi chiến tranh chống Mỹ, máy bay Mỹ

ném bom vùng ngoại thành, đúng nơi em sơ tán. Em bị vùi trong đống đổ nát, còn tấm bưu ảnh của em bị cháy trong lửa bom... Biết làm thế nào! - Huyền Vi chợtngừng, giọng cô như thảng thốt - Em đã trở về, nhất định em phải tìm gặp lại ông hàng rong vác cây đồ chơi ngày xưa. Nghe nói ông vẫn ở trong thành phố... Nhưng

ngừng, giọng cô như thảng thốt - Em đã trở về, nhất định em phải tìm gặp lại ông hàng rong vác cây đồ chơi ngày xưa. Nghe nói ông vẫn ở trong thành phố... Nhưngcòn tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên", liệu có thể tìm đâu ra một bức còn sót lại không nhỉ?

Đạt im lặng. Bàn tay anh tìm được bàn tay Huyền Vi, nắm chặt và anh nói quả quyết:- Anh hứa sẽ đi tìm tấm bưu ảnh cho em. Chắc chắn ở một nơi nào đó trong thành phố phải còn lại một tấm chứ!

*Đạt đi tìm tấm bưu ảnh, anh đến các cửa hàng sách cũ, các cửa hàng này ở rải rác, có chỗ sách được xếp thành chồng, bày lên kệ, có chỗ chỉ là một đống hổ

lốn, đầy bụi và mạng nhện. Rồi đến những nơi thu mua giấy loại, ở đây co đủ loại báo chí mới và cũ, trong và ngoài nước với đủ loại giấy tờ. Thậm chí theo lời máchanh còn rất công đi tìm mấy tay sưu tập nổi tiếng, họ có cả kho đồ vừa giá trị, vừa chẳng có giá trị gì. Tức là anh đã sục sạo gần khắp thành phố nhưng chỉ là công

cốc, chẳng tìm đâu ra tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên". Một lời hứa không vụ lợi, nhằm đáp lại ước vọng ngây thơ của Huyền Vi và của chính lòng anh, là lời hứa thiêngliêng, anh không thể bỏ cuộc. Một hôm Đạt cưỡi chiếc cá xanh hay là cá ươn ậm ạch chạy qua trụ sở toà báo quen, anh chợt nảy ra ý nhĩ nhờ báo đăng cho mấy

dòng rao vặt. Đạt ghé vào toà báo, vừa leo thang gác lên tầng hai thì đụng phải Mánh. Có trời biết cô ta từ góc khuất nào nhảy ra, vồ lấy Đạt:- ối mình ơi, suốt mấy ngày nay mình lỉnh đi đâu? Định ăn mảnh cái gì? Hãy khai ra!

Đạt vùng vằng:- Thôi đi, tôi đến đây không phải để tìm cô!

- Mình không tìm tôi nhưng tôi cần tìm mình, đã sao nào. Mình đi theo tôi đến phòng cộng tác viên... - Mánh lôi Đạt đi được mấy bước, chợt cô ta dừng lại -Hay thôi, hôm nay toà báo họp nội bộ, họ đóng khoá phòng ấy rồi. Ta xuống căng tin...

Phòng căng tin ở bên hông tầng trệt. Đang lúc vắng khách, cô hàng căng tin ngồi ngủ gật phía sau quầy. Mánh gọi cho Đạt lon bia, cho mình ly cam vắt rồi kiếmchiếc bàn kê bên cửa sổ.

- Nào, mình khai ra đi! - Mánh ngồi đối diện với Đạt, cô ta chờ đợi giây lát rồi khẽ cười gằn - Nếu mình không chịu khai thì tôi nói ra hộ mình vậy. Mình đanghoá rồ vì một tấm bưu ảnh xưa cũ được gọi là "Tuổi thần tiên", đúng không?

Đạt bật nói:- Sao cô biết?

- Mình chạy rông khắp nơi, làm náo động cả thành phố vì cái đó, tất nhiên tôi phải biết chứ. Mình cần cái đó để làm gì thì tôi không quan tâm, nhưng tôi vì mìnhđã tìm được nó cho mình. Đây, nó đây...

Mánh rút từ trong túi xách ra tấm bưu thiếp dứ về phía Đạt nhưng chỉ vừa đủ để anh nhận ra nó đúng là "Tuổi thần tiên" thì cô đã thu nó về.- Hãy thong thả, nghe tôi nói đã... Mình tài giỏi lắm, đã hoàn thành cái công trình điều tra xã hội học về chiếc quần bò vô cùng hoàn hảo. Nhưng cần một chút

phù phép để biến nó thành mặt hàng có giá...Thế là trong giây lát, mối ràng buộc giữa Mánh và Đạt được khôi phục trở lại. Dù muốn hay không Đạt cũng bị xỏ mũi để Mánh lôi đi. Cô ta tỏ ra sòng phẳng

đến lạnh lùng: "Mình ơi, mình đang cần có cái "Tuổi thần tiên" còn tôi thì cần đến cái đầu óc của mình...". Hoá ra là công việc điều tra về chiếc quần bò Đạt đã quênkhuấy, bây giờ lại quẩn lại với anh. Mánh nói rằng có một địa chỉ đáng tin cậy nhận mua bản điều tra của họ, nó được tiến hành rất đúng quy cách điều tra xã hội học,

nhưng với một điều kiện là phải chế biến lại những con số. Thoạt nghe Đạt ngớ người ra, chẳng hiểu gì cả. Mánh cười vào mũi anh, anh đâu đến nỗi thiếu thông tinnhưng đành phải chẻ hoa ra vậy. Trong thành phố có mấy ông sáng kiến ra một cái công ty, gọi là Công ty môi giới tri thức, có nghĩa là nó bao gồm mọi thứ nhưng

chỉ là môi giới thôi. Họ kiếm được một hợp đồng với Hội đồng tư vấn khoa học, Hội đồng này đang triển khai một đề tài về phong tục. Đúng lúc quá, chuyện quầnbò đúng là chuyện phong tục rồi. Hiềm một nỗi có mấy vị rất sâu sắc và tự tin, mấy vị ấy nhất định cho rằng quần bò không đáng gọi là cái quần. Vậy ta tính sao nhỉ?

Hoặc là ta chế biến lại những con số để được nghiệm thu, hoặc là cứ việc nghỉ dài dài, đằng nào hơn nhỉ?- Tôi không biết - Đạt càu nhàu - chế biến những con số không phải việc của tôi!

- Ơ hay, thế mình định nhường nó cho ai nhỉ? - Mánh lấy từ trong túi xách ra tập tài liệu điều tra, đăt lên bàn, vuốt thẳng - Thôi, đừng cù lần nữa, hãy linh hoạtlên. Ta bắt đầu rà soát từng mục, chế biến sao cho các con số của từng mục tương ứng nhau, khớp nhau, dẫn đến cái kết quả tổng hợp hoàn toàn hợp lý. Mình được

học hành, có bằng cấp chuyên môn, mình nhúng tay vào chắc chắn chỉ loáng cái là xong... Sao, mình còn băn khoăn nỗi gì? - Mánh giơ tập tài liệu lên, làm như vôtình để rơi tấm bưu ảnh bị kẹp lẫn trong đó, cô đẩy tấm bưu ảnh về phía Đạt nhưng bàn tay vẫn chặn lên - Đây, cái "Tuổi thần tiên" này là của mình, chắc chắn thế,

tôi với mình là một, chẳng qua tôi chỉ tạm giữ hộ mình thôi! - Mánh thu tấm bưu ảnh về và đẩy tập tài liệu sang cho Đạt - Nào, ta bắt đầu nhé...Đạt đành tặc lưỡi:

- ừ thì bắt đầu!*

Đạt không ngờ chỉ một cái tặc lưỡi, chấp nhận cho qua tình thế bị xô đẩy, đã xoay chuyển số phận anh. Chỉ trong một giờ anh ngồi chế biến những con số, thayđổi những phân tích tương ứng, ký tên vào cái bảng gọi là điều tra xã hội học về chiếc quần bò, lập tức Mánh trao cho anh tấm bưu ảnh mà anh đang cần. Ngay buổi

tối hôm ấy Đạt gặp Huyền Vi ở nơi anh vẫn thường gặp, bên gốc cây xế cửa nhà và anh trao tấm bưu ảnh cho cô. Huyền Vi gần như nhảy cẫng lên, cô trở lạihồnnhiên như đứa trẻ: "A, đúng là cái "Tuổi thần tiên" của em đây rồi! Mà cũng không chỉ của riêng em. Ai chẳng có một thời ở "Tuổi thần tiên"... Anh xem, cái màu

giấy ngả vàng này người ta gọi lag gì nhỉ? à, màu thời gian... Huyền Vi giơ tấm bưu ảnh về phía quầng sáng ngọn đèn đường dọi qua tán lá cây và cái hình ảnh thầntiên trên nền giấy ngả vàng dường như khẽ rung rinh qua làn sương khói. "Em cảm iưn anh! Mai kia dù em có ở chân mây cuối trời, cứ nhìn tấm bưu ảnh cũ kỹ này,

em sẽ lại nhớ về anh!". Lời nói của Huyền Vi thoảng bên tai Đạt và mãi về sau này nó vẫn còn là chỗ bấu víu của anh.Anh đã thực hiện lời hứa với Huyền Vi, lời hứa không vụ lợi và anh sẽ ghi nhớ mãi những giây phút bên cô, được nghe những chuyện trẻ con của cô.

Một buổi tối sau đó, Đạt chưa kịp ra khỏi nhà để đi gặp Huyền Vi thì Mánh bất ngờ xuất hiện. Mánh không gõ cửa, cứ tự nhiên đẩy cánh cửa ra, bước ào vàonhà và cô nói ngay, nhưng chặn họng Đạt:

- Lại định hỏi vì sao tôi biết cái xó mình vẫn chui rúc và cố tình giấu tôi này, hả? Thôi đi, dẹp những câu hỏi đại loại như thế đi! Tôi là khách không mời nhưngđâu tôi cũng đến. Tôi đến để báo với mình một tin vui. Cái công trình điều tra xã hội học về chiếc quần bò, mà không... phải nói là cái trò chơi láu cá của chúng mình

đã được Hội đồng tư vấn khoa học nghiệm thu. Mình là chủ đề tài, tất nhiên lọt vào mắt xanh mấy vị uỷ viên hội đồng. Nhưng cái gì cũng phải có thứ tự, mấy vị uỷviên đáng kính ấy chưa ra mặt đâu. Họ uỷ cho cái Công ty môi giới tri thức làm môi giới, thử gặp mình trước đẫ. Ông giám đốc công ty muốn tỏ ra biệt nhỡn, đã cho

xe đến đón mình. Xe chờ ở ngoài kia...Đạt cảm thấy chưa sẵn sàng nhưng Mánh cứ giục cuống quýt, cô gần như áp tải anh ra xe. Chiếc ô tô con màu xám, nước sơn đã bạc, chắc là ông giám đốc gạ

mua thanh lý được của một cơ quan lớn nhân đợt thay lứa xe đời mới. Nhưng máy xe nổ còn êm. Đạt và Mánh ngồi ở ghế sau, những lúc xe vào cua Mánh lại ngảngười cọ sát vào Đạt. Đạt không hưởng ứng cũng không né tránh. Mặc cô ta. Anh quay mặt gần như rí mũi vào tấm kính cửa xe, chăm chú nhìn ra ngoài. Con

đường lớn, đèn cao áp sáng xanh. Rồi xe rẽ vào con phố đèn đường thưa thớt, rợp bóng cây, trên vỉa hè có đám trẻ con đang nô đùa. Đám trẻ đuổi nhau quanh cácgốc cây rồi tụ cả lại, ngửa mặt lên, nhảy cẫng lên, những cánh tay giơ cao như với cái gì đó. Một cô gái đứng giữa đám trẻ, mái tóc và khuôn mặt cô toả sáng trên

đầu đám trẻ, và cái gì đó cô cầm trong tay (một đồ chơi, một cành lá, hau một tấm bưu ảnh?) rung rinh ở trên cao hơn. Huyền Vi đấy chăng và cô đang cầm trongtay tấm bưu ảnh tuổi thần tiên để cùng vui chơi với đám trẻ chăng? Đạt thảng thốt kêu lên:

tay tấm bưu ảnh tuổi thần tiên để cùng vui chơi với đám trẻ chăng? Đạt thảng thốt kêu lên:- Dừng xe lại!

Nhưng chiếc xe đã rẽ sang phố khác, cùng lúc Mánh huých nhẹ khuỷu tay vào Đạt và cất giọng nói trơn tuột với chú lái xe:- Ông này là nhà thông thái nên hay đãng trí lắm. Chú cứ đi đi!

Con phố này không lớn nhưng ở gần trung tâm nên rất đông vui, đèn trong các cửa hàng, quầy hàng hắt ra loang loáng. Xe dừng lại trước một ngôi nhà không cóvẻ gì là trụ sở cơ quan nhưng Mánh thì đã thì thầm giải thích: "Đây là chỗ làm việc ban dêm của ông giám đốc. Có thể nói công ty ông có công việc hai tư trên hai tư

giờ!" Đạt tự nhiên muốn thoái lui, anh nói:- Hay là thôi nhỉ? Gặp ông ta để làm gì nhỉ?

- ồ, sao lại thế! - Mánh nhìn vào mắt Đạt vẻ như vừa đe nẹt, vừa van lớn - mình nên nhớ tôi yêu mình, dù mình có yêu tôi hay không, đối với tôi không quantrọng. Tôi yêu mình! - Mánh nhắc lại và đẩy nhẹ vai Đạt - Mình vào nhà đi!

Trong suốt cuộc tiếp xúc, ông giám đốc nói thao thao, còn Đạt chỉ trả lời chiếu lệ. Nhưng ông ta, cái ông giám đốc đáng kính ấy vẫn không lấy thế làm điều, ôngta vẫn vồn vã, xởilởi, lại còn đùa tếu nữa: "ồ không sao, mình được trông thấy mặt cậu thế là vinh hạnh cho mình rồi. Cậu chỉ cần nghe thôi đã đủ quý hoá lắm. Hà

hà..." Ông giám đốc tiễn Đạt ra ngoài cửa, bắt tay Đạt không chặt cũng không lỏng và giọng nói của ông nhùng nhằng: "Cái công ty của bọn mình bảo nhỏ hay lớnđều được cả. Nó có mặt mọi lúc mọi nơi. Nó vô hình... Hẹn gặp lại, còn bây giờ thì cậu cứ việc đi đi!". Chiếc ô tô con màu xám, nước sơn đã bạc vẫn đỗ lù lù bên

đường nhưng không thấy chú lái xe. Không thấy Mánh. Chỉ một mình Đạt đứng trơ. Anh đành cuốc bộ về nhà.Thành phố này Đạt đã thông thuộc nhưng giữa đường trời bỗng đổ mưa khiến anh bị lạc. Cơn mưa lớn, bất ngờ xuối nước xuống ào ào, nhiều quãng phố bị tắt

mất đèn đường, những vòm cây ướt sũng bị gió quật tơi tả, lại nghe đâu đó tiếng cành cây bị vặn gẫy răng rắc. Đạt bị ướt sũng, dù có dừng lại trú mưa cũng chẳngích gì, thà cứ liều xông đi. Phố xá quen mà lạ, nổi chìm trong mưa đêm. Có ai đó ở phía trước, lúc nhoà lúc tỏ. Đạt nhận ra hình bóng Huyền Vi đồng thời anh tự nhủ,

chẳng qua anh tưởng tượng ra thế, nhưng đúng là hình bóng Huyền Vi đang dẫn dắt anh. Chợt đến lối rẽ, Đạt đang phân vân bỗng nghe bước chân ai đó ở phía sau,anh quay nhìn lại, tất cả đều tối thui, chẳng nhìn thấy gì nhưng cũng rõ ràng anh nhìn thấy Mánh, chỉ là cái hình bóng chập chờn của Mánh bám theo anh. Đạt chạy ào

qua đường... cứ thế Đạt định đi theo đường tắt mà hoá ra đi đường vòng, mãi khuya mới đội mưa về đến nhà. Anh vội thay quần áo nằm vật ra giường, lên cơn sốtmê man.

... Bây giờ Đạt đã trên 50 tuổi là một chuyên gia trong lĩnh vực của anh, thường lên thuyết trình trong các cuộc họp của giới chuyên môn, thỉnh thoảng còn lên bụcgiảng cho sinh viên các trường, coi như "giáo sư" chờ. Anh đã chuyển nhà và có vợ con đàng hoàng. Nghĩa là anh sống như mọi người, ở giữa mọi người. Nhưng có

lúc chỉ mình với riêng mình thôi, Đạt lại tự hỏi: "Mình là người thế nào nhỉ?" Hiển nhiên mình là người tốt, chỉ có điều do những thúc ép thực dụng trong cuộc mưusinh, mình đã làm những việc không nên làm, thậm chí cả việc xấu. Câu trả lời đến với Đạt khi anh nhớ lại trận mưa hơn hai mươi năm trước, với cái bóng mờ ở phía

trước và phía sau anh, nó vẫn còn đó như một thách thức định mệnh của đời anh.

Người về thả khói tìm xưa

Có rất nhiều người sinh ra từ một miền cát, nhất là vùng đất thắt eo thon nhỏ trên bản đồ đất Việt, giống như một đòn gánh cong cong gánh hai đầu đất nước màquày quả đi dặm đường dài. Trong vùng đất ấy có tôi, khi nói đến cát dễ khiến người ta nghĩ đến một vùng nắng gió dãi dầu, con người trần lưng khổ ải. Mà quả

thiệt, mới bảnh mắt đã thấy cát đến khi nằm xuốg sau một ngày ở bên cát. Cát với người , người với cát, hai trong một bấu víu chẳng rời. Triền dốc nào không inbóng người và bóng người ở trên bóng cát. Cát chập chùng, cát lô nhô hết quãng này đến đồi nọ, hết làng này sang làng kia bao bọc trong cát. Dân ở đây thuộc dạng

bám đất chịu đựng như chấp nhận mảnh đất mình được sinh ra, gió dập cát vùi, mưa giông nắng hạn đói no là lẽ thường tình. Và từ thời xa xưa vẫn còn hằn dấu tíchnơi vùng đất này là địa giới của những cuộc giao tranh, bởi câu chuyện kể và cả làng từng phát hiện ra xác tàu chiến hoen rỉ, mỏ neo hàu bám xám mốc, các cung tên

giáo mác đen xì mục ruỗng và cả súng đạn thời thuộc Pháp lúc đào đất xây nhà, moi cát xây mộ, đào ao kiếm nước tưới những mảnh ruộng cằn cho cây lúa nướcsống từ hàng ngàn năm trước và vẫn tồn tại hàng trăm năm sau với con người. Chưa kể vùng này từng có thương cảng nhỏ một thời sầm uất, nơi trú ngụ tránh bão

biển và chuyển đổi lương thực, nước uống của các đoàn thuyền trên con đường xuyên á.Đó là chuyện trăm năm trước, hàng trăm năm trước.

Còn việc mẹ tôi lấy chồng, gái ruộng về đồng cát cũng thiệt hy hữu. Mẹ biết cha trong chuyến cùng chị em xuống xóm biển mua cá về làng bán. ấy là khi tiếngsúng chưa nổ rộ trên vùng đất yên bình này để những chuyến khơi xa đôi ngày kiếm dăm thúng cá, vài cân mực ống, ít loại thu ngừ quý hiếm. Lúc vượt cồn cát cao

ngút, đôi quang gánh bung đòn bứt néo vung vãi cá chuồn, cá ồ, cá nục xanh lấp loáng trong nắng thiêu đốt. Mẹ cúi đầu ngồi khóc trên vùng đất lạ thì cha xuất hiện,đoạn tre đực vàng óng dùng neo thuyền vào bãi thành đòn gánh khiêng cá trên vai hai người băng băng vượt trảng lên đồng. Đến đường cái quan dọc kênh nước để

sang làng, mẹ chưa kịp nói lời cảm ơn thì cha đã quay người về vùng cát. Đợt sau, nơi bến cá, mẹ dáo dác kiếm tìm con người có nước da rám nắng, vồng ngực vunnở lấm tấm mồ hôi lẫn cát, nụ cười nửa miệng vừa bẽn lẽn vừa phớt đời nhưng không gặp. Vài ngày sau trong lối ngõ hun hút tre xanh, có tiếng rao cá lanh lảnh và

tiếng cười đùa châm chọc của các bạn gái cùng xóm. Tò mò, mẹ nhìn qua hàng râm bụt để nhận lấy bất ngờ, chàng trai là cha tôi sau này đang đi bán dạo cá ồ trụngnước sôi ngâm muối, bóc mang, xẻ lườn thuộc món ăn ưa thích của xứ đồng xa biển gần nửa ngày đường. Đàn ông xứ biển, sau những ngày bôn ba trên sóng nước,

sau mùa cá ngắn ngày vì tiếng súng cận kề trong vùng đất luôn đối mặt với sự giao tranh, đối mặt sự ruồng bố bắt bớ nếu được lên bờ là nghỉ ngơi ăn chơi lấy sức chochuyến kế tiếp, việc khác chỉ để đàn bà, con nít. Đằng này… một người thanh niên gánh cá sùm sụp chiếc nón lá cùng chiếc khăn cũ mèm vắt vai rong ruổi ngõ xóm,

ngơ ngác trước sự châm chọc của mọi người trông tồi tội thế nào ấy?Sau này, mẹ kể, cha người gốc ruộng nên lúc nông nhàn, cha theo bạn đi biển kiếm tiền phụ giúp gia đình. Còn cha, khi gặp mẹ, ông yêu liền, tắp lự như gió cát

cuộn tròn và cũng thầm lặng như những triền cát trắng quanh năm gió hun hút thổi không dấu chân người. Ông nhớ cô gái quê xứ ruộng vóc người thon thả, mắt đenngơ ngác dưới vành nón lá khi lựa chọn mớ cá giã cào trên thuyền vừa cập bến và thắt cả ruột khi thấy cô ngồi một mình khóc trên triền dốc chang nắng. Sau chuyến

đi biển về, ông làm người bán cá để về làng cô gái ấy. Năm sau, mẹ theo cha về vùng cát. Đoàn đưa dâu rồng rắn đến đường cái quan liền tụt dép, tháo giày, quàngkhăn che đầu, quần xoăn đến gối mà lội cát rồi hì hụi thở dốc rồi thay nhau cõng qua các triền dốc đứng. Còn cha, vác mẹ băng băng dưới nắng chạy tắt về làng kịp

gọi mọi người đang chờ buổi đón dâu nhanh chân ra tiếp ứng bằng võng, bằng nước, bằng trầu cau ở nửa chặng đường phải ngồi nghỉ chân đặng lấy hơi mà đi tiếp,mà hì hụi vượt trảng.

Tôi đã lớn dần trong thời chiến tranh, vùng đất trở thành lằn ranh giao tranh vì chỉ toàn là cát lô nhô ốc đảo. Đêm đêm cha nằm võng bằng dứa dại đan thành sợimà mở đài, vặn thật nhỏ tiếng trong những trái hoả châu bắn lên bầu trời toả màu vàng nhạt. "Từ là từ phu tướng… báu kiếm sắc phong lên đường…" khi bài Dạ cổ

hoài lang cất lên thì đã quá nửa những ngôi làng bị san bằng, hết bến cá ra vào, đồng bị co hẹp để giành cho sân bay, bồn nhiên liệu, bót canh, các cuộc tập trận,trung tâm hành quân.

trung tâm hành quân.Cha tôi thở dài nhiều hơn và đêm đêm vắng nhà nhiều hơn rồi đi bặt. Chỉ còn tôi và mẹ dẫn nhau chạy ra đồng làng khi có những đợt càn quét bất ngờ, đạn bay

đạn chạy đạn chui chúi rít róng cày dưới chân nóng hổi, đạn dọc ngang qua người rát bỏng, đạn xoe xoé trên đầu lành lạnh, đạn làm cho bè bạn tôi mang vành khăntang với đôi mắt ngơ ngác khi mà chiều qua, người thân còn ở trước mặt, khi mà tối qua họ còn chạy ngang mặt tôi lúc tôi còn ngái ngủ có mẹ ôm chặt lôi xềnh xệch

mặc tiếng reo, tiếng réo, tiếng bùng vỡ chan chát vung vãi cùng mùi diêm sinh toả bay khét lẹt trong hoả châu rực sáng bầu trời, soi rọi từng ngóc ngách như hắtngược mọi khung cảnh đen trắng lồi lõm, toang hoác từng hố, từng ụ, từng doi cát lớn nhỏ. Như xé ra, băm ra từng mảng thịt da con người bằng tất cả sự điên cuồng

của cuộc chiến. Đó là thời gian đầy mộng mị.Lúc giải phóng về, nửa số làng trông xa như ốc đảo trên cát ấy trắng khăn tang trong anh hùng và đổ nát, trong bi thương lẫn tự hào. Những thiếm Ba, cô Bảy,

bác Chín lên đường cái quan chạy theo đoàn quân đang hướng về nam còn hằn vết dép lốp trên cát miệng rối rít hỏi thăm và nhận lấy nụ cười cùng những cái lắc đầu.Rồi chị Hiền, chị Son, chị Búp sinh ra trên vùng cát, từng có những buổi hò hẹn trên vùng cát kể cả mẹ tôi cũng chấp nhận người ruột thịt, là cha tôi đêm đêm ngồi

lặng bên bài Dạ cổ hoài lang đã mãi mãi không về. Mẹ còn đúng hai bàn tay trắng cùng tôi như là một gia tài cuối cùng của mẹ với những vết xích chà xát rãnh cátquanh nhà, hằn vệt trên khoé mắt những dấu rãnh của thời gian khi trước mặt là biển vắng và sau lưng là cánh đồng phèn có cát lấp, cát xô gờn gợn một màu phau

phau trắng. Kỷ niệm về cha, đêm đêm trở về áo ướt đẫm sương, lùa vội chén cơm dưới ánh đèn dầu leo lét vào mùa gió chướng. Bữa ăn gánh hai phần khoai mộtphần gạo cùng chén muối ớt có đọt lá sắn mì luộc vội khi đang vào vụ mùa cá cơm, cá chuồn, cá nục rồi lặng lẽ ra đi theo chú Ba, bác Sáu, anh Bảy hoà vào bóng

tối còn đầy sao trời cùng tiếng lách cách súng đạn cứ mãi đeo đẳng trong tâm trí tôi mỗi khi đất nước mở hội mừng ngày thống nhất.Nhưng đó là chuyện trăm năm của những người đàn bà vừa qua chiến tranh, những người đàn bà trong một lịch sử đã qua, trong ấy có mẹ tôi.

Tôi cảm nhận mình lớn lên khi không còn cha bên cạnh và bảo mẹ về lại đồng làng bên ngoại. Mẹ im lặng quay đi không nói nhưng nước mắt lưng tròng. Tôi vácgàu sòng đi tát nước ruộng vừa gạt ra qua lớp cát, mỗi sào tát đến ngàn gàu và cứ nhìn sao trời mà đếm, càng nhiều sao thì ngày mai càng nắng gắt, nước bốc hơi

nhanh nên lại bì bọp vục gàu để tát khi đã tới vụ mùa.Ngân làng bên cách tám triền cát có thửa ruộng cao trên gò, thời chiến tranh gần ngày giải phóng, cha Ngân đã chết vì một tràng đạn vu vơ lạc hướng trong lúc ra

đồng tát nước vào mờ sáng tinh sương. Tôi thường giúp Ngân vục gàu đến ba ngàn lần đếm nên tận gà gáy mới về, không thể nhìn sao trời mãi nên lại cúi nhìn bànchân Ngân bên cạnh, đôi chân trần trắng lôm lốp, gót đỏ như son và nhỏ nhắn như chân nai thật khác với con gái vùng cát. Có lần, nghỉ chân bên bụi dứa dại, Ngân

bảo "mẹ anh chọn tên thật hay". Tôi phì cười "Mẹ đặt để nhớ vùng đất này, loại cỏ sống trên đá thì hay ho gì, cát mà sống chẳng nổi, huống hồ…". Vùng đất của sáutháng mưa ngút ngàn, quật réo ào ào ruộng sâu ngập trắng cả nước. Còn sáu tháng nắng thì nóng, hừng hực nóng cát như khô cong từng mảng, gót chân từ lúc nhỏ

đã chai cứng khô như da bò, quăn queo như bánh tráng nhúng nước. Ngân lại bảo "Anh có nghĩ mình bỏ nơi này?". Tôi im lặng đứng lên nâng chiếc gầu sòng, tayvác sào lên vai giục Ngân đi về. Tôi biết và cả Ngân cũng biết, nhiều người đã ra đi, chính tôi cũng tự bảo, một ngày nào đó cũng sẽ ra đi, đi bất cứ đâu, làm bất cứ

việc gì, miễn sao là rời khỏi miền cát, cách xa từng trảng dứa dại, từng lùm bàn chải đầy gai nhọn đâm tua tủa lỡ va vào là buốt đến tận óc, cùng những bầy dônghoang, đàn cúm núm và tổ chim vành khuyên, bầy chim mỏ nhác cánh trắng làm nơi trú ngụ.

Năm sau, bọn tôi đang vào cuối cấp hai trung học, thì cả vùng cát phát động trồng rừng phòng hộ. Lúc ấy, miền cát còn dày đặc kẽm gai, hố bom, bãi mìn lâulâu lại phát tiếng nổ âm âm bùng bục trong lòng đất, lâu lâu bùng lên cột khói hình nấm đen sì liền theo là tiếng chân người rầm rập xô đến với mặt cát vung vãi máu

thịt, đỏ bầm cùng sắc nắng lung linh trong tiếng réo gọi vật vã. Thằng Mẻ, bạn tôi ở Doi dưới, cái thằng sứt môi hở hàm ếch, mỗi bước đi là sự khập khiễng dặt dẹođến rúm dó. Cha tôi bảo, đợt Mỹ đổ bộ vào vùng này, loại máy bay cánh đại bàng C123 lừ lừ mang chất phát quang đi rải trên miền rừng trở về, những thứ đựng

chất độc chết người ấy khi dùng xong, chúng ném các thùng rỗng trôi bềnh bồng ngoài biển. Cha thằng Mẻ đánh lưới trông thấy mang về để chứa gạo khiến chất độcngấm hết cả nhà.

Trưa nắng, Mẻ ra đồng một mình, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, lưỡi cuốc va phải quả claymo nằm sát mé ruộng kề bụi bàn chải mọc hoang, nó biến mấttăm chỉ còn vương vất áo ám khói bên chiếc lỗ tròn vo lấm tấm máu của loại mìn mà khi nổ là vỡ bung hàng ngàn viên bi sát thương định hướng vào một điểm. Nếu

Mẻ không chết lần ấy, thì vài năm sau này nó cũng phải chết, chết trong đau đớn quằn quại vì chất Dioxin độc hại, còn gọi là chất độc màu da cam đã huỷ hoại cả giađình nó.

Còn giờ thì ngày công được tính điểm quy ra lúa và rộn rã tiếng kẻng nghe đến hân hoan để gọi ra… bãi cát. Mọi nhà, mọi xóm nô nức mang vác xẻng cuốc, tayxách cặp lồng, tay ôm cây giống mà mơ ước cho từng trảng phi lao non lấp dần cát trắng, mà mơ ước một ngày rừng Hoành Lâm xưa kia giờ xuất hiện trở lại…

Từng hàng bộ đội chia ô rà mìn qua khu nguy hiểm, gỡ dần những tấm bảng sơn đen ký hiệu đầu lâu hai xương chéo cắm rải rác để các tốp dân phía sau hì hụi đàohố bỏ cây lấp đất dưới nắng chang chang thiêu đốt. Ngân đi bên tôi mặt ửng đỏ, sống mũi lấm tấm mồ hôi nhưng miệng vẫn cười tươi, thỉnh thoảng lại nghe tiếng hát

nho nhỏ, nhất là lúc có tôi sát cạnh. Ngân làm thật gọn, không vung vãi cát, không chao đổ cây, và em luôn ở phía sau lưng tôi, vun vén tất cả những gì tôi mặc sứcvung vãi cho kịp với tốc độ của bọn thằng Nghĩa, thằng Khải và mặc cho Ngân lâu lâu lại dừng cuốc nhìn tôi đầy trách móc nhưng vẫn cười khi thấy tôi hùng hục

vung xẻng tiến ngang hàng bọn bạn ở lớp.Những ngày ấy, chúng tôi được ăn cơm trắng với thịt kho trứng, dù gạo bốc mùi ẩm mục và trứng đã ung nhưng ngon vô cùng. Ngân mang theo nước đậu rang

pha đường chống say nắng, mà say nắng thì người nóng ran đầu như búa bổ, người lao chao nghiêng ngửa không khéo phát khùng cởi đồ vác cuốc chạy loi choi savào bãi mìn thì khốn. Nắng lắm, nắng toé hoa cà hoa cải, nắng vàng cháy như khô giòn mọi vật. Bóng nắng đổ xuống, người lom khom dõi nhìn bóng mình hắt trên

cát mà muốn thu nhỏ để chui tọt vào. Rồi cũng chẳng hiểu sao, từng nhóm tách ra làm riêng, chỉ còn tôi và Ngân. Mặc nhiên tôi làm gấp đôi và cũng mặc nhiên Ngânsăn sóc tôi là chuyện bình thường. Bữa cơm đầu tiên của hai đứa mãi đến chiều xế bóng trong hố bom râm mát, Ngân mỉm cười bảo tôi rửa mặt và ngồi cạnh để ăn

cơm. Tôi chợt nhớ cha và mẹ ngày xưa thì Ngân cắt ngang những suy nghĩ bởi ánh mắt long lanh ẩn hiện một hạnh phúc bất chợt vừa đến, Ngân bảo sau này vùng cátcó rừng trở lại, đất sẽ giữ người ở lại. Tôi nhìn đôi tay trần mang đầy vết cứa lẫn nhựa mủ cây đen sạm, nhìn gương mặt thanh thanh còn vương vài hạt cát mới chợt

nhớ cả hai là dân vùng cát. ừ. Có thể tôi sẽ ra đi nhưng cũng sẽ trở về nên im lặng và nhẹ nắm tay Ngân dù chưa hề có cảm giác rung động nào nhưng lại làm tôi dễchịu. Ngân vẫn để yên và trong mùi oi oi của cát tôi nghe có mùi hương nhè nhẹ thoảng qua khiến tôi quay nhìn, Ngân dịu dàng cười bảo "Ngân gội tóc bằng nước

nấu từ nụ hoa của loài bông đá, Ngân đã tìm ra nó, ở bên nó, dù ai đó có chấp nhận hay không? Dù ai sẽ ra đi và dù cho vùng đất này sẽ không còn loài hoa Ngânthích hay cả người ấy không về". Tôi cười khe khẽ nhìn áng mây đang trôi qua mang chút gió mát bất chợt chao đến, giọng Ngân lại vang nhẹ nghe xa xăm lắm "Thầy

bảo, tháng Bảy mưa Ngâu, chàng Ngưu về gặp Chức Nữ qua một dòng sông có cầu Ô Thước, dầu gì họ cũng được gặp nhau? Đâu như câu ca dao xứ mình mẹ rungày nào Sầu đâu chín rụng sao chàng bặt tăm, là sao hở anh?". Tôi cười "là mỗi mùa sầu đông ra trái khi đen vỏ rời cành rơi rụng là gần tết, là sum họp gia đình

nhưng có người vĩnh viễn không về, lời vọng chinh phu mà, hỏi gì mà kỳ.". Ngân cúi đầu yên lặng rồi lặng lẽ quay mặt sang nơi khác, nơi hun hút những triền cát trắngnóng hừng hực toả hơi mờ mờ mặt cát để len lén chùi nước mắt.

Ngày sau vào chen trưa chỗ tôi trồng đến gần khu vực của bọn thằng Nghĩa lúc Ngân bảo đi đâu đó rồi quay lại liền, tôi phải chờ không được đi lang thang. Cảbọn nháy tôi sang với chúng, tôi dõi tìm Ngân vẫn chưa thấy. Ngân về nên phóng qua chỗ Nghĩa. Từ phía hố bom nông chèn, Nghĩa chỉ lên mặt đường đá sỏi có quả

đạn M.79 vàng choé dưới nắng. Nó giang tay ném đá nhưng không nổ, thằng khác ném vẫn không nổ, vòng xoay trái đạn đủ tua để kim hoả đập thì cả bọn đều biếtvì sống giữa bom mìn, khói đạn. Điên máu, Nghĩa phóng lên mặt đường ném liên tiếp lúc tôi định gào lên ngăn nó thì sau lưng Ngân chợt xuất hiện, kêu với "Về đi

anh, đến bữa…". Tôi rùng mình chưa kịp hét, chưa kịp nhao lên xô vội Ngân thì đất đã rung chuyển bởi tiếng nổ, bóng Nghĩa bật ngửa oằn oại trong đám khói đenkịt. Tôi lao đến Ngân lúc Ngân đứng sững nhìn tôi chan chứa một nỗi buồn mà tôi chưa từng thấy bao giờ rồi từ từ quỵ xuống. Mảnh đạn đi qua người Ngân, bàn

kịt. Tôi lao đến Ngân lúc Ngân đứng sững nhìn tôi chan chứa một nỗi buồn mà tôi chưa từng thấy bao giờ rồi từ từ quỵ xuống. Mảnh đạn đi qua người Ngân, bàntay che vội lồng ngực phập phồng dần loang vết máu từ từ buông xuống nhẹ rơi từng cách hoa đá có màu vàng sậm trên triền cát trắng. Bỏ mặc mọi người vây

quanh, tôi nức nở ôm lấy Ngân, gục đầu bên đôi mắt chưa khép vội làn mi đang ngơ ngác nhìn bầu trời xanh lồng lộng, nơi ấy sẽ không bao giờ có nhịp cầu Ô Thướccùng đàn chim én vỗ cánh bay về.

Đó là chuyện trăm năm thoáng chốc vội vã đi qua, trôi nhanh như đợt gió heo may vào tháng giêng hai đổ về trải trên những triền cát, trong ấy từng có rất nhiềungười và có cả Ngân.

Tôi đã rời vùng cát vào chiều đông gió cuốn có mẹ lầm lũi vượt triền dốc lên đường cái quan tiễn tôi. Năm xưa, tóc mẹ còn xanh, cũng vào tối đông rét giá đưacha vượt trảng vào núi rừng trùng điệp. Còn bây giờ tóc mẹ đã vương sợi bạc, bàn tay gầy khô vuốt tóc tôi khi tôi cúi người nhìn bàn chân mẹ. Gần hai mươi năm tôi

chưa hề thấy mẹ mang đôi guốc mộc từ lúc theo cha về vùng đất mới. Bởi vì mẹ từng lầm lũi gánh gồng vượt cồn những buổi tinh sương đến khi chang nắng trên mộtdòng sông cát để đến chợ phiên này và chợ phiên kia bằng đôi chân trần hằn chai từng vệt chân chim nứt nẻ nhưng không hề váng chút phù sa vì đất ruộng đã bị san

bằng cho căn cứ Mỹ, với sự chịu đựng và cũng tự hào trên gương mặt có đôi môi khô nẻ, đôi má rám nắng dần xuất hiện lấm tấm từng hạt tàn nhang trước tuổi, đôivai thon mảnh cũng hằn chai u nần bởi bờ cong chiếc đòn gánh bằng thân tre đực vàng óng cha chọn cho mẹ phòng khi đứt gãy giữa đường, sẽ không phải như cô

gái làng ngày xưa ngồi tỉ tê khóc vì đôi quang gánh bung néo ở miền đất lạ. Mà là cô gái làng cát thực thụ với đôi quang gánh kĩu kịt với một đầu thúng là đủ món quàvùng biển, một đầu thúng là đứa con trai tóc còn để chỏm để băng qua vùng cát mà về quê mẹ phía đồng rừng xa thẳm. Đi từ mờ sáng gà eo óc gáy đến tận xế chiều

vì phải trả lời hàng trăm câu hỏi của con, của những nơi mẹ một thời con gái là kỷ niệm, của một bờ sông về chiều nước lặng chảy qua cầu chao nghiêng từng cụm laulách, từng tiếng bìm bịp vọng con nước ròng khẽ làm run rẩy từng cánh lục bình nở giề hoa tím trôi trôi để mẹ lặng nhìn từ một phía xa, nơi ấy có một lối ngõ hun hút

tre xanh, có một ngôi nhà ba gian hai chái nằm khuất dưới những tàn cây xanh lá và từng cụm khói đốt đồng cho người trở về thả khói tìm xưa. Cũng chính đôi quanggánh như một người bạn thân thiết của mẹ, để trong khói đạn cày xới vung vãi, mẹ đặt tôi vào một đầu, còn đầu kia là nồi niêu xoong chảo gánh gồng…

Tôi về thăm mẹ lần đầu khi bà khăn gói lên phố thăm tôi đến chục lần thì không lên nữa, đó là lúc tôi không còn đói rách trong ngàn vạn công việc kiếm sống ràyđây mai đó. Đó là lúc tôi đã rời thành phố này để sang thành phố khác xa hơn, tiếng nói con người mang một âm tiết khác hơn, lối sống càng khác hơn vì được du

nhập sự tiến bộ trên mọi phương diện đến chóng mặt, đến mệt mỏi vì thời gian dành cho riêng mình đã quá ít ỏi. Tôi ngơ ngác lạc lối trên một vùng cát mà thuở nhỏhằn in vết chân. Rừng đã có, không phải Hoành Lâm xưa kia mà cả dải mênh mông màu xanh ngút ngàn. Nhà đã mọc nhiều cùng quán xá và những chiếc cầu bắc

qua con sông nhỏ được khơi thông. Mẹ đã già, lưng còng như một dấu hỏi trong đời đang vãi thóc cho bầy gà con chiêm chiếp dưới chân. Bà ôm tôi rất nhẹ rồibuông ra đầy lạ lẫm trước khi bước lên gạch cửa để mở rộng đón đứa con xa trở về. Hoa đá mồ côi kia như không dành cho bà nữa khiến tôi quay mặt đi nơi khác.

Trong chiều chạng vạng, từ chiếc giếng đào bên vườn rau, có người con gái đang kéo dây lấy nước trông thật giống Ngân. Mẹ cười "Em gái út của Ngân, nó làm bênkhu công nghiệp đang ở nhờ nhà ta…"

Đêm. Tôi đi dạo cùng Nga, em của Ngân. Dưới tán dương đan dày lỗ chỗ ánh trăng hắt lên mặt cát rì rào tiếng gió, thỉnh thoảng có cánh chim đêm vụt qua vàcó những ánh đèn xe máy quét sáng đầy vẻ tò mò. Nga khúc khích cười đi sát tôi hơn nữa và lắng tai nghe tôi kể - về Ngân, cả chuyện về loại cây từng sống trên đá

nhưng Nga không hề biết, chỉ biết rêu phủ trên ấy về mùa đông, cúc dại ra hoa vào mùa thu, tàn úa mùa hạ, đâm chồi mùa xuân có bầy chim vành khuyên về làm tổ.Tôi hỏi về những người trên vùng cát và Nga cho biết, trong mênh mông điệp trùng này đã được phân giới hành chính với đường ngang lối dọc không còn những ốc

đảo xanh nữa, trong ấy Đen đã làm chủ tịch xã phía Thượng, Hoàng mở đìa tôm và nuôi tôm giống ở Phía Trung và Hoa lấy chồng làm nghề đánh bắt cá xa bờ ởdưới Hạ và còn, còn nhiều nữa nhưng không hề nhắc đến Ngân, Ngân như trở thành người của trăm năm trước dù Ngân luôn bảo đất sẽ không phụ lòng người. Như

phía ngôi nhà có chóp màu xanh nhạt đầu con đường rẽ vào làng hoa kiểng, nơi ấy có vườn thực nghiệm cấy ghép lai tạo đủ loại hoa sắc màu rực rỡ, có cả loại hoatím biếc thơm ngát mang tên một loài hoa đá xa lạ cùng sự sang trọng, có cả dãy xương rồng đủ dạng phù hợp trên một vùng đất.

Đêm tôi ngủ trong căn nhà của mẹ, trên chiếc giường cũ bằng gỗ chò chỉ long chân phải kê bằng hai viên đá đen ngày nào tôi từng sống và lớn lên ở nơi này. Mộtđêm tĩnh lặng đến day dứt, đến khó ngủ cho dù trước kia ngày tôi tóc còn để chỏm, thèm ngủ một đêm yên bình cho đẫy giấc vì tiếng súng cứ điểm nhịp, tiếng ca

nông phía tháp Nhạn bắn cầm canh, tiếng xe xích pha đèn chạy ù ù trên cát, tiếng chân nện đều của lính tuần tra, trong mơ màng ấy lại choàng dậy vì tất cả lại xoaytròn như rang cát trong chảo bởi trận tập kích hay pháo kích bất ngờ hay đợt càn đột ngột và bàn tay mẹ choàng vội…

Giờ thì quá tĩnh lặng khiến con người từ trạng thái này biến đổi sang trạng thái khác cứ ngơ ngác, không như những ngày ở phố trong các căn phòng gắn máy điềuhoà cùng chăn êm nệm ấm cứ ngủ đều đều, gáy đều đều. Có lúc, một đợt mất ngủ tái phát vì công việc phải trằn trọc thì lại thèm được trở về nơi cũ, là vùng cát để

ngủ một giấc thật bình yên. Vậy mà bây giờ mắt cứ chong chong nhìn lên trần nhà, đầu cứ mông lung hết điều này sang điều khác, hết day dứt này sang day dứtkhác. Khuya lắm lại nghe tiếng gà gáy canh đầu, tôi trở dậy thấy cửa hé liền bước ra ngoài. Mẹ đang ngồi trước thềm sân nơi đặt chiếc chõng tre dưới tàn cây ô mai,

bà im lặng nhìn mãi về hướng trảng cát mà trước kia nó là dải đất mênh mông trùng trùng triền nọ nối tiếp triền kia, mỗi bước chân đi qua là thoáng chốc gió đưa cátphủ lên lấp lên không một hình thể nào in hằn, nơi đó cha đón mẹ về cũng chính nơi đó, mẹ tiễn cha ra đi. Mẹ quay lại nhìn tôi trước khi với tay lấy cơi trầu đặt cạnh,

nói nhỏ như chao trong gió: "Con về, vẫn khoẻ và ra dáng một người đàn ông là mẹ mừng". Mẹ lại im lặng cui cúi têm trầu, lúc sau ngẩng lên cười "Tý nữa con Nganó dậy, mẹ bảo lấy nồi đất nấu chõ xôi nếp tượng rằn hột tròn, cậu phía quê đến mùa gửi sang cho mẹ. Loại nếp mà ngày trước con và Ngân rất thích, mỗi bận đi

chơi bên Đá Bia hay về vùng biển, chính Ngân đã sang để lo nấu cho hai đứa mang theo trong bọc lá chuối. ừ, có thêm vốc muối mè, chai nước gạo rang. Chỉ tội conhay giành ăn với nó, mặc dù mẹ vẫn cho con phần nhiều. Đứa con trai duy nhất mà. Giờ thì Ngân không còn, nó ra ở mãi trên triền dốc nên con sẽ được cả phần nó

nữa hoặc phần đó, nếu con Ngân còn sống, nó sẽ nhường hết cho con. Con bé giống mẹ ngày trước, đã yêu ai thì không tiếc chút gì, thầm lặng và chịu đựng là tínhmặn mà cách của những người phụ nữ ở miền đất này…" Tôi muốn bật khóc, muốn chạy ra trảng cát mà vùi mình trong ấy để mặc sức quằn quại nức nở, mặc sức

kêu gào, mặc sức hối lỗi. Nhưng giờ phía đầu ngõ kia là con đường đi qua với rừng phi lao trải dài không còn cảnh vật cũ. Tôi quay lại mẹ, định nói một lời với mẹnhưng bà đã đi vào bếp, đã nhen lửa, nơi có vầng trăng lưỡi liềm trên cao toả sáng mờ mờ vòng vọng tiếng vạc ăn đêm trở về.

Chiều ngày sau, tôi cùng Nga có cả Đen, cả Hoàng, cả Huy sang nghĩa trang trong vùng cát giữa mảnh rừng dương êm ả. Nơi có ông tôi, cha tôi và những ngườithân của làng. Có cả Ngân, cả Nghĩa, cả Trung, cả những kẻ đã ra đi lúc tôi ở phố. Những ngôi mộ được bao bọc tường gạch kiên cố không còn vun cát xếp chồng

phòng cát trôi, cát lấp. Mộ cha tôi gần chỗ Ngân nằm được trồng nhiều luống cúc dại mùa này đơm bông rực vàng. Tôi biết, mẹ trồng và gọi tên là loài hoa đá, kỷniệm mẹ dành riêng cho ba người để thành một hoài niệm trong cuộc đời, cũng như cho một vùng đất .

Đó là chuyện trăm năm sau tôi sẽ về.Còn khi tôi sinh ra trên vùng cát, được mẹ đặt tên cho một loài hoa đá là chuyện của trăm năm này, tôi lại tiếp tục đi tìm dù nó có hiện thực hay không hay chỉ là

loài cúc dại nằm lẻ loi bên đường trong sự lãng quên chỉ mình Ngân biết. Và tôi đã từng về vùng cát, về với Ngân, về bên cha và cả mẹ khi mẹ vĩnh viễn ra đi cũngvào một chiều đông gió cuốn lạnh buốt đến tê tái, lúc mà bầy cúm núm chao chát bay về tổ, lúc mà loài chim vành khuyên về xây tổ trong các bụi hoa đá trổ bông

vàng, cả ba đã về nằm kề nhau thật yên bình để đón nhận từng mùa hoa đá rợp vàng quanh mộ chí, từng mùa gió nam non, nam cồ mai mái se sắt trôi qua vùng cáttĩnh lặng hay mùa mưa có ngút ngàn đến đâu cũng vẫn đầm ấm cho dù không có tôi, hoặc cũng chẳng cần có tôi, và tôi trở về thoáng chốc lại ra đi, đi biệt với hoài

niệm đầy day dứt bên một khoảng trời thơ trẻ ngày nào có bao buồn vui để cảm nhận về một miền đất mọc đầy loài hoa đá trải dài cho dù trăm năm, trăm năm saunữa cho dù loài chim từ quy khắc khoải lảnh lói gọi bạn bao mùa.

Mùa này, sầu đông đã hết sắc hoa trắng nhưng trên mỗi cành lá đều có những chùm trái sém vàng dần chín đong đưa trôi nhẹ theo gió. Tháng mười sầu đông dầnrụng để chuẩn bị một mùa xuân về, chuẩn bị vào mùa chim vành khuyên xây tổ ở từng bụi cúc dại trổ hoa vàng và cả trăm năm sau sầu đông vẫn chín rụng bao mùa,

rụng để chuẩn bị một mùa xuân về, chuẩn bị vào mùa chim vành khuyên xây tổ ở từng bụi cúc dại trổ hoa vàng và cả trăm năm sau sầu đông vẫn chín rụng bao mùa,nhưng có người thật sự đã không trở về cho dù chim vành khuyên cất tiếng kêu thảng thốt, cho dù loài chim từ quy từ phía biển, phía những gộp đá trải dài sặc sỡ

sắc hoa rừng dưới chân dãy Đá Bia bay về cất tiếng kêu lảnh lót gọi bạn đến tha thiết, đến đau thương nhưng người đã trôi theo gió cát, theo mây trời lang thang,theo từng cơn gió mồ côi qua cành hoa đá, theo những đợt mưa chao nghiêng thoáng qua không để lại chút gì hay theo cả những đợt khói lam lan toả vào những

chiều nhạt nắng dù ai có về thả khói tìm xưa và trôi theo câu ca dao xưa cũ mọi người từng nhớ của vùng đất này…

Năm quan

Chị sống vương giả, đỉnh cao của hưởng thụ. Không có nhu cầu vật nào của cuộc sống chị phải bận tâm. Cái mà người ta khao khát ô tô thượng thặng, biệt thựsinh thái chị đi trước người ta cả ngày đường. Mọi cơ ngơi giàu sang ấy là công của hai vợ chồng chị lăn lộn mười mấy năm trời khi thiên hạ làm ra đồng tiền bằng con

đường nào vợ chồng chị xộc vào con đường ấy. Hơn thế, chồng chị còn nghĩ ra nhiều cách giờ nhìn lại thấy chóng mặt, rờn rợn, tim đập mạnh. Chị gặp anh sau ngàyra trường. Anh khoẻ mạnh, sôi nổi, có khiếu nói chuyện lại con nhà vai vế ở phố phường đáp ứng mong ước thay đổi cuộc đời chật hẹp miền quê của chị. Anh mê

chị. Chị xinh gái, dịu dàng, hấp dẫn, non tơ trong trắng. Anh chị hợp tính nhau là phải làm giàu. Giàu sẽ có tất cả. Xưa nay vẫn thế. Chị đã đi đến đích. Vậy mà trongthừa mứa của cải chị chợt nhận ra mình thiếu một điều gì đó đang trỗi dậy từ trong những tế bào, trong mạch máu li ti. Không phải bất chợt. Đã nhiều ngày nó chập

chờn thoáng qua cứ như làn sương mờ càng về khuya càng lớn dần, không rõ nét; như ánh hoàng hôn làm cho người ta mơ hồ trống vắng; lại như người lạc lối đứngngã ba đường thẫn thờ không biết đi về đâu. Chị thử tìm nó. Phải chăng chị thèm khát cuộc sống ở các nước giàu có nhất thế giới?

Hơn mười nước hàng đầu của các châu lục chị đã đến cả. So sánh vật chất chị chẳng thua kém. Vả lại đồng tiền ở đấy thiếu hiệu quả, không khuynh đảo bằngnơi chị ở. Chị thích bậc đế vương ư? Với chị, đấy là chuyện nực cười. Đế vương suy ra cho cùng cũng chỉ là một tên nô lệ bậc cao trong vòng xoáy của đồng tiền.

Chị tự hỏi điều gì làm cho tâm trạng chị chán chường, chưa nhận chân ra được nó, mà nó cứ lởn vởn đâu đấy, đeo đẳng mãi không thôi. Dồn nén đã đến lúc làm chochị bần thần mệt mỏi. Chị muốn chút dịu ngọt xua tan nặng trĩu trong lòng.

Chị ra hiên cửa ngóng chồng. Chỉ có anh. Anh không chính thức có địa vị nhưng anh có quyền lực vô hình. Anh không phải một nhà kinh doanh tầm cỡ nhưnganh có lợi nhuận cao hơn họ. Anh quyết định đoán đến mức tuyệt đối. Vào cuộc anh buộc được mọi người răm rắp những gì anh bày ra. Anh như một cái bóng trùm

lên không một đối thủ nào thoát được. Đến chuyện ái ân với vợ anh cũng có lịch. Ban đầu chị thấy khó chịu sau quen dần, tự bằng lòng. Anh là một gốc cây lớn chochị tựa. Và nhờ có cái dáng yểu điệu giai nhân làm cho gốc cây, đầy hấp dẫn, xoá mờ những nét xù xì lộ diện. Hôm nay chị đón anh khác thường lệ. Đôi mắt của

giống bồ câu dịu dàng đắm đuối khát khao được vỗ về cả ham muốn nữa. Chị biết phá lệ. Chị muốn một lời âu yếm, một chút vuốt ve cũng làm cho chị dịu bớt nỗibuồn. Anh nhìn chị ngạc nhiên rồi anh hiểu ra cái phần xác thịt. Anh nở một nụ cười hững hờ, chiếu lệ làm nguội lạnh và tê buốt chạy khắp sống lưng của chị: anh

không có nhu cầu. Chị cảm thấy cay nghẹn ở cổ như đang nuốt một thứ thức ăn khó chiịu. Thì ra chia sẻ, an ủi, âu yếm phải có lúc!?Như thường lệ, chị đi bách bộ quanh vườn trong biệt thự trước khi đi ngủ. Bóng cây xanh mát rượi với những khóm hoa đêm toả hương làm vơi đi chút hẫng hụt

buồn ban chiều. Chỉ được chốc lát thôi. Cũng như khi màn đêm buông xuống có thắp cả ngàn vạn ngọn đèn thì bầu trời đêm vẫn đen thẳm. Từ hẫng hụt đến nỗi buồnbắt chị suy nghĩ. Phải chăng nhu cầu của chị quá đáng, bất thường? Cứ cho vậy. Thế chị không có quyền mỗi khi tình cảm đòi hỏi? Quan hệ vợ chồng là hết mình

dâng hiến, hết mình vì nhau, bên nhau. Chị đã hết mình cái trời đất ban cho con người. Vậy còn anh? Anh có quyền trên quyền ấy ư? Chị rùng mình. Chỉ trừ tuầntrăng mật anh bảo mình có lịch để ngóng chờ, hấp dẫn hơn. Đột xuất chỉ có ở người đàn ông. Mười mấy năm trời chị cảm thấy hợp lý. Vả chăng người đàn bà thường

đến muộn. Cũng những lúc ấy, chị nhớ lại vỗ về mơn trớn kể cả nụ cười cũng để cho cái đích tất cả vì anh. Còn chị lắm lúc hẩm hiu, nguội lạnh. Bấy giờ chị nghĩ trờisinh ra thế. Với lại thời gian ấy của cải đang cuốn hút hết tình cảm tâm trí của chị, nó như là một thứ hạnh phúc tuyệt đối nên chị không mấy quan tâm.

Có thật không hay tính hờn dỗi đa nghi của đàn bà? Chị cố xua đuổi ám ảnh xấu. Không thoát được. Càng rẫy nó càng đeo đẳng, càng lấp nó càng sâu như đểchứng minh rằng chẳng phải tính nông nổi của đàn bà. Ban đầu chị khâm phục thấy ở anh con người quảng đại, một lối sống ở trời tây mà chị háo hức. Bất kỳ công

việc lớn bé giao du ở đâu anh cũng đưa chị đi theo. Chị được chào đón. Nụ cười của chị nơi chị có mặt làm cho ở đấy quan hệ dễ chịu hơn. Có những cuộc nhảybao giờ anh cũng nhường chị cho những đối tác quan trọng. Lắm lúc họ không có nhu cầu, anh hối chị: Em làm một cuộc xã giao gây cảm tình với ông A. ông T. Quả

thực trong làn hương thơm nồng của da thịt trắng ngần, bộ ngực đầy hổn hển, đôi mắt của chim bồ câu đắm đuối với lời mời ngọt ngào không vị nam nhi nào làm ngơvới dáng điệu gợi tình mời nhảy của chị. Họ làm hoà với anh nếu có ác cảm. Họ gần anh hơn để có dịp được khiêu vũ với chị. Lâu dần như là lệ không đợi anh nhắc

nhở hối thúc, như là chị không thuộc về anh, ở sàn nhảy chị biết làm gì, nơi yến tiệc chị biết ngồi cạnh ai. Cũng có vị ngây ngất quá đà. Nhưng chị đã có cách để họdừng lại. Bởi lúc nào chị cũng nghĩ về anh. Rồi đến một vụ việc đổ vỡ. Danh dự, uythế của anh có nguy cơ suy sụp trước thất bại này. Anh nói với chị mục tiêu của

chúng ta là sung sướng giàu có. Các phương tiện chẳng qua như dòng nước chảy, câu nệ trong đục mà làm gì. Nguy cơ quá lớn. Lần ấy chị phải tung hê toàn bộ khảnăng đàn bà để cứu vãn chồng mà lúc nào lời của anh cũng ăn sâu trong tâm trí chị: tất cả vì hạnh phúc của vợ chồng mình. Có thật thế không? Công bằng mà nói chị

cũng có phần hưởng thụ. Chị cũng bứt được cảnh tù túng ở miền quê lam lũ nhọc nhằn. Cũng chỉ vì ở miền tù túng nhọc nhằn ấy mà chị ngợp, chị choáng váng trướcnhững điều lạ. Chị chạy theo nó, không nhận ra đâu là hư đâu là thực. Bây giờ đã tường tận, đã chui tọt trong cái lớp vỏ bọc bên ngoài. Ôi một sự lợi dụng, một cách

phỉnh phờ quá khéo làm cho chị chỉ biết phục tùng. Cứ ngỡ là mình hoá ra không phải mình! Xót xa chưa? Chị ngửa mặt lên trời. Trời cao lồng lộng một màu đenthẳm như xoá đi mọi suy nghĩ trong đầu óc của chị.

Có bước chân dẫm lên những chiếc lá khô trong vườn với một giọng nói khô khốc như lá vỡ vụn tưởng an ủi mà thực ra phải thế: Em không được khoẻ? Em nêndưỡng sức vài tuần. Tháng sau cùng anh đi thương thuyết với mấy công ty công nghiệp nước ngoài. Chị dạ vâng cam chịu lặng lẽ theo anh về phòng ngủ.

Chị không sao ngủ được. Đêm dài ý nghĩ chập chờn ngoằn ngoèo như lũ rắn xoắn vào nahu không biết đâu là đầu đâu là đuôi. Lắm lúc trong óc chị như đám lụcbình nó loãng ra khi ai đó ném một tảng đá lớn rồi nó chụm lại, xoắn chặt hơn làm cho chị kiệt sức.

Chị thiếp đi lúc rạng sáng. Chỉ mươi lăm phút chị đã tỉnh giấc. Chị vào buồng tắm. Đứng trước gương chị thấy khuôn mặt mình phờ phạc đến mức chị nghĩ rằngai đấy đã lẻn vào phòng chị. Chị dụi mắt. Không. Khuôn mặt của chị đấy. Không son phấn, không viên mãn, không gợi tình. Nó vẫn dịu dàng. Đôi chân mày thanh

thanh như một cánh hoa mỏng vẫn sắc nét nhưng ở khoé mắt hằn lên vết mờ thâm thâm; trong ánh mắt chim bồ câu trời xanh đã ngả dần sang màu đất ai ải; vầng tránrạng rỡ giờ trông u buồn. Chị không thảng thốt, không giật mình bởi nó là kếtquả qua một đêm hkông ngủ và bộ mặt ấy như nhắc nhở với chị rằng chị đã gần bốn

mươi - cái tuổi cho con người ta thấy rõ đường đi phía trước, tỉnh táo nhìn lại phía sau.Chị ghé qua phòng trang điểm. Có lẽ trong đời chị chỉ trừ lần lên xe hoa bây giờ chị mới trang điểm cẩn thận đến thế. Ngày ấy chị trang điểm cho mình đẹp, lộng

lẫy. Bây giờ chị trang điểm để không hé lộ tâm trạng buồn chán. Son phấn giúp cho chị che giấu bộ mặt thực, làn da đã hồng hào trở lại. Đến giờ đi làm, chị tiễnchồng ra xe, ghé môi hôn anh như thường lệ. Nụ hôn tỏ ra thắm thiết nhưng môi chị nhạt thếch. Lần đầu tiên chị đóng kịch. Chị cười nửa miệng, chua chát.

Chị ở nhà. Không phải chị mệt mỏi thể xác, tinh thần chị rệu rã. Một người bạn gái khuyên chị đến Gala cười. Chị bĩu môi: Chị đã gặp lắm nụ cười. Ban đầu chị

Chị ở nhà. Không phải chị mệt mỏi thể xác, tinh thần chị rệu rã. Một người bạn gái khuyên chị đến Gala cười. Chị bĩu môi: Chị đã gặp lắm nụ cười. Ban đầu chịcười với thiên hạ, sau đấy thiên hạ cười với chị. Cười xin xỏ, cười khiêu gợi, cười mỉa mai, cười đau đớn, cười thoả mãn… Tất cả các nụ cười ấy đều xuất phát của

hèn hạ. Chị không tìm ra nụ cười đích thực tự đáy lòng người. Nói đâu xa - chị nhớ lại - chồng chị, anh ấy chỉ cười mơn trớn, khơi gợi khi anh ấy đòi hỏi. Lúc tặngquà cho chị anh cười của nụ cười ban ơn. Chị giật mình. Thì ra buồn vu vơ hẫng hụt mung lung làm cho chị cảm thấy chán chường lâu nay không thành hình rõ nét

chính là nụ cười! Chao ôi, chị khao khát nụ cười chân thành tự nhiên như nắng mùa xuân làm cho cỏ cây nẩy mầm hoa đơm nụ, cho lòng người ấm áp, cho vạn vậtgiao hoà tồn sinh trong trời đất. Chị đã nhận ra phiền muộn vô cớ lâu nay nó nẩy sinh trong mớ vật chất thừa mứa. Con người ta có thể thay đổi khí hậu trong một

công viên, trong một lâu đài rộng lớn bằng máy móc. Suy ra cho cùng trong lành mát dịu nơi này thì nơi kia nóng bức vẩn đục. Chị đã xem một trận bóng đá người tacho hay tuyệt. Mười một cầu thủ ngây ngất trong chiến thắng. Mười một cầu thủ sụp đổ thất vọng tột cùng. Hàng vạn khán giả vỗ tay reo hò thì cũng ngần ấy con

người buồn rơi lệ. Trò đời. Mọi thứ trên đời này đều như vậy cả. Anh to khoẻ, nhanh chân hơn vơ dành hết. Kẻ yếu, chậm may lắm nhặt nhạnh chút ít rơi vãi. Côngcuộc giàu có của chị có khác gì đâu. Vậy thì lấy đâu ra một nụ cười chị hằng khao khát?

Có tin nhắn mẹ đã bỏ cơm. Dễ đến hơn mười năm chị chưa về. Mẹ ngoài bảy mươi. Hai năm lại đây có xe đón mẹ lên chị chơi mẹ cũng không đi. Trên đường vềthăm mẹ xem ra đồng quê cũng khác hơn trước. Làng không còn lặng lẽ yên ả sau bờ tre. Giếng nước cây đa là của thời quá khứ. Dù vậy vẫn còn chút gió của đồng

nội mơn man trong lành mát rượi. Chị thả bộ trên con đường rải nhựa vào làng. Ngôi quán đầu làng có cây nhãn toả bóng trước là của một bà già, mái lợp tranh, vẻnvẹn chiếc chõng tre, vài chiếc thẩu đựng kẹo với bát nước chè cho khách qua đường. Đôi khi bọn trẻ con tám chín tuổi như chị có đồng lẻ nào cũng ghé vào quán

mua mấy chiếc kẹo lạc kẹo vừng. Lâu lâu không thấy bọn trẻ vào quán mua kẹo, biết chúng không có tiền bà gọi cho mỗi đứa một chiếc kẹo bột bằng đầu ngón taycái. Lúc ấy, cầm chiếc kẹo trên tay chị cảm thấy sung sướng. Bây giờ quán lợp ngói, tường xây, có đến năm sáu bàn tiếp khách đủ loại bia rượu, thức nhắm. Chị ghé

vào thăm và mừng cho bà cụ. Nhưng chủ quán là một người đàn bà còn trẻ, khuôn mặt đầy đặn, sung mãn, trẻ hơn chị vài tuổi. Nếu người nhà quê thì chủ quán từngtrải mau miệng, với thành phố thì chị thật thà thô thiển. Chị chủ quán cho biết bà đã mất cách đấy vài năm, chị ta mua lại chỗ đất này. Chị không nói gì, thoáng buồn.

Nơi chị ngồi, cách đấy bốn năm dãy bàn sau một bồn cây cảnh có ba ông khách cỡ năm sáu mươi tuổi ngồi hướng ra phía cánh đồng cười, nói, bộ điệu khác người.Anh lái xe và chị chăm chú lắng nghe vẫn không hiểu gì. anh hỏi chị chủ quán. Đang lúc vắng khách lại thấy khách sang chị ta hăm hở nói: Mấy ông rỗi hơi, toàn

chuyện khó nghe. Chị cho biết ông ngồi cạnh bàn có chiếc gậy để bên hỏng cả hai mắt, ai làm gì cũng không thấy. Ông quay lưng lại đây lốm đốc tóc bạc, có cấigýnung núc thịt, có đánh trống bên tai cũng không nghe. Còn ông kia gầy như kẻ mắc bệnh lao thì thấy, nghe rõ mười mươi nhưng lại câm, không nói được. Vì sao tật

nguyền, lúc nào, ở đâu chỉ có trời biết. Mấy năm qua lại đây quỷ đưa đường ma chỉ lối thế nào các ông lại gặp nhau, thỉnh thoảng ghé vào quán tôi uống chen rượu.Múa máy, nói năng chỉ có họ mới hiểu họ. Nghĩ gì nói gì người ngoài chú ý lắm cũng chỉ thấy các ông cười, cười nghiêng ngả cho đến khi gục xuống bàn mới thôi.

Anh lái xe nói: Vậy là sung sướng nhất đời. Chị chủ quán tỏ ra không đồng tình: Chú cứ nóit hế chứ trời đất sinh ra cho mình đầy đủ chân tay, mắt miệng vẫn hơn.Nghe mà không thấy, thấy mà không nói được khố lắm! Nhưng mà chuyện riêng của họ thì thật hay. Bà và chú ở phố phường văn minh sang trọng không chê mụ chủ

quán này quê mùa thì tôi kể cho bà và chú nghe. anh lái xe bảo: Mấy khi ngang qua đây được bà chủ quán kể chuyện với lại chuyện hay sao lại không nghe. Nhưđược khích lệ bà chủ quán hăng hái: Ông câm có một con vợ phì nhiêu. Ông nghe nó hẹn hò với trai, ông thấy nó nằm với trai, ông đi gọi mấy người hàng xóm đến,

tay chân múa máy rồi chỉ vào chỗ ấy của vợ. Ông xông tới định giáng một bạt tai vào vợ. Chị vợ lồng lên kêu trời: Ban ngày ban mặt công việc ngập đầu ngập óc tôilàm không hết làm sao tôi chiều anh được. Đã đến nước này thì đây… Vợ ông kéo xộc ông vào buồng. Mấy người hàng xóm xấu hổ, lủi nhanh, cười hô hố: Cái

thằng câm mà dê tợn. Nó gọi mình đến để khiếu nại vợ nó cấm cung. Đến cái ông điếc. Ông tư tình với một mụ xa chồng. Mụ ta bảo ra đóng cửa buồng lại, ông ngỡra ngoài đống rơm. Ông chui vào đống rơm, gặp phải ổ kiến lửa. Kiến chui vào cắn rân khắp người, ông điên tiết hét lên: Mày lỡm ông! Mày lỡm ông. Chuyện ông

mù thì… Nghe nói hồi trẻ ông bảo ông chưa biết cái gì. Bạn bè giúp ông. Người ta dẫn đến một con trâu cái, bịt mồm, trùm vải toàn thân, cho ông sờ. Ông cứ mânmê mê mãi làm cho đám đông bật cười. Ông biết mình bị lừa, chửi toáng lên: Tiên sư chứng mày bịp ông!Bây giờ các ông hỏi ông lúc ấy thế nào. Ông không chút hổ

thẹn: Tao nghĩ sao mà to thế! Anh lái xe oà cười. Cười đến mức đánh rơi cốc nước chanh trên bàn. Chị chỉ nhíu đôi chân mày thanh mảnh sắc nét. Chị đang nghĩ điềugì mung lung. Chị chợt thở dài. Đúng là chuyện dân gian…

Chị về. Thấy mẹ đang quét lá trong vườn, chị đỡ cái chổi trên tay mẹ: Mẹ ốm sao không nghỉ ngơi. Mẹ chị không chăm con gà con lợn như trước kia nhưng bàvẫn chăm sóc mấy cây ăn quả trong vườn. Mùa nào trái ấy cho cháu cho chắt, cho trẻ con lối xóm làm vui. Người nhà cho hay mấy ngày trước mẹ không dậy được.

Hôm kia ăn bát cháo. Bữa nay tay chân muốn nhúc nhắc mẹ ra vườn. Mẹ nắm tay chị: Mẹ nhớ con quá chừng. Tuổi tác mẹ không chịu nổi xe tàu. Cứbước chân lênlà chóng mặt. Xem hình ảnh của cong ởi về trong băng đĩa không sao bằng được nhìn thấy con, được sờ vào da thịt thật của con. Chị rưng rưng nước mắt khi thấy

tay mẹ sờ lên mặt mình như ngày còn htơ và nụ cười của mẹ. Vào nhà. Mẹ nhắc chị thắp nén hương cho bố. Bố mất khi chị lên mười. Vừa cắm nén hương trên bànthờ chị vừa nói: Con đã ghé viếng mộ bố trước khi con về nhà. Chị kể chị gặp một người đàn bà trong nghĩa địa. Chị ta đâu như hơn chị vài tuổi. Chị ta vật vã ôm

ngôi mộ mới mà gào khóc thảm thiết: Nằm đây lạnh lắm con ơi. Mẹ tính còn ba tháng nữa con đầy năm tuổi. Tuổi này xa mẹ ai chăm miếng cơm manh áo cho con?Không! Con tôi không chết. Ai vùi con tôi xuống đất? Trả lại con cho tôi. Chị ta cào bới nấm mộ, mười đầu ngón tay rướm máu, t óc rối tung bết đất, hai hố mắt sâu

hõm, chỉ thấy nước mắt trào ra. Nghĩa địa quạnh quẽ quá. Chị động lòng. Chị đến cạnh người đàn bà: Chị phải dưỡng sức. Nhà chị ở đâu tôi đưa chị về. Người đànbà vẫn gục đầu vào ngôi mộ như nói với ngôi mộ: Về nhà soa được khi con tôi nằm lại nơi đây. Hồi lâu chị ta quay lại nhìn chị: Tôi nhọc nhằn tủi nhục lắm mới có đứa

con. Vậy mà nó chết rồi. Không có con làm sao tôi sống nổi chị ơi? Mẹ chị nói: Nó ở làng ta đấy. Đi làm công nhân công nghiệp gì đấy. Ba lăm tuổi chưa chồng. Nóđánh liều lang thang hè phố, bến xe, gầm cầu kiếm đứa con. Mấy tháng sau nó quay về làng mặt mày hớn hở. Chuyện nó mà nó oang oang như chuyện thiên hạ: Bố

cái lũ đàn ông. Bà cho không mà nó õng ẹo. Chúng bảo bà bị si-đa thù đời đi đổ bệnh. Bà bị bắt giam, nghi bà gái bán hoa. Bà chỉ đi kiếm đứa con. Bà đây còntrinh. Không tin thì cứ thử! Rồi bà cũng dụ được một thằng sinh viên. Có bao nhiêu tiền bà cung phụng nó, nó cũng trả công cho bà, thế là bà vù. Mẹ chị thở dài: Nó

đơn chiếc, lo chạy bữa, con bị bệnh sốt xuất huyết mà không hay. Trời đất cay nghiệt với nó quá! Ngừng một lát mẹ nhìn chị: Mẹ mong một đứa cháu ngoại để bế.Nghe nói khoa học bây giờ giúp cho vợ chồng dễ thụ thai. Chị im lặng. Chị không phải khó thụ thai. Đã một lần. Bấy giờ chị mới hai ba tuổi. Chồng chị bảo hãy tận

hưởng tuổi thanh xuân. Với lại có con cản trở công việc làm ăn. Chồng chị hối thúc. Chiều chồng, chị phải huỷ bỏ cái thai đầu đời khi nó chưa đầy ba tháng. Chịnhắm mắt cay đắng. Hình ảnh người đàn bà bên nghĩa địa. Người ta sẵn sàng chịu đựng mất tất cả vì muốn có con. Đau đớn đến tuyệt vọng khi mất con. Còn chị. Lú

lấp vì đồng tiền, tưởng hạnh phúc hoẩ bị dối lừa. Nghĩ cho cùng chị chẳng qua là một phương tiện công cụ, một thứ trang sức danh giá cho chồng. Anh ấy khôngmuốn phương tiện công cụ đó xuống cấp. Xót xa thay! Chị nhớ có lần mẹ chị nói trời cho mình làm đàn bà thì mình phải sinh con. Sinh con! Nghe như một điều gì

mưói lạ, như một điều gì lãng quên; nó tựa như xa xôi thăm thẳm mà lại hiện hữu bên mình. Cũng trong mơ hồ mung lung ấy đang dần hé mở tình cảm vừa có vừakhông, vừa được vừa mất làm thay đổi cách nhìn lâu nay của chị. Chị đã ý thức. Từ ý thức chị giật mình: Buồn nhất là tính di truyền của gien. Chị xua tan ý nghĩ chọn

lọc. Nó… nó… Chị nghĩ đến sức mình phải gánh chịu. Lường trước đoạn đời mình phải đi tới, chị hỏi mẹ: Sinh đẻ đau đớn lắm hở mẹ? Mẹ đáp: Rứt ruột ra khôngcó cái đau nào bằng! Nhưng thấy đứa con đỏ hon hỏn cất tiếng khóc oe oe thì không có niềm vui sướng nào bằng. Rồi đến cữ con biết cười. Nhìn con cười ai có

đòi đánh đổi cả thế gian này cũng không thèm. Có làm mẹ mới có được cái phúc ấy con à.Nhà lối xóm văng vẳng câu hát ru em: à ơi. Năm quan mua lấy nụ cười… ơi à, à ơi…

Cánh cò trở về

Cánh cò trở về

Ở bến Lường, có vợ chồng lão Nguyên làm nghề chở đò ngang, cả hai tuổi đã ngoài năm mươi, nhưng không có con. Ngôi nhà của họ, nằm cô độc trên doi đấtđâm ra sông, xung quanh là những luỹ tre già, xanh biếc. Đấy cũng là nơi cư trú của lũ cò. Về mùa hè, tầm chiều tối cơ man nào cò bố, cò mẹ, cò con, với đủ sắc

màu: Trắng phau như tuyết, đỏ hồng như lửa, vàng tươi như nắng… tới tấp bay về. Chúng chao liệng, gọi nhau, cãi nhau, đánh nhau… náo động cả khúc sông nhưlàng quê vào hội.

Người ta kể rằng: Vợ lão Nguyên người làng bên kia sông thời con gái, cô nổi tiếng khắp vùng vì xinh đẹp, đảm đang; bao nhiêu con trai đều mê đắm, theo đuổi.Con đường đất dẫn vào ngõ nhà cô, cứ nhẵn thín như đá mài, bởi đêm nào cũng có những tốp con trai tụ tập, để chờ xem mặt cô và chòng ghẹo, tán tỉnh. Ong

bướm dập dìu đến hai, ba năm. Bỗng nhiên một sớm, cô chào cha mẹ, bước xuống thuyền hoa sang xóm Trại, lấy anh lái đò hiền lành, khoẻ mạnh, đen như củ súng,kém cô ba tuổi, là lão Nguyên bây giờ.

Lại nghe kể, vợ chồng nhà ấy hồi trẻ làm khoẻ, ăn khoẻ và đẻ cũng khoẻ lắm. Người xóm Trại chứng kiến không dưới bảy lần, cảnh anh chồng lo lắng, thậntrọng dìu vợ bụng chửa to vượt mặt, miệng nhăn nhó vì đau đớn, lần từng bước leo qua con đê cao, sang trạm hộ sinh của xã. Rồi cũng bằng con đường ấy, anh

chồng chạy đi, chạy về như con thoi, vấp ngã dúi dụi, ôm nào chăn, màn, xô, chậu, quần áo, tã lót… phục vụ vợ “vượt cạn”.Nhưng thật bất hạnh, những đứa con của họ sinh ra trai có, gái có, lành lặn hẳn hoi, cũng chỉ sống trong vòng tay bố mẹ vài ngày đến vài tháng, lại mắc bệnh

hiểm nghèo, lần lượt bỏ đi. Mẹ chúng đau đớn, gào khóc, vật vã, chết đi, sống lại bao lần. Chị kiệt sức, tàn tạ dần như trái mướp thui. Mới ngoài năm mươi tuổi, tócbà Nguyên đã bạc trắng, mặt nhăn nheo như quả táo khô, cặp vú teo tóp bám trên khuôn ngực gầy guộc; đôi mắt lá răm đã ngả màu đùng đục, nó chỉ sáng lên khi

bà Nguyên nhìn thấy lũ trẻ con xóm trại trần truồng, lấm láp đùa nghịch trên bãi cát bờ sông. Lúc ấy, gò má của bà chợt ửng hồng, đôi môi chúm lại run rẩy. Khátvọng làm mẹ của người đàn bà luống tuổi này còn cháy bỏng! Bà Nguyên thôi không làm công việc đồng ruộng, bà nhận lấy mái chèo, ngày ngày chở đò đưa khách

sang sông.Ông Nguyên hiểu và thương vợ lắm, càng thương tính nết ông càng trầm. Cả ngày ông hùng hục làm hết việc nhà, đến việc đồng. Thậm chí, có việc tất cả đàn

ông xóm Trại đều kiêng kỵ, là giặt quần áo cho vợ, ông cũng không từ. Vào tuổi năm mươi, quen lao động, lam lũ từ nhỏ, nên người ông chắc nịch như cây gỗ lim.Dân xóm Trại ở bến Lường, ngoài trồng lúa, còn có nghề làm bánh chưng, họ làm quanh năm để bán. Bánh chưng có hai loại nhân ngọt và nhân mặn, chiếc bánh

nho nhỏ vừa đủ một bữa ăn sáng, hay làm quà cho trẻ. Người ta ngâm gạo, đỗ từ sáng; buổi chiều chọn thịt, rửa lá, tước lạt; chập tối gói và xếp vào nồi luộc; Mờsáng, vớt, ép bánh rồi quẩy lên thị trấn Cẩm Giàng, bán cho các hàng ăn, các người bán quà rong ở ga, ở trên tàu hoả tuyến Hà Nội - Hải Phòng.

Ông Nguyên gói bánh chưng rất tài. Nhiều gia đình trong xóm thuê ông gói. Cơm tối xong, ông mặc chiếc quần cộc, cởi trần, áo vắt vai sang nhà hàng xóm. Ônglấy khúc tre làm ghế ngồi, thoăn thoắt đặt lạt, xếp lá, xúc gạo, đỗ… - chỉ ước lượng bằng mắt, không cần đong - rồi gói. Nhanh lắm! Bánh ông gói, trăm cái như

một, vuông thành, sắc cạnh… đều tăm tắp.Xong việc, ông lững thững theo triền đê về nhà. Bà vợ đợi ông trước hè, ngọn đèn dầu nhỏ, ấm nước vối nóng hãm lá chi chi ngọt lịm.

Hai người ngồi uống nước bên nhau, không ai nói gì, họ cùng im lặng nghe tiếng các gia đình nhà cò, đang trò chuyện lao xao trên rặng tre quanh nhà. Gió mátrượi, thơm mùi bánh chưng đang chín. Khuya khuya, vợ chồng ông mới đi ngủ, họ nằm ở chiếc giường kê gian ngoài, sát cửa sổ nhìn xuống bến đò. Sớm mai, thoáng

có bóng người dưới bến, bà Nguyên đã dậy, không để ai phải gọi. Ông Nguyên đặt mình xuống giường là ngáy, tiếng ngáy đứt đoạn, nhọc nhằn. Bà Nguyên phephẩy quạt cho chồng, xót xa ngắm hình bờ vai, lồng ngực vạm vỡ của ông mờ mờ hiện trong đêm.

*Cuộc sống của vợ chồng lão Nguyên cứ cô quạnh như thế cho đến cuối mùa hè. Năm ấy, thời tiết khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, lại kéo dài. Con sông

Lường nước đục ngầu, đầy ăm ắp. Bến đò phải dịch lên đến gốc cây sung già, đầu vườn nhà lão Nguyên. Giữa chiều, nắng xiên khoai gay gắt, không khí ngột ngạt,oi bức. Bà Nguyên cắm đò dưới gốc cây sung, mắt hấp háy nhìn trời lẩm bẩm:

- Trời đất này, chiều tối thế nào cũng có mưa giông! Có mưa mới ngủ được. Độ này ông lão hơi sọm. Khốn khổ! Suốt ngày đội nắng, chỉ có hàm răng là trắng!Bà vốc nước sông rửa mặt, ngó mông sang bờ bên kia. Bên kia, sát bờ cát là gò đất cao như lưng con rùa khổng lồ. Trên gò có cây gạo già. Cây có từ bao giờ

bà Nguyên không biết, ngày bà sang xóm Trại lấy chồng, đã thấy nó rồi. Cạnh cây gạo là con đường đất dẫn lên thị trấn Cẩm Giàng. Hai bên đường, cánh đồngmênh mông, vừa cấy kín lúa mùa sớm, lúa đã bén rễ, đang nhú nõn xanh non. Xa nữa, là cánh đồng màu của thôn Nguyên Khê, những ruộng bí đao đã tàn chỉ còn

trơ giàn. Xa nữa, mờ mờ trong nắng là luỹ tre làng La, chạy dài như bức thành, ở giữa có chỗ cao vượt lên hình như mâm xôi, đó là cây đa cạnh sân đình làng. BàNguyên sinh ra và lớn lên ở làng La. Mấy năm nay bà không về quê, cha mẹ già đã chết, người em gái cũng đã lấy chồng. Dì ấy đông con, chồng lại bệnh tật, nên

quanh năm làm ăn vất vả, vẫn đói, vẫn rách. Nơi ấy, bà còn có một người thân thiết, ngày xưa họ đã từng yêu thương nhau, thề thốt nặng lời. Bà đã trao cho ông cáiquý nhất của người con gái. Nhưng cha mẹ bà không bằng lòng để bà lấy ông, chê nhà ông nghèo. Ông phẫn chí bỏ đi. Bà đau đớn, ê chề, bị cha mẹ ép buộc, đành

nhắm mắt sang sông lấy chồng. Nghe nói, sau đó ít lâu người ấy trở về làng. Biết bà đã đi lấy chồng, ông đi biệt tăm.Miên man nghĩ, bà Nguyên không hay bên kia sông có tiếng gọi đò; tiếng gọi rụt rè, nhưng da diết:

- Đò… ơ… ơ… ơi! Cho tôi sang với!Bà Nguyên vội vàng đưa đò sang sông. Khách xuống đò là phụ nữ, dáng mệt mỏi, bộ quần áo cũ loang lổ mồ hôi và bụi. Không nhìn rõ mặt, bởi khách chít một

tấm khăn đen to, chiếc nón trắng úp sùm sụp trên đầu. Song, ngắm vòng eo nhỏ nhắn, đôi vai tròn và hai bàn tay thon thả rám nắng, bà Nguyên đoán khách là ngườicòn son rỗi và có nhan sắc.

Khách ý tứ ngồi xuống giữa khoang đò, lơ đãng nhìn những xoáy nước nhỏ, tròn xoe hình thành ở đầu mái chèo đang đuổi nhau chạy ra xa, mất hút trên mặtsông. Hình như đôi mắt của khách loáng nước. Khách kín đáo thở dài.

Con đò lướt ra giữa sông. Gió đã nổi, khối mây đen ở phía tây lúc nãy, giờ phình to che hết mặt trời, mặt sông Lường chuyển sang màu xám. Bầy cò nối nhauđáp xuống ngọn tre, đôi cánh chấp chới như những mảnh nắng cuối cùng của ban ngày.

Bà Nguyên ái ngại nhìn trời, nhìn khách:- Em về Nguyễn à?

- Vâng!- Còn xa đấy! Bốn năm cây số, chả ít đâu!

- Vâng!- Sao đi muộn thế em?

Không có tiếng trả lời.- Trời tối, lại sắp mưa to! Khốn khổ! Thân gái một mình…

Khách lơ đãng trả lời, hai bàn tay úp vào nhau đặt trên gói quần áo, cô dửng dưng với cảnh vật xung quanh, dửng dưng với cả chuyến đi của mình. Linh cảm củaphụ nữ mách bảo cho bà Nguyên biết: Người đàn bà này đang có hoàn cảnh éo le, u uất lắm; có lẽ cô đang bơ vơ, không nơi nương tựa. Bà thấy thương cô, muốn

đưa tay ra giúp đỡ cô.

đưa tay ra giúp đỡ cô.Mũi đò chạm bờ. Bà Nguyên cởi chão buộc con đò vào gốc sung. Rồi không đợi khách có bằng lòng hay không, bà cầm túi quần áo của cô nói dứt khoát:

- Em ơi! Nghe chị bảo: Em vào nhà chị nghỉ đã, mai hãy đi. Em đừng ngại. Nhà chị kia, chỉ có hai vợ chồng già. Nào! Đứng dậy, đi cùng chị. Nhanh lên! Kẻomưa ướt hết bây giờ!

Sau một câu nói của bà, mưa ào ào trút xuống như thác đổ. Hai người đàn bà dắt tay nhau líu ríu chạy qua khu vườn.Đêm ấy, ông Nguyên ngủ một mình ở gian ngoài. Bà Nguyên và khách nằm trong buòng. Chiếc giường để không từ khi đứa con sau cùng bỏ đi, nay lại ấm hơi

người. Chắc bị mệt, khách trằn trọc một lát rồi ngủ, mái tóc rất đen, rất dài chảy xoã trên gối, tràn cả lên ngực, lên mặt bà Nguyên! Bà thảng thốt: Mái tóc này giốnghệt tóc bà ngày xưa, cũng có mùi lá xả thơm ngát. Suốt đêm bà Nguyên thao thức, bao kỷ niệm thời con gái ùa về.

*Sáng hôm sau, khách không đi được. Bà Nguyên dậy chở hai chuyến đò, đưa cánh bán bánh chưng đi chợ sớm, về nhà thấy khách vẫn nằm co quắp trên

giường, trán nóng như lửa, còn chân tay lạnh giá. Bà cuống quýt gọi chồng, ông bà vội vàng giã mấy lát gừng, pha nước nóng đổ vào miệng khách, lấy dầu gió xoakhắp chân tay. Sau đó, bà giục ông chạy lên trạm xá xã mua thuốc. Bà dặn:

- Cứ nói rằng tôi bị cảm ông nhá! Mà phải nhanh nhanh lên!Ông đi, bà lục hòm quần áo cũ tìm đồng bạc trắng, luộc trứng gà, đánh cảm cho khách. Bà loay hoay đặt khách nằm ngửa, búi gọn tóc, nới khuy áo cổ. Trời đất

ơi! Khách đẹp quá: Khuôn mặt trái xoan hồng hồng, mắt lá răm khép rợp rặng mi cong. Sống mũi thẳng và cao, cặp môi mọng đỏ như thoa son. Khách thở khónhọc, vệt gân xanh nổi rõ trên cổ trắng ngần. Bà Nguyên nhẹ nhàng xoa mồi đánh cảm trên mặt khách, như sợ làm đau khuôn mặt kiều diễm. Chợt bà dừng tay, khi

chạm vào đôi mày nhỏ và dài của khách. Sao nó cứng và thưa thế! Chẳng lẽ?… Bà khép bớt cửa buồng, lén lút cởi hàng khuy áo của khách. Một khuôn ngực nhưngọc, như ngà lồ lộ hiện ra. Chiếc ức đầy đặn mịn màng, hai bầu vú tròn căng, trắng hồng… Nhưng núm vú hơi to đã chuyển màu thâm thâm.

Bà Nguyên run hết cả người, vội vàng cài kín các cúc áo, lại kéo thêm tấm chăn đắp cho khách, rồi bà cứ thế ngồi lặng đi, ngắm người khách đang sốt mê man.Cô ta xinh đẹp thật, nhưng không trẻ như bà hồi ấy. - Bà đoán cô khoảng hai nhăm hai bảy tuổi - Chắc cô chưa có chồng, lại “già kén kẹn hom” đây! Cô chót dại

với ai để đến nông nỗi này? Người ấy sao không che chở, yêu thương cô, để cô một thân một mình, bụng mang dạ chửa phiêu bạt đến đây? Nay lại ốm đau!… Nếunhư không gặp được vợ chồng bà, cô sẽ ra sao? Có phải cô cũng như bà ngày xưa: Bị sỉ nhục, bị lừa dối và thúc ép đành nhắm mắt đưa chân, tìm nơi nương tựa?

Đời bà may mắn gặp được ông Nguyên. Còn cô… Bà Nguyên lo sợ, không dám nghĩ tiếp.*

Trận ốm đột ngột đã giữ cô Hoà - Tên người khách, sau này cô mới nói với bà Nguyên - ở lại xóm Trại hơn tháng trời. Những ngày đầu, cô hết sốt nóng, lại sốtrét, nằm mê mệt không ăn, uống gì. Thỉnh thoảng cô chợt tỉnh. Tỉnh lại khóc rấm rứt hay nói những câu không đâu vào đâu. Vợ chồng ông Nguyên tận tình chăm sóc

cô như người ruột thịt. Nhất là bà Nguyên, bà thức trắng đêm xoa bóp, đánh cảm hoặc canh cho cô ngủ, bà lo lắng dõi từng nhịp thở, từng cơn ho của cô. Sâu chuỗinhững lời nói mê của cô, bà lờ mờ hiểu ra tất cả. Càng hiểu, càng thương và chăm cô hơn. Liều thuốc mua ở trạm xá về, bà cất đi “phụ nữ có mang, không dùng

những thứ này” bà lọ mọ đi kiếm các cây lá, thuốc nam cho cô uống.Khỏi sốt, cô Hoà gầy và xanh lắm, suốt ngày cô ngồi thu lu trong buồng, mặt buồn rười rượi. Ông Nguyên vác chài đi đánh cá, chọn những con cá chép còn tươi

rói nấu cháo, nấu canh chua cho cô ăn. Bà Nguyên bắt cô nghỉ ngơi, không cho làm gì, kể cả giặt giũ quần áo của mình. Vất vả, bận bịu… Nhưng vợ chồng ôngNguyên lại vui vẻ. Tự lúc nào, người phụ nữ xa lạ kia, trở nên gắn bó, thân thiết với vợ chồng ông.

Một tối, sau khi hoàn toàn bình phục, cô Hoà xin phép được thưa chuyện với vợ chồng ông Nguyên. Cô mời ông, bà ngồi trên giường, còn mình ngồi dưới chânhọ. Cô nói nghẹn ngào:

- Công lao của anh, chị đối với em như trời bể, em không biết đến bao giờ mới đền đáp được. Xin phép anh, chị cho em được vái anh chị ba vái.Cô sụp xuống vái đúng ba lần.

Ông Nguyên vội vàng đỡ cô đứng dậy. Vốn tính thương người, ông không đành lòng, nhìn người khác đau khổ, van xin. Nhất là đối với phụ nữ. Ông bỏ ra ngoài,để mặc hai người đàn bà nỉ non, tâm sự.

Khá lâu, bà Nguyên mới hỏi:- Thế bây giờ em tính thế nào?

- Thưa chị, em định sang thị xã Hưng Yên, tìm một người họ xa của mẹ em, ở đó em kiếm việc làm, tự nuôi mình.- Có chắc em tìm được không?

- Cũng chưa biết chị ạ! Nhưng hoàn cảnh của em bây giờ nó… khó lắm, đành liều.Bà Nguyên đắn đo một lát, rồi chậm rãi nói, như bảo ban đứa em mình.

- Em ạ! Hoàn cảnh của em, em không nói, chị cũng đã biết. Chị cũng trải qua như thế. Theo chị, bây giờ em chưa khoẻ hẳn, lại trong thời kỳ phải giữ gìn. Nhàchị ở đây vắng vẻ, neo đơn. Anh chị đều thương quý em. Vì thế, em không ngại cứ ở lại. Khi nào mẹ tròn, con vuông. Em muốn đi hoặc ở với anh chị tuỳ em. Chị nói

thật, sau này chị coi con của em, như con của anh chị. Hãy tin chị… Thôi! Nín đi em! Ta ngủ đi, khuya rồi!Đợi khách ngủ yên, bà Nguyên rón rén trở dậy, bà có việc hệ trọng cần bàn với chồng. Định gọi, không ngờ ông vẫn thức. Hai người thì thào rất lâu. Có điều gì

đó, ông chưa ưng, bà cười, khẽ vỗ vai chồng:- Ông rõ lạ! Người thiệt thòi là tôi chứ đâu phải ông?

*Dân xóm Trại ít, nhà ở cách nhau xa, lại không có tính soi mói, nên việc nhà ông Nguyên có thêm một người, cũng không ai quan tâm. Ai đó vô tình hỏi, bà

Nguyên nói đó là người em họ xa, gia đình dì ấy chẳng còn ai, nên sang ở với anh chị cho vui. Người nghe tin ngay. ừ! Chị em “lọt sàng xuống nia”. Hơn nữa, hoàncảnh ông bà Nguyên như thế, cô em ở với là tốt lắm, thôi thì con em cũng là con chị! Mà có lẽ thật, vì bụng cô em đã thấy lùm lùm.

Mấy ông bạn thợ cày thì đùa:- Lão Nguyên giỏi! “Mía ngọt đánh cả cụm”. Ông nợ bọn này một bữa rượu đấy nhá!

Ông Nguyên cứ lặng thinh…Qua tết, sang đầu mùa hè, dì Hoà trở dạ. Bà Nguyên không để chồng dẫn dì đến trạm hộ sinh của xã, bà tự tay đỡ cho dì. Mọi việc tốt đẹp. Dì Hoà sinh đôi, hai

đứa con gái, ông Nguyên đặt tên cho chúng là con Vân, con Vi.Hai đứa trẻ hay ăn, chóng lớn, lại được ba người lớn chăm chút, nên chúng rất khoẻ mạnh. Đúng “ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò cò biết đi”.

Đặc biệt chúng giống nhau như hai giọt nước. Cũng da trắng như trứng gà bóc, mắt đen lay láy, chân tay mũm mĩm, hồng hào. Trừ người trong nhà, đố ai biết đượcđứa nào là chị, đứa nào là em? Bắt chước mẹ Nguyên, chúng gọi ông Nguyên là bố, gọi cả bà Nguyên và dì Hoà là mẹ. Xem ra nó quý mẹ Nguyên hơn, suốt ngày,

hai đứa đeo vào sườn mẹ. Có lần khách gọi đò, dì Hoà phải thay mẹ Nguyên cầm chèo.Cả nhà ai cũng yêu chúng, có thứ gì cũng phần và chia đều cho hai đứa. Nghe bố mẹ gọi:

- Vân Vi đâu?Hai đứa khoanh tay, cúi đầu, dạ rõ to, rồi chạy lại, cười ròn khanh khách. Một tối bà Nguyên bảo:

Hai đứa khoanh tay, cúi đầu, dạ rõ to, rồi chạy lại, cười ròn khanh khách. Một tối bà Nguyên bảo:- Trong buồng bức lắm, rôm sẩy mọc đầy người các con đây này! Từ rày, Vân Vi ngủ với mẹ Nguyên ở gian ngoài. Bố Nguyên vào trong buồng mà ngủ.

Dì Hoà cúi mặt vuốt tóc hai con, ông Nguyên khoác chiếc áo lên vai, không nóigì, ông sang hàng xóm gói bánh chưng thuê.Ông Nguyên trở về, đêm đã khuya. Trên chiếc giường gian ngoài, bà Nguyên và hai đứa trẻ đã ngủ. Cái Vân, cái Vi mỗi đứa gối một cánh tay, còn chân gác

chéo lên bụng mẹ; trông như hai trái bí mập mạp bám vào thân cây đã già. Cửa buồng khép hờ.Ông Nguyên ngồi xuống hè. Trăng mười sáu tròn vành vạnh như chiếc đĩa bạc treo giữa trời cao, trong veo. Gió chạy trên ngọn tre sào sạc. Tiếng con vạc đi ăn

đêm gọi bạn rơi vào trong sương. Yên tĩnh quá, nghe rõ tiếng nước sông Lường đang chảy, nhẹ nhàng vờn lên bờ cát. Một bàn tay mềm mại đặt lên vai ông. Khôngquay lại, ông cũng biết đấy là dì Hoà.

- Vào buồng ngủ đi anh! Đừng làm chị Nguyên buồn, tội nghiệp! Không có chuyện gì đâu, anh chớ ngại!*

Một năm sau đêm ấy, dì Hoả bỏ đi, dì mang theo cái Vân, nó vừa tròn ba tuổi. Buổi tối lúc đi ngủ, dì Hoà rủ cái Vi:- Vi vào ngủ với mẹ; mai mẹ mua cho chiếc bánh chưng to nhé!

- ứ thèm ngủ với mẹ Hoà! - Cái Vi chẩu môi lắc đầu - Vi ngủ với mẹ Nguyên cơ!- Thế Vân vậy, ngoan nào mẹ yêu!

Cái Vân phụng phịu, nó ngủ với mẹ Nguyên quen rồi, mẹ hay xoa lưng cho chị em nó. Thích lắm! Nhưng mẹ Hoà đã cầm tay nó dắt vào buồng. Nó nhấm nhẳn:- Vi được ngủ cả với mẹ Nguyên! Mai phải đền Vân đấy!

Sáng dậy, bà Nguyên hoàn toàn bất ngờ. Sao dì ấy lại ra đi vào lúc này? Cuộc đời của dì đang yên ổn hạnh phúc cơ mà? Này nhé, sinh nở mẹ tròn, con vuôngkhông điều tiếng gì. Này nhé, con cái khoẻ mạnh, xinh đẹp, lại được chồng yêu - dì chả đã ăn ở với ông Nguyên cả năm nay rồi đấy ư? Ông Nguyên cũng hợp với dì,

họ chưa bao giờ to tiếng, giận dỗi nhau. Càng nghĩ bà lại giận dì Hoà. Con người trông xinh đẹp thế mà bạc nghĩa, bạc tình! Bà đã mở rộng lòng đón dì, chăm sóckhi ốm đau, khi sinh nở, đỡ đần khi con thơ, con mọn. Bà nhường cả hạnh phúc làm vợ cho dì. Dì có biết, nhiều đêm bà không ngủ, miệng cắn vào tay để khỏi bật

khóc? Dì còn mang cả con Vân đi. Nó còn nhỏ, có tội tình gì, mà phải chịu chung vất vả với dì, lênh đênh góc bể, chân trời! Thương con Vân quá, bà cầu mong dìHoà nghĩ lại, mẹ con sớm quay về với bà, bà sẽ xí xoá mọi chuyện.

Chỉ riêng ông Nguyên biết lý do dì Hoà ra đi. Biết ngay từ cái đêm dì dắt tay ông vào ngủ trong buồng. Dì khác hẳn vợ chồng ông, dì xinh đẹp, mạnh mẽ, khátkhao hạnh phúc thật sự do chính mình tìm được, không phải do ép buộc, gán ghép. Cuộc đời dì đã một lần lầm lỡ, dì không bao giờ lặp lại, dù biết sẽ vất vả, khó

khăn bội phần. Dì quý trọng, biết ơn vợ chồng ông. Nhưng không yêu ông, không chấp nhận sự sắp đặt của bà. Để cuộc đời của mình trôi xuôi.Lúc dì đi ông thức, nhưng giả vờ ngủ, ông không dám giữ. Ông lo sợ dì mang theo cả các con. Dì có quyền làm thế, vì chúng là con riêng của dì. Song, là người

phụ nữ nhân hậu, dì đã đền ơn, trả nghĩa vợ chồng ông, bằng chính giọt máu yêu quý của mình. Ông hiểu dì còn ở lại nhà ông đến tận bây giờ, là để chờ con cứngcáp, mới trao cho vợ chồng ông. Ông biết ơn dì và tin người phụ nữ ấy, sẽ tìm thấy hạnh phúc tốt đẹp cho mình, cho con.

*Năm tháng qua đi. Thấm thoắt con Vi đã mười một tuổi, nó học trường làng Nguyên Khê. Tuy cách sông, nhưng trường lại rất gần. Đứng ở bến Lường nhìn rõ lá

cờ bay trên mái trường lợp ngói, nghe rõ tiếng trống vào lớp, tan trường hàng buổi. Sáng sáng, con Vi đeo cặp sách, đội nón cùng mẹ xuống đò sang ngang, rồi đếnlớp. Tầm trưa, những người bán bánh chưng trở về, cũng là lúc cái Vi tan lớp, nó lại lên đò về nhà.

Cái Vi càng lớn càng xinh đẹp và ngoan ngoãn, bố mẹ quý nó lắm, gia đình sống hạnh phúc, những mất mát, đau buồn dần dần mọi người quên đi, họ nghĩ nhiềuvề tương lai. Song… tai hoạ thảm khốc nhất lại đổ xuống đầu họ.

Đó là hôm cái Vi tan học sớm. Biết giờ này mẹ chưa đưa đò sang đón, nó tha thẩn đi theo những bờ ruộng tìm bắt châu chấu, cào cào để chiều về thả cho cò ăn.Độ ấy, lúa đang đỏ đuôi, cả cánh đồng một màu vàng óng. Những bông lúa trĩu hạt, uốn cong quệt vào người cái Vi. Chiếc nón trắng nhấp nhô, chìm nổi giữa biển

lúa mênh mông.Mải chơi, cái Vi không biết đầy trời mây đen đang vần vũ. Ngay trên đầu nó, vắt qua con sông là chiếc cầu vồng bảy màu rực rỡ; Sau lưng nó, phía làng La mưa

đã giăng mờ mịt. Cái Vi vội chạy tới gốc cây gạo cổ thụ để tránh mưa, chờ mẹ.Bà Nguyên đã nhìn thấy con, bà quay đò sang sông. Gió to quá, thổi thốc vào ngực bà đến tức thở, cánh tay nhức nhối, bà phải lấy cả thân người để giữ mái

chèo, lựa từng cơn sóng, đẩy đò đi. Chợt một quả cầu lửa không lồ, chói sáng đến nhức mắt bùng lên phía bờ sông, kem theo nó là tiếng nổ dữ dội, long trời, lở đất,không gian khét lẹt mùi lửa cháy. Chớp mắt, cây gạo cổ thụ bị chẻ toác, cháy đùng đùng như bó đuốc. Cả vùng lúa quanh gốc cây đổ rạp… Không kịp chờ mũi đò

chạm bờ, bà Nguyên nhảy ào xuống nước, chạy về phía cây cháy. Tới chân gò đất bà vấp ngã. Không đủ sức đứng dậy, bà cuống quýt cào hai tay vào nền đất cònnóng, bò đến chỗ con Vi. Con Vi đây rồi! Nó nằm nghiêng, khuôn mặt còn nguyên vẹn, nhưng bạc như vôi. Cặp sách, chiếc nón bay đâu mất; Nửa thân người phía

dưới cháy đen. Bà Nguyên ôm con, hét lên một tiếng rồi ngất đi.Ông Nguyên cùng mấy bạn thợ cày đi chôn cất con Vi. Vợ ông đang được bà con trong xóm đưa về cấp cứu ở trạm xá xã. Bà vẫn mê man bất tỉnh. Ông để mộ

con ngay trên gò đất cây gạo cũ, nơi nó thường đứng chờ mẹ những buổi tan trường. Vừa đắp mộ cho con, ông vừa khóc, nước mắt ướt đầm khuôn mặt đầy nếpnhăn. Từ nay, đứa con gái yêu quý của ông bà, sẽ nằm lại ở đây, lạnh lẽo một mình. Ông bà không còn được nghe con nói, con cười, con gọi bố mẹ. Con ơi! Oan

trái quá…! Con nằm xuống khi còn bé dại, khi chưa gặp lại người mẹ khốn khổ đã sinh ra con. Bố, mẹ có lỗi khi không giữ được con, nuôi con trưởng thành…Tiếng sét đánh xuống cây gạo bên sông, còn làm cho lũ cò trú ngụ trên lũy tre nhà lão Nguyên kinh động. Suốt chiều, chúng nháo nhác bay lên, đậu xuống. Đến

tối, chúng kéo nhau bay đi hết. Trên ngọn tre chỉ còn lủng lẳng những chiếc tổ rỗng không. Mấy hôm sau, gió to, ném nốt chúng xuống sông Lường.*

Bảy tám năm nữa đi qua…Vùng quê hai bên sông Lường đã thay đổi nhiều, đồng ruộng lúa cấy ba vụ, làng xóm nhà ngói san sát; cuộc sống ấm no, vui vẻ. Bến Lường vẫn còn đò ngang,

lái đò là lão Nguyên, ông đã gần bảy mươi tuổi, nhưng gân cốt còn cứng, tay khoát chèo vẫn mềm mại. Khách qua sông bây giờ ít hơn, nhất là cánh bán bánh chưng.Nguyên do, có vài kẻ lừa đảo - chúng không phải người xóm Trại - làm bánh chưng nhân bằng đất, bán cho khách lấy tiền. Khách bị lừa một lần, hai lần vừa đói,

vừa bực, bảo nhau không ăn bánh chưng nữa, họ ăn bánh mì, thứ này bán đầy ở ga Cẩm Giàng.Bà Nguyên đã già, lại lẩn thẩn, thấy ai gọi đò, đều bảo đấy là cái Vi, giục chồng sang đón. Bà thường ngồi một mình nơi gốc sung già, ngó sang gò đất bên sông

chờ đợi.Một sáng mùa xuân.

Có cô gái trẻ đứng bên kia sông đợi đò. Cô mặc chiếc áo sơ mi màu hồng may chít li, ôm sát cơ thể thanh xuân, thon thả, chiếc quần âu màu sáng, chân đi dépnhựa trắng. Sau lưng, đeo chiếc ba lô nhỏ, mái tóc đen như mun, rất dày tết thành đuôi sam dài tận kheo chân. Hình như có gì vui mà cặp môi cô đỏ thắm, đôi mắt

đen lóng lánh như cười. Lúc ấy, trời rất cao và trong. Vầng dương đang lên. Mặt nước sông Lường phía bên kia rực rỡ như vàng chảy, phía bên này, dưới bóng trelại xanh biếc. Gió ấm áp thổi trên đồng lúa đang thì con gái, lá ướt sương lấp lánh, tạo nên những con sóng nhấp nhô, kéo dài ra xa tít. Cô gái không gọi đò, mà

kiễng cả hai chân, cầm nón vẫy vẫy.Ông Nguyên cho đò sát vào bờ cát đón khách.

Ông Nguyên cho đò sát vào bờ cát đón khách.- Bố ơi! Con chào bố!

Giọng nói rất quen, âu yếm vang bên tai ông. Ông Nguyên lặng đi, sững sờ. Trước mắt ông là cái Vi. Đúng là cái Vi đứa con gái yêu quý, xấu số của ông. Đúngrồi! Khuôn mặt ấy, nụ cười ấy… gợi nhớ về người đàn bà ngày xưa.

- Bố! - Cô gái áo hồng nũng nịu. Cô bước tới cạnh ông, nắm đôi bàn tay gân guốc - Bố không nhận con à? Con là Vân đây ạ!Ông Nguyên ngỡ mình đang nằm mơ. Bàn tay con đang nắm tay ông, khuôn mặt con sát mặt ông, ông vẫn chưa dám tin. Ông buông rơi mái chèo, dụi mắt, lẩm

bẩm:- Con Vân đấy ư? Đúng rồi!… Vân Vi của bố…

Cô Vân đỡ bố ngồi xuống lòng đò, cầm lấy mái chèo, khoan thai đưa đò sang sông, hướng về phía gốc cây sung già.Đò cập bến. Cô nhảy lên bờ ôm lấy bà Nguyên. Linh cảm kỳ lạ của người mẹ, khiến bà Nguyên nhận ngay ra con mình. Bà bám vào vai con gái, mái đầu bạc

trắng đổ vào ngực cô. Bà khóc nhưng không thành tiếng, tấm thân gầy cứ rung lên từng đợt rất mạnh, như người bị nấc.Cô Vân xoa lưng mẹ, cô nói dịu dàng:

- Mẹ! Mẹ nghe con nói đã. Dì Hoà bảo, nay con đã lớn, dì cho con về ở hẳn với bố mẹ. Bây giờ gia đình mình sẽ mãi mãi sống bên nhau, con sẽ chăm sóc bốmẹ. Mẹ ạ, dì Hoà khoẻ, dì bảo, dì nhớ bố mẹ lắm.

*Cũng sáng xuân ấy, những người chờ đò dưới bến, bỗng nghe có tiếng quạt gió rất mạnh trên cao. Nhìn lên, họ thấy mấy cặp vợ chồng nhà cò đang đáp xuống

lũy tre nhà lão Nguyên. Có con mỏ ngậm những cọng rơm vàng.Họ bảo nhau:

- Cò lại về làm tổ ở đây rồi. Năm nay vùng mình làm ăn chắc thuận lắm.

Màu nước mắtTruyện ngắn của Ngô Khắc Tài

Không kể nước mắt bị cáo như Mùi rớt trong phiên toà, vì không khí nơi đây ít nhiều mang tính kịch mà bị cáo là diễn viên. Muốn khóc ở toà án cũng dễ, chỉcần gương mặt hiu hiu nhớ tới thuở tung hoành. Một thời Mùi làm giám đốc công ty đốt tiền không cần đếm. Không cần nhớ chi cho những ai, anh hai, chú ba nào.

Chỉ cần nhớ tới những anh hai, chú ba giờ đây trong cuộc trò chuyện, ai nhắc đến tên Mùi lập tức họ khéo léo lảng tránh, giây lát là có nước mắt rơi lả chả. Bên dướibắt đầu có tiếng xì xào cọp, beo, cá sấu, cù khóc, thằn lằn, rắn mối không khóc. Dế mèn chiều chiều gáy vang. Con gì mà không khóc, ừ mà con cù là con gì? Một

người hỏi, một người giải thích. Đâu thấy chỉ nghe đồn, nó giống như con sấu sống lâu năm nằm ẩn trốn dưới đáy sông. Đất đai làng mạc sụp lở cuốn trôi theo giồngnước, đó là do cù dậy lên.

- Dữ vậy sao?- Yêu cầu giữ im lặng, bị cáo bình tĩnh.

Ông Chánh án gõ bàn.Đang nhập vai Mùi như không nghe vẫn tiếp tục nghẹn ngào. Bị dồn tới ngưỡng chịu đựng, quên mất cương vị không được phép nóng nảy ông Chánh có vẻ lớn

tiếng. Thôi đừng giả dối nữa. Giật mình ngơ ngác Mùi đáp theo, dạ, em giả dối, cũng không biết mình nói gì. Vì nếu thế tức là Mùi nói thật. Xác nhận những việc làmsai trái của mình. Dù cho đó là lời nói dối, cũng xác nhận việc mình làm. Vụ án kéo dài hơn năm, ông Chánh cũng sơ ý không nắm lấy cơ hội kết tội.

Còn một mình trong phòng giam đôi mắt Mùi ráo hoảnh, mở lớn nhìn bốn bức tường xám xịt, đường kiến bò như trêu. Có thể kể. Mùi không khóc, mắt khôkhông lệ nhưng coi như đã khóc, nước mắt chảy ngược vô lòng. Dối mình, dối người sau thời gian dài, lúc này còn có thể dối người chớ không thể dối mình. Của

đem rải vung vãi, giờ không thể lấy lại đem trả cho Nhà nước. Cầm chắc án tử hình. Mùi ngồi bất động nghĩ về nó, bà mẹ chồng, cô Tư Hồng đến thăm, Mùi vẫnngồi yên. Thấy con dâu như bất cần cô Tư Hồng cũng ngồi yên theo, vậy mà chia sẻ. Mà nói gì chẳng lẽ khuyên đứa sắp sửa thụ hình bảo trọng sức khoẻ. Chẳng lẽ

nói chồng của Mùi từ ngày vợ bị giam giữ suốt ngày tìm quên bên men rượu, bia ôm, cho dâu con thảm khổ. Hai đứa con của Mùi bị bạn bè theo dòm ngó phải bỏhọc, nay được hai cô em chồng dẫn lên Sài Gòn chia ra nuôi nấng. Cô nói Mùi cũng không cần nghe, trạng thái của Mùi giống như đang nằm mơ giữa ban ngày. Một

giấc mơ dài, nơi sắp đến có chi vui đừng kêu tôi cuộc chơi sắp vãn. Nghe tuyệt vọng sao, biết đâu còn nước còn tát, tiếng gõ cửa đem đến cho Mùi chiếc phao. Quảnhiên cô Tư Hồng thương con dâu, đầu cô bạc trắng, cô để mặc không cần phải nhuộm. Nhiều lần cô Tư đến trại giam thăm con rồi trở về âm thầm. Đột ngột vừa

tới thăm buổi sáng, buổi chiều cô trở lại. Ban quản giáo nể nang cô là người có vai vế trong tỉnh, thông cảm cho bà mẹ lỡ bước sa cơ. Con ơi, con rối trí đã đành, máở ngoài cũng u mê. Cô Tư nắm lấy tay con lắc lắc. Mùi bỗng tỉnh ra, đôi mắt bất động chợt chớp mi, sức mạnh tồn tại dồn lên đôi tai lắng nghe. Cô Tư nói nho nhỏ.

Số là mấy năm trước, Mùi ký tên mua căn nhà của cô Tư cho công ty. Sau đó công ty phân căn nhà lại cho cán bộ là Mùi. Tiền của Nhà nước đi lòng vòng lọt vô túicô Tư mà cô vẫn không mất nhà. Sáu trăm cây vàng cô giữ một trăm làm từ thiện, cho đầu này đầu nọ, làm phước để nhẹ bớt tội lỗi. Chồng của Mùi được một trăm

chơi bời vi vu. Hai mối này không còn bao nhiêu, kể như bỏ ra. Còn bốn trăm cô Tư mua cho ba đứa em chồng của Mùi ba căn ở phố, đường xá mở mang, sau 5năm đất Sài Gòn ba căn đó trở nên giá trị gấp mấy lần. Bán ra cầm chắc cũng được 2000 cây, cái chỗ “tốt bụng” không nhớ, đúng lúc nó cứu Mùi. Đôi mắt ráo

hoảnh như nước giếng khô vụt được khơi mạnh. Chẳng khóc vì buồn mà còn chảy nước mắt vì vui. Những giọt nước mắt vui không rớt lộp độp, lả chả mà long lanh,rưng rưng từng giọt nhỏ bé. Và nó có màu xanh.

Nước mắt có màu? Cũng như quanh câu thơ “ba phần tư nhân loại đi trong giọt lệ của một thi sĩ”, người ta xúm nhau tranh cãi, giữ từ “đi” hay là sửa lại “trôi theogiọt lệ” kéo dài mấy số báo rồi bỏ ngang. Cuộc đời tiếp tục, trăm con suối theo sông xuôi về biển bao la, chẳng biết trôi hay đi theo nước mắt, của con cũng là nước

mắt của mẹ, xui chân cô Tư phải đi. Mà đến đâu, mặt đất bao la ở đâu có sự cảm thông, lắm khi đứa sống chung nhà lại phải bỏ ra. Từ ngày vợ bị giam giữ anh contrai lao vô rượu chè be bét tìm quên “má ơi, con biết làm sao”. Cô Tư hết lời nhưng một hôm cô lắng nghe trong cơn say “má ơi, người ta nói không có ăn xoài”. Lời

của đứa say làm cô mơ hồ suốt mấy ngày. Phần tự ái cô không dám hỏi ai, cuối cùng vì thắc mắc tò mò cô nhắc điện thoại gọi số 108. Cô trực tổng đài cái gì cũngbiết, với câu hỏi này coi bộ khó, cô bắt khách hàng đợi ba phút chuyển câu hỏi qua ba bốn vị Tiến sĩ sau mới tìm được câu trả lời. Hoá ra đó là một điển tích. Ngày

xưa có một ông vua được người dâng lên mấy trái xoài đầu mùa. Ông đem chia cho các quan, một vị vì đi trễ thành ra không có. Chẳng biết điển tích thêm bớt, viếtlịch sử mà không đầy đủ, chẳng lẽ người ta chỉ vì thiếu một trái xoài… Cô Tư bỏ ống nghe xuống, tiền trăm tiền triệu không tiếc cho số tiền trả điện thoại. Ai đó đã

lịch sử mà không đầy đủ, chẳng lẽ người ta chỉ vì thiếu một trái xoài… Cô Tư bỏ ống nghe xuống, tiền trăm tiền triệu không tiếc cho số tiền trả điện thoại. Ai đó đãnói chi cao xa với con trai của cô, dùng điển tích, cuối cùng để lộ ra lòng ganh tị tầm thường nhỏ nhen. Mấy năm sau giặc đuổi vua chạy cùng đường. Chạy đến thái

ấp ông quan nọ, ông ta ngoảnh mặt lạnh lùng “sao bệ hạ không đi kiếm mấy đứa ăn xoài”. Mà giả dụ có mang hàm ân người lúc gặp nguy biến giúp được người điềugì, hay là thuốc đắng của ai nấy uống. Rơi vào dòng dư luận là rơi vô vòng sóng đến vô cùng. Cuối cùng chỉ còn người và gia đình. Ba cô con gái sống trên thành

phố, trước kia đi học thiếu thốn món gì, chúng chỉ cần nhắc máy điện thoại “a lô, chị Hai ơi”. Giờ đây các cô em là bác sĩ, kĩ sư những người có ăn học nghĩ xa cô Tưgiống như thủ lĩnh, trước khi quyết định cần duyệt lại hàng ngũ, thế giới bé nhỏ của cô, các số phận phải gắn chặt với nhau. Chồng của đứa gái nhỏ, nhảy ra mua bán,

tánh tình cũng không đễn nỗi. Con rể lớn dược sĩ, cô Tư thương anh này, cách đôi ba ngày nó gọi điện về hỏi thăm tình hình huyết áp, ban đêm má có ngủ đượckhông. Anh còn bày cho cô Tư cách ngồi thiền để quên chuyện đời…

Vậy đã rõ, chỉ là những giọt nước pha chút muối qua người nước mắt có màu. Màu xanh là màu hy vọng. Nước mắt màu đỏ người ta còn hình dung ra. Ngàyxưa cô Tư bị địch bắt tra tấn, máu hoà trong nước mắt. Nhưng những giọt lệ màu vàng, vàng ròng bốn con số chín…? Giữa khuya người mẹ thức dậy lò dò một

mình ra bến đón chuyến xe đò chạy sớm. Rạng sáng cô Tư đến thành phố, vào ngày thứ bảy mấy đứa con nghỉ việc. Lần nào cũng vậy cô phân vân không biết ghénhà ai, nhưng rồi lại ghé nhà đứa con gái lớn bác sĩ. Thằng rể hợp tánh cô Tư, giây lát anh em con cháu tập hợp quanh cô Tư coi như một nhà. Cô đứng tần ngần

chưa vội nhấn chuông. Không dễ gì từ dưới tỉnh lẻ kéo nhau lên thành phố. Ba căn phố ba chị em sống gần nhau tạo ra thế giới bé nhỏ để rồi… nó như ảo ảnh, cóđó mất đó. Chỉ có cái thật là tồn tại mãi theo thời gian.

- Má ơi, lên sao má không báo trước cho con đem xe rước, đi sớm quá chắc lạnh hả má? Sao không vô nhà để con đo lại huyết áp?Tiếng người con rể, cô Tư nghe lòng nhẹ nhõm tuổi già, như được dựa vào ghế nệm êm ái. Sau đó anh pha ly cà phê sữa đem tới rồi bước ra phố tìm mua thức

ăn sáng, món cô Tư thích của một chú chệt bán ở góc đường mấy chục năm. Cô Tư rửa mặt, ra ngồi thưởng thức ly cà phê đầu ngày. Cô không để ý, ở trên lầu đứacon gái lớn chắc là nghe tiếng của mẹ đến nhà, đã bảy giờ rưỡi sáng cô vẫn chưa chịu thức dậy. Buổi sáng không khí còn trong lành, êm ả, xe cộ chưa kịp thả khói,

ồn ào. Trong trạng thái dễ chịu, cô Tư cũng không chú ý, đứa con của mình bước xuống hờ hững - Má mới lên. Khi cô Tư cúi ăn tô hoành thánh của con rể mua về,hai vợ chồng đứa con gái thứ ba, nhỏ gái út lục đục kéo qua. Bình thường có một người ngồi kế bên mẹ như những ngày xưa thân ái, bỗng dưng tất cả cùng ngồi

chung bàn đối diện. Đến đây cô Tư mới kịp nhận ra, dường như tất cả đã chuẩn bị trước để chào đón mình. Rồi chẳng phải cô Tư khai mạc, cô gái út nhanh gọn mởđầu - Má lên đây kêu tụi con bán nhà, cô út hình như đi ra ngoài sự sắp đặt, làm sao cô biết được. Cô Tư chỉ mới trao đổi với mấy người quen dưới tỉnh. Hay là đám

cò mồi đánh hơi, lẹ thiệt. Hay là… Chính những kẻ chia sẻ buồn bực, góp ý cô Tư nên bán nhà trả nợ cho con dâu, là cò mồi.- Từ từ mấy đứa bay. Má mới lên chơi… Anh rể dược sĩ lên tiếng can. Vừa dứt tiếng, hai vợ chồng con gái thứ ba bất chấp, nhắm vào mẹ những câu hỏi lẽ ra

nó phải được lãng quên. Nhờ uy tín của cô Tư, chị dâu mới lên làm giám đốc. Phải. Sáu trăm cây vàng là tiền của công ty mua nhà của cô Tư. Đúng phân nửa. Vìsau đó nhà được phân cho người khác mà cô Tư vẫn tiếp tục ở. Cô Tư có sáu trăm cây vàng mua phố xá cho con, đâu dính dáng chuyện làm ăn của công ty. Má ơi

con sắp lấy chồng, con bán căn nhà có mất mặt không? Cô út chợt xen vô gài một thế kẹt. Chính cô Tư sắp xếp cuộc hôn nhân, nếu vì sự mất mặt lần này để sau lấychồng vẫn không muộn. Cô Tư lạnh lùng với cô út. Nhưng anh con rể thứ, sau khi vợ mình đưa loạt câu hỏi mà cô Tư vẫn làm thinh. Chắc là muốn làm cho đối thủ

phải lên tiếng. Mùi đưa sáu trăm cây vàng, có mấy năm phải trả lại hai nghìn cây, còn hơn cho vay nặng lãi. Quyền làm mẹ từ từ vuột khỏi tầm tay, cô Tư biết vậy,chẳng lẽ cô thất thế. Là những đứa có ăn học. Lương tri các con nằm ở đâu đó. Không có trên cái đầu tính toán nhỏ hẹp. Không có trong tim luôn nhảy phập phồng

thì nó nằm ở bụng đâu đó. Người ta vẫn thường nói lấy bụng ở đời. Cô Tư lật bài ngửa - như vậy con Mùi phải chết, tao chết theo, để cho các em nó sống. Khôngphải vậy má ơi. Cô Hai lên tiếng. Nhưng bác sĩ có vẻ lúng túng lập luận. Chị dâu đã năm mươi ngoài, giả sử giảm án còn chung thân. ở tù mười năm, hai mươi năm tù

ra thì đã già. Không muốn chị mình tử hình, bác sĩ lập tức dừng lại, thành ra cô quyết định số mệnh của chị mình theo kiểu thất thập cổ lai hy. Có lẽ muốn tìm một giảipháp thứ ba nhưng không có lời giải nào vì câu trả lời quen thuộc về mình, lần nữa cô con lớn rơi vô lúng túng. Người chồng hiểu ý vợ, tuy nhiên vẫn giữ được tính

công bằng cho là mạng số vẫn hơn. Anh cắt ngang lời vợ, chẳng còn cách nào phải bán nhà. Cô Tư không lầm khi chọn đứa con rể dễ thương về theo với mình,nhưng nó chỉ là hiệp một.

Cả nhà quên chuyện cơm nước, cô Tư cũng không thấy đói bụng, qua hiệp hai cô no ngồi nghe đám con đấu khẩu. Cô Ba mở đầu gián tiếp, mình đang nuôi đứacon của Mùi cho tới lớn khôn, còn phải lo cháu chuyện học hành. Người chị phụ hoạ theo cũng vậy, phải lo cho con của Mùi. Hai người chị gái nhìn cô em út. Đứa

con út bình thản ngồi nghe, làm cô Ba không chịu được huỵch toẹt, biểu cô út qua ở với mình. Cô gái nhỏ đâu chịu ai tỏ ra khôn hơn mình. Ai đồng ý bán nhà thì bánphần mình. Còn hai căn để giữ công bình, rút thăm. Trăm con suối theo sông ra biển lúc đầy lúc vơi. Đó là nước mắt của mẹ. Cô Tư cảm thấy tủi hổ, vì quyền lợi

không công khai tranh chấp nhưng đã thầm tính sẵn đâu đó, quên cả một người đang hấp hối, chờ đợi được cứu. Hoá ra cô Tư chỉ mới nghĩ, mấy đứa con đã vộivàng cụ thể, chỉ cần bán hai căn phố là đủ, còn dư một căn là cả tài sản. Cô Tư rưng rưng nước mắt giống như người vô hình, mấy lần cô rút khăn lau nước mắt

chẳng động lòng ai.Như vậy tao giao hết cho Nhà nước.

Cô buộc lòng phải đi đến chỗ nói lời cuối cùng. Cô chán chường nói nhỏ nhẹ như để coi mình nghe. Anh con rể dược sĩ bất ngờ đứng lên lớn tiếng - má khôngcó quyền làm vậy. Đây là nhà của vợ chồng con, có giấy tờ hẳn hoi. Anh tự lật con bài tẩy trước mẹ vợ. Hoá ra lúc nãy anh đồng ý chỉ vì không thối thác được, lần

này giao cho Nhà nước, tất cả sẽ mất trắng, chút quyền lợi nhỏ nhen mất theo. Đâu cần tới pháp luật, tới Nhà nước, người trong nhà đã kết án tử hình lẫn nhau, kếtán Mùi.

Rõ ràng, qua người nước mắt có màu xanh, đỏ, tím, vàng. Vàng ròng đánh dấu bốn con số chín để không còn mùi xuôi ngược, xuôi ngược đi về với cõi xa kiađơn côi. Chẳng dễ gì người rót những giọt lệ vàng, chỉ có trong chuyện cổ tích. Như ngờ đâu đó. ở đâu đó cô Mùi ơi.

Gió lỡ thì

Vài năm một lần, ông lại “đi công tác xa”, tức là xuống vùng quê nào đó trong bán kính một trăm ki-lô-mét cách trung tâm Hà Nội để, như ghi trong giấy giớithiệu, “sưu tầm văn hóa, văn học dân gian, xin nhờ các tổ chức và cá nhân liên quan hết lòng giúp đỡ”. Với ông đó là loại công việc dễ chịu, vì tiếng là đi công tác, mà

ông được tự do tuyệt đối, gần như muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm. Tới nay ông đã sưu tầm được khối điều thú vị trong lĩnh vực này, là đồng tác giả của mấy cuốnsách nghiên cứu về tục ngữ ca dao và chuyện cổ tích, thậm chí cả dân ca quan họ, dù ông mù tịt về âm nhạc.

Nhưng lần này thì ông lên đường vì mục đích riêng tư và khác hẳn, tất nhiên khi đề nghị cơ quan cấp giấy công tác thì ông vẫn là cán bộ sưu tầm vốn cổ dân tộc,vì ông không muốn chi tiền và thời gian của riêng mình, là cái vốn chẳng bao giờ có nhiều.

Số là một hôm ngẫu nhiên ông được đồng nghiệp đọc cho nghe bốn câu thơ của một nhà thơ nào đó mà cả ông lẫn đồng nghiệp đều không biết. Bốn câu lục báthiện đại giản dị và cô đọng, tinh tế như ca dao cứ làm ông suy nghĩ mãi mấy ngày liền, và cuối cùng đưa ông đến quyết định ra đi, không phải “sưu tầm” như mọi lần

mà “đi tìm hiểu thực tế”, tìm hiểu cái gì gì và cách nào thì quả lúc ấy ông chưa rõ lắm. Bốn câu thơ ấy thế này:Chị đi kháng chiến trở về

Chị đi kháng chiến trở vềNhà thông thốc ngọn gió quê lỡ thì.

Mưa qua đi, nắng qua đi,Nỗi buồn ở lại thầm thì sớm hôm...

Nghe xong, ông Huấn ngồi lặng người một lúc rồi lên tiếng, không hiểu sao giọng buồn hẳn đi:“Hay! Hay tuyệt! Chỉ có mấy câu mà nói hết, nói sâu sắc cái đau của một lớp người anh hùng bất hạnh. Tớ nghe mà thấy rồn rộn trong người. Không hiểu bây

giờ họ thế nào nhỉ, những con người ấy, những cô gái thanh niên xung phong nhỡ thì ấy?”“ế chồng chứ còn sao nữa! - ông đồng nghiệp nói, giọng cũng xa vời. - Mà họ đâu có một vài người, một vài trăm người. Hàng vạn, hàng chục vạn cơ đấy. Cái

đau không nói nên lời, “chỉ thoáng nghe trong gió” như lời một bài hát của tay Bob Dylan người Mỹ, và bây giờ là “ngọn gió quê” của anh nhà thơ này. “Gió lỡ thì”.Tự dưng chẳng lỗi của ai mà mình như có lỗi. Cậu không thấy thế à?”

“Thấy”.“Thấy mà chẳng làm gì được. Mà họ sống ngay bên ta, những con người cụ thể bằng xương bằng thịt. Nghe nói có cả những đội sản xuất, những làng toàn phụ

nữ lỡ thì, những người một thời từng xinh đẹp, trẻ trung, nhí nhảnh yêu đời. Thế mà...”Ông đồng nghiệp nhắc đến một số địa danh nơi những cô gái thanh niên xung phong nhỡ thì đang sống.

“Thế à?”Ông ngước mắt, hỏi, và chỉ ít phút sau ông quyết định đi đến với họ.

Ông thuộc loại người sởi lởi, chân thành và cả tin. Nếu gọi những người có gia đình ba đời sống ở thủ đô thì ông đúng là dân thủ đô. Lịch sự và tế nhị. Nhưng cólẽ vì chính sự lịch sự và tế nhị ấy mà trong mọi chuyện ông cũng cân nhắc, tính toán ra phết. Li dị vợ đã năm năm nay và dù chưa đến năm mươi, lại đẹp trai, hào hoa,

ông vẫn ngần ngại không đi bước nữa. Bạn bè bảo thế là khôn, vừa được tự do chơi bời, lại chẳng phải gắn bó với một người nào. Chắc điều này cũng nằm trongtính toán của ông. Kinh nghiệm chẳng mấy vui vẻ với bà vợ trước làm ông thấy sợ. Những người phụ nữ ông quan hệ sau này chẳng tìm được cớ gì để trách ông, mặc

dù ước mơ (và đôi khi cả âm mưu) được làm vợ, ở chung với ông trong ngôi nhà mặt tiền phố Hàng Chuối rút cục không thành. Cuối cùng thì họ đành chấp nhận“làm bạn” cho đến khi ông chán họ, rồi sau đó, dẫu ấm ức trong lòng, vẫn tiếp tục yêu con người lẳng lơ đáng yêu ấy. Còn một điều nữa là ông rất dễ xúc động.

Nhiều khi xem phim một mình ở nhà, ông thút thít khóc, và vì không có ai nên ông cứ để nước mắt tự do lăn trên má. Phim Những cô gái ngã ba Đồng Lộc là một thídụ. Ông khóc suốt từ đầu chí cuối mà chẳng chút xấu hổ vì sự mau nước mắt của mình. Tính ông nó vậy. Mấy câu thơ về các cô gái lỡ thì này cũng vậy, chúng đã

làm ông xúc động sâu sắc, chưa đến mức chảy nước mắt nhưng rất xúc động. Với chiếc túi du lịch trên tay, ông ra đi, lòng xốn xang những ý nghĩ bâng quơ caothượng, cứ như ông đang đến giúp họ bằng cách cưới một trong những cô gái tội nghiệp ấy.

Nơi ông đến là một xã miền núi ở tỉnh Hòa Bình. Xã mới được thành lập và toàn dân miền xuôi được bổ sung từ mấy nông trường bên cạnh đã giải thể. Nó vẻnvẹn chỉ ba làng cách nhau không xa, nằm lọt thỏm giữa thung lũng của hai ngọn núi lớn trên đường từ quốc lộ sáu rẽ vào Kim Bôi. Không thấy bóng một chiếc nhà

sàn nào, đàn ông, thậm chí trẻ con cũng rất ít. Chỉ trâu bò là nhiều. Chúng nhởn nhơ gặm cỏ trên các mé đồi hoặc hai bên đường. Mặt trời ngả về tây nhưng đã khuấtsau núi. Nửa quả đồi xa xa được nắng chiếu sáng có màu vàng rực như trong bức sơn mài Chiều Tây Bắc nổi tiếng.

Ông chút ít cụt hứng khi thấy Chủ tịch xã, người bao giờ ông cũng tìm gặp đầu tiên khi tới công tác ở địa phương nào đó, là phụ nữ, hơn thế còn khá trẻ, khoảngba mươi lăm, cùng lắm cũng chỉ bốn mươi tuổi. Chị Chủ tịch (hay cô Chủ tịch? ông thầm hỏi và thấy ngồ ngộ) rót chén nước chè đắng mời ông rồi cúi xuống chăm

chú đọc tờ giấy giới thiệu công tác của khách. Còn ông thì vừa nhấp nước vừa lén nhìn. Chị khá xinh, cái xinh khỏe mạnh, đậm đà của người phụ nữ nông thôn giảndị và sạch sẽ ở cái tuổi ấy. Tóc chị búi ngược, để lộ cái cổ tròn trĩnh với những sợi tóc mềm ươn ướt mồ hôi. Cặp môi dày mọng có vẻ đa tình, nhưng cũng vừa có vẻ

cương quyết, nhất là lúc này, khi chị đang mím chặt, căng thẳng đọc tờ giấy. Giữa cánh mũi bên phải và môi trên có một nốt ruồi kích thước vừa đủ, vị trí vừa đẹp vàmàu sắc vừa độ để bất kỳ một ca sĩ đô thành nào cũng mong muốn có.

“Vậy cụ thể chúng tôi có thể làm gì để giúp... - chị Chủ tịch nhìn khách chọn cách xưng hô, - để giúp anh?”Ông lúng túng không biết nói thế nào. Chẳng nhẽ bảo tôi lên đây tìm hiểu cuộc sống những cô gái thanh niên xung phong lỡ thì?

“Chị biết đấy, - ông ngọ ngoạy mãi trên ghế rồi đáp. - Chúng tôi là một cơ quan nghiên cứu ở Hà Nội. Chả là người ta đang có chương trình nghiên cứu hậu quảchiến tranh, ý tôi nói về mặt xã hội, con người chứ không phải kinh tế, và tôi được cử về địa phương ta đây để... - Ông lại lúng túng. - Chị biết đấy, biết bao con

người ưu tú, nhất là các cô gái của chúng ta, xung phong ra chiến trường, vì độc lập, tự do của đất nước đã hy sinh tuổi trẻ của mình... Vâng, đúng thế, đó là một bikịch, bi kịch ghê gớm của chiến tranh. Họ đã đem hạnh phúc riêng tư của mình trả giá cho sự nghiệp chung...”.

Cuối cùng thì chị Chủ tịch xã cũng hiểu, và ông lấy làm mừng rằng một người vừa phải đánh vần tờ giấy lúc nãy lại thông minh, tinh tế như vậy.Chị nhìn ông bằng cái nhìn buồn buồn pha chút giễu cợt:

“Vậy thì tôi nghĩ họ phải cử người khác đi thay anh mới phải”.“Có lẽ vậy. Nhưng cơ quan tôi ít người, vả lại các bà ấy ngại đi xa”.

Cả buổi chiều hôm ấy ông được chị Chủ tịch xã kể cho nghe những gì ông muốn biết. Có thể trình độ văn hóa không cao, nhưng chị diễn đạt lưu loát, không ítkhi pha chút đùa hóm hỉnh khiến ông khách mỗi lúc một thấy cảm tình. Ông ghi kín đặc ba trang giấy các con số và tên người cùng những điều ông cho là đáng chú ý.

Hóa ra cái xã Kim La này cũng khá đặt biệt và đúng là địa chỉ ông cần tới. Nó trước là một phần của xã Kim Anh kề bên. Cuối những năm tám mươi, cùng một lúccả hai nông trường quốc doanh trên địa bàn giải thể, đất nông trường chia cho công nhân làm nhà và canh tác. Thế là thành xã mới. Đó cũng chuyện thường, điều

đáng nói là công nhân hai nông trường này chủ yếu là nữ, do được bê hầu như nguyên xi mấy đơn vị nữ thanh niên xung phong từ miền Nam ra khi mới giải phóng.Cái việc ế chồng của họ một thời được báo làm ầm ĩ, thậm chí người ta còn tổ chức hội thảo bàn cách giải quyết, nhưng rồi đâu lại vào đó, chẳng thêm cô nào kiếm

được chồng mà nông trường thành ra tai tiếng với cái tên “ế chồng” kèm theo. Địa phương cũng bị vạ lây. Một dạo người ta khôn khéo làm lễ kết nghĩa với các đơnvị bộ đội và xí nghiệp trong vùng, nhưng kết quả chẳng hơn gì, chỉ thêm nhiều đứa con hoang ra đời.

“Sao sau chiến tranh các cô ấy không về quê?” ông hỏi.“Nhiều người về. Nhưng ngay cả lúc ấy họ cũng đã quá lứa. Vả lại được vào biên chế Nhà nước là cám dỗ lớn”.

“Vậy là chịu, chẳng ai làm được gì giúp họ?”“Chuyện này thì giúp sao được! Mà rồi cũng không đến nỗi như anh nghĩ đâu. Cuộc sống vẫn bình thường, năm nào xã chúng tôi cũng đạt danh hiệu xã văn hóa.

Sinh đẻ kế hoạch thì còn phải nói. Một nửa chị em đã yên phận, tức là có chồng chính thức, làm lẽ, hoặc có con ngoài giá thú. ở đây cả hai điều này không bị phêbình mà còn được khuyến khích”.

Ông do dự một chốc rồi hỏi:“Chị cũng từng là thanh niên xung phong?”

“Tất nhiên, 85% hộ gia đình trong xã chúng tôi là thanh niên xung phong, trong đó nữ chiếm 70%. Nhưng đừng ái ngại cho tôi. tôi là người may mắn, đã cóchồng và gia đình hạnh phúc”.

Lúc ấy trời đã tối. Không còn cách nào khác, bà Chủ tịch xã mời khách về nhà mình, và cũng do không biết đi đâu, khách nhận lời.Bữa ăn tối có bốn người, tức là thêm một bà cụ chắc phải hơn tám mươi tuổi nhưng còn minh mẫn, luôn miệng ăn trầu sau khi đã nghiền kỹ trong chiếc cối nhỏ

Bữa ăn tối có bốn người, tức là thêm một bà cụ chắc phải hơn tám mươi tuổi nhưng còn minh mẫn, luôn miệng ăn trầu sau khi đã nghiền kỹ trong chiếc cối nhỏbằng đồng cầm trên tay, và một đứa bé gái khoảng mười tuổi, hai mắt cứ mở to nhìn khách đến mức quên cả ăn. Nó là cháu ở quê dưới xuôi, vất vả lắm mới được

đồng ý cho đưa lên đây “ở cho vui”. Trước đó, dọc đường đi, chị chủ nhà cho biết chồng chị là bộ đội đang ở xa, và họ mới lấy nhau nên chưa có con.ở vùng núi đêm đến sớm, đen hơn, và khác với người ta thường nghĩ, chẳng mát hơn chút nào. Ông xách ghế ra sân ngồi, lơ đãng ngước nhìn bầu trời sao dày đặc

như mạng nhện lúc ban mai của một ngày sương mù. Lòng ông lại gợn lên nỗi bâng khuâng vu vơ, sự xúc động nhẹ nhàng và cả thoáng buồn không tên như khi mớinghe bốn câu thơ kia. Chị đi kháng chiến trở về/ Nhà thông thốc ngọn gió quê lỡ thì/ Mưa ra đi, nắng ra đi/ Nỗi buồn ở lại thầm thì sớm hôm... Căn nhà chị Chủ tịch

khá kiên cố, mái bằng tường gạch với hàng hiên một nửa nhô ra rộng, rất đặc trưng cho vùng chiêm trũng Hà Bắc. Không có ngọn gió quê, lỡ thì lại càng không vì chịđã có chồng. Cái buồn thì có, nhưng đó là cái buồn bình thường của nơi hoang vắng, của sự nghèo đói chứ không thi vị như trong thơ. Không hiểu sao bỗng dưng

ông cũng thấy buồn buồn, mặc dù chuyến đi của ông thành công hơn dự định. Ông đã biết những điều ông quan tâm, đã gặp “người thật việc thật”, mai chỉ còn đi tớihai làng còn lại, vào một vài nhà, nói chuyện với dăm người nữa là coi như kết thúc. Sau thì sao? Chẳng sao cả, cơn xúc động bột phát sẽ qua đi, những ý tưởng lãng

mạn sẽ qua đi, thậm chí cả mấy câu thơ tuyệt diệu kia cũng dần dần bị lãng quên. Nghĩa là tất cả sẽ qua đi như “mưa qua đi, nắng qua đi”, và với ông, thay cho nỗibuồn là công việc và cuộc sống hàng ngày ở lại, gấp gáp mà đơn điệu, ồn ĩ mà buồn chán.

Ông ngủ ngay trên chiếc ghế dài bằng gỗ trải đệm mút ở phòng khách, nhất định không chịu để chị chủ nhà nhường phòng mình cho ông. Bà cụ và con bé ngủ ởphòng trong, gần như ngay sau bữa ăn tối. Tưởng đi cả ngày mệt sẽ ngủ ngay, thế mà ông vẫn trằn trọc mãi. Có thể tại đêm yên tĩnh quá. Rồi ông cũng thiếp đi, láng

máng nghe thấy tiếng chị chủ nhà trở mình ở phòng bên. Ông mơ thấy cả một rừng các cô gái cởi bỏ áo lính chạy ào xuống suối tắm. Các cô tắm lặng lẽ, không ténước đùa nghịch mà ôm mặt khóc, cũng lặng lẽ. Rồi đột nhiên cả rừng cô gái ấy tồng ngồng chạy vào rừng, vừa chạy vừa cười sằng sặc và làm những động tác kỳ

quặc của người điên. Họ chạy cả vào căn nhà nhỏ của ông ở Hà Nội, túm quanh ông như van xin điều gì. Họ khóc. Ông cũng khóc.Ba giờ chiều hôm sau, khi chia tay xong xuôi với mọi người, Ông được một cậu thanh niên (do chị Chủ tịch xã yêu cầu) chở lên phố huyện để bắt xe về Hà Nội.

Anh này vui tính và bạo mồm bạo miệng, mặc chiếc áo thổ cẩm có khuy ngang bằng vải như của người Tày, nhưng chắc là người miền xuôi, có thể quê Sơn Tây - BaVì, nếu căn cứ vào giọng nói.

“Cảm ơn ông bác đã đến xã em. - Anh ta cười toe toét. - Chuyến này thì chắc xã em tăng nhân khẩu”.“Cậu nói gì tớ không hiểu”, ông Huấn hỏi lại.

“Thì đêm qua ông bác chẳng ngủ ở nhà bà Chủ tịch đấy sao?”“Cái cậu này láo! Người ta có chồng rồi, nhảm nhí!”

“Ai bảo ông bác thế?”“Bà ấy chứ còn ai! Chồng người ta đi bộ đội xa, thế mà cậu lại láo lếu nói bậy”.

“Thế thì thật tiếc cho ông bác. - Anh kia cười, rồi đột nhiên im lặng, giọng trầm hẳn xuống. – Tiếc cho cả bà Chủ tịch nữa. Bà ấy là người tuyệt vời đấy, vì tìmmãi không thấy người thích hợp nên mới ở vậy. Bà ấy kiêu lắm. Nhưng gặp được ông bác thì chắc là “đổ” rồi. Chí ít cũng muốn xin một đứa con Hà Nội”.

Ông lại mắng anh ta, rồi từ đó cho hết quãng đường còn lại ông cứ nghĩ quẩn quanh về cái tin mới được nghe, trong khi anh kia vẫn không ngớt lời ca ngợi bàChủ tịch xã mình.

*Chưa đầy một tháng sau ông lại lên Kim La, vì việc riêng chứ chẳng liên quan gì đến “công trình nghiên cứu xã hội” mới rồi, và tất nhiên ông không vào trụ sở ủy

ban xã mà vào thẳng nhà chị Chủ tịch, tuy không phải không chút do dự, lúng túng.Suốt cả tháng trước đó ông ở trong tâm trạng kỳ cục, có thể nói lần đầu tiên trong đời ông gặp. Ông luôn nghĩ tới người đàn bà trẻ hẩm hiu, bình dị và hấp dẫn

này, một sự hấp dẫn ông không lý giải nổi. Nhiều khi ông tự hỏi phải chăng mình đang yêu, ở lứa tuổi gần năm mươi? Lại ông, một người thừa từng trải và khôngmuốn gánh thêm gánh nặng gia đình, đơn giản vì ích kỷ? Không, ông lắc đầu. Nhưng nếu vậy thì là cái gì? Ông cũng lắc đầu không trả lời nổi. Nhưng rõ ràng đang có

cái gì đó mới lạ xuất hiện trong ông, và ông lấy làm sợ do không biết thế là tốt hay xấu. Sao không thể yêu và lấy cô ấy làm vợ nhỉ? - đôi lúc ông nghĩ. Cô ấy còn trẻ,dễ nhìn, thông minh và tế nhị, lại là một cựu thanh niên xung phong ai cũng ái ngại muốn giúp mà bất lực. Mình có bất lực thật không? Cô ấy thuộc loại người mới lạ,

là cái chẳng phải mình luôn khao khát đó sao? Nhưng rồi ngay lúc ấy chính ông lại hoảng sợ cái mới lạ ấy khi ông hình dung cô về sống ở Hà Nội, tại nhà ông ở phốHàng Chuối. Ông có thể giúp giảm bớt một ca bị ế vì chiến tranh, là điều đáng ca ngợi và thực sự ông muốn làm. Nhưng bạn bè ông sẽ nghĩ thế nào, cô ấy sẽ sống

thế nào trong môi trường thành phố, trong giới cán bộ trí thức của ông, khi bản thân cô hình như phải đánh vần mỗi lần đọc cái gì đó? Hay đơn giản coi như mộtdạng bồ bịch, nếu cô ấy chấp nhận, và nếu muốn nữa thì cho một đứa con? Không, không được. Đây là trường hợp khác hẳn, cô ấy là người khác hẳn, nên không

làm thế được. Vậy thì phải làm gì?Đầu óc ông cứ quẩn quanh mãi những ý nghĩ mâu thuẫn như vậy, trong khi trái tim dường như mỗi ngày một một xích lại gần hơn với chị. Và rồi cuối cùng ông

quyết định quay lại tìm chị, dù không rõ mình thực sự muốn gì.Không rõ lần ấy họ gặp nhau như thế nào, nói với nhau những gì, nhưng sau đó, trong vòng nửa năm ông còn lên Kim La bốn lần nữa, và bây giờ thì chính chị

Chủ tịch đang chuẩn bị về Hà Nội, để gặp ông, tất nhiên, có kết hợp tí việc, nhưng chủ yếu vẫn để gặp ông, vì chị đã hứa nhiều lần.Cả tuần nay chị chuẩn bị cho chuyến đi này. Dẫu chẳng lần đầu tới thành phố, nhưng rõ ràng đây là chuyến đi đặc biệt, và chị rất lo lắng. Chị chỉ ghé thăm ông

một chốc, “cho biết nhà” rồi về, thế thôi. Xưa nay chị luôn kính trọng, gần như ngưỡng mộ những người đàn ông thành phố lịch sự, có học và sang trọng. Bây giờmột người như thế đến với chị, người ấy đã li dị, sống một mình và, điều này mới quan trọng nhất, tôn trọng và theo như chị cảm nhận, cũng thương yêu chị. Không

nói ra lời nhưng “anh ấy” đã tỏ ra thế, và trái tim trong trắng ba mươi lăm tuổi của chị nhận ra điều đó. Nó đập rộn mỗi lần nghĩ tới “anh ấy”. Chị đang sống tronghạnh phúc pha chút lo sợ mơ hồ khi hình dung thấy mình có chồng, có con, lại được sống ở thủ đô. Đứa con của chị thật đẹp, con trai, không hiểu sao chị nghĩ nhất

định sẽ là con trai. Nó giống “anh ấy” như đúc, dù chị cũng có nhiều nét đẹp nhưng chị sẵn sàng để nó giống anh. Còn chị sẽ lặng lẽ chăm sóc anh, từng ly từng tí mộtcách trung thành mà không đòi hỏi chút gì cho mình. Có điều, nếu mỗi lần đi làm về anh hôn vào má chị như trong phim, thì chị sẽ rất xấu hổ, thích nhưng vẫn xấu hổ.

Nhiều đêm chị không ngủ vì ngây ngất tình yêu, thứ tình yêu muộn mằn mà bồng bột. Chị đã khóc vì sung sướng, tay vuốt vuốt bụng như nâng niu đứa con tương lai.Vậy là chị sẽ có con như nhiều người khác, không phải “con xin”, mà con hợp pháp, con có bố làm ở Hà Nội.

Sau rất nhiều cân nhắc, chị quyết định mua tặng “anh ấy” ba mét vải thổ cẩm đặc sản của vùng chị, và sẽ tự tay khâu cho anh một chiếc bao đựng kính cũng bằngthứ vải ấy. Vải không mua ở chợ Lùng vì thế sẽ thành thứ vải bình thường. Thay vào đó, chỉ bỏ công vào tận bản Dóc cách hơn hai mươi cấy số, lùng sục từng nhà

tìm bằng được thứ chị vừa ý, lại còn bắt sửa chỗ này, cắt chỗ kia, và lần đầu tiên chị mua bán mà không hề mặc cả. Cầm tấm vải mịn, mát lạnh trên tay (nhưng màukhá sặc sỡ) chị sung sướng hình dung “anh ấy” sẽ cắt nó thành áo mặc như thế nào, không biết rằng đàn ông Hà Nội tuổi anh chỉ thích mặc com-lê và áo sơ mi cô-

tông nhã màu. Còn chiếc bao đựng kính thì không vất vả lắm vì chị vốn giỏi may vá thêu thùa do học được những năm ở Trường Sơn. Mỗi bên chị thêu một bônghoa, hoa cúc, với những chiếc lá bé tí màu xanh, còn hoa thì bông vàng bông trắng. Các đường thêu tỉ mẩn và rất đẹp, có thể bố cục không hợp lắm, nhưng thế cũng

khá lắm rồi nếu so với đôi chim bồ câu lồng cánh và hai chữ cái uốn éo lồng nhau của thời trước. Đêm ngủ, chị đặt tấm vải và bao kính lên ngực, rồi mỉm cười mộtmình trong bóng tối.

*Ông ra tận bến xe đón chị. Chị ngồi sau xe máy, chiếc nón bài thơ mới tinh quang dầu bóng loáng có hình chìm những bông hoa to và đôi chim bồ câu đang bay

Ông ra tận bến xe đón chị. Chị ngồi sau xe máy, chiếc nón bài thơ mới tinh quang dầu bóng loáng có hình chìm những bông hoa to và đôi chim bồ câu đang bayquanh trái tim hình con cơ lộn ngược, làm chị và ông hơi vướng. Một bên chị xách chiếc lồng tre đựng hai con gà, bên kia, đeo kè kè sát hông là chiếc túi đầm giả da

thường thấy bán ở phố huyện. Tất cả đều mới, thậm chí cả lồng gà. Cả chiếc quần bò và chiếc áo thun lên cũng mới, dù thường ngày chị thích mặc những thứ giản dịbằng vải mềm. Không hiểu sao chị thấy sờ sợ, hai má đỏ ửng, nhất là khi đi qua chỗ đông người một con gà bỗng gáy to. Là người lịch sự, ông Huấn lờ đi như không

nghe. Ông cố tình đèo chị qua mấy phố có những tòa nhà cao, qua hồ Hoàn Kiếm, Nhà Hát Lớn rồi mới về nhà mình. Ông muốn mà không dám giới thiệu các điểmnổi tiếng của thủ đô vì sợ chị có cảm giác mình là dân nhà quê. Đến phố Lò Đúc, một vài người bạn đang uống bia nhìn thấy họ, kêu to gọi ông nhưng ông không

nhìn, không đáp.Một buổi chiều trôi qua dễ chịu. Chị xuống bếp làm gà, chuẩn bị bữa ăn, thầm sung sướng được dọn dẹp căn bếp dẫu hiện đại, sạch sẽ nhưng vẫn bừa bộn theo

cách của một người đàn ông sống độc thân. Còn ông thì xăng xái bên cạnh xin được giúp đỡ, nhưng chị chỉ cười, nói không cần, nên cuối cùng ra ngồi hút thuốc trênchiếc sa lông bọc da êm ái ở phòng khách, với sự hài lòng của một ông chủ gia đình đang được hưởng sự chăm sóc cảm động của người vợ, hay cũng gần như thế.

Cảm giác này làm ông xúc động, và ông nghĩ sẽ không tồi nếu có được người vợ như chị. Lúc này thì tình cảm chân thành và sự hào hiệp đang lấn át những lo lắng vàtính toán thực dụng của cuộc sống đời thường.

Ông mở một chai rượu ngoại màu đỏ sẫm, rót ra hai chiếc cốc pha lê tay cầm rất dài và mảnh:“Uống đi em. Nhẹ thôi mà. Để kỷ niệm ngày hôm nay. Nào, vì hạnh phúc của em, của anh! Của chúng ta!”

Như ông, chị uống một hơi hết cốc rượu hạnh phúc ấy. Sau đấy chị còn uống thêm mấy cốc nữa. Mặt chị, thậm chí cả chiếc cổ dài tròn trĩnh, bắt đầu đỏ ửng, vìrượu và cả vì hạnh phúc. Hơi chút ngượng ngập, họ trao đổi những lời âu yếm, những câu hỏi đáp bâng quơ không ăn nhập, chủ yếu làm phần đệm, làm nền cho

những cái nhìn kéo dài cũng âu yếm không kém. Chị cảm thấy như có dòng điện nhẹ chạy khắp người khi lần đầu ông cầm tay mình. Bản năng mách chị muốn rút lạinhưng chị không làm nổi. Chị cũng bất lực khi ông khẽ chạm môi mình vào môi chị rồi kéo nhẹ về phía chiếc giường. Cơ thể khỏe mạnh, trinh trắng của chị run run

khi tay ông lóng ngóng lần cởi từng chiếc cúc áo của chị...“Cái gì thế anh?” Chị giật mình, khẽ hỏi khi ông lấy từ dưới gối chiếc bao cao su màu đỏ.

“Safe sex!”“Tức là cái gì?”

“Là OK! Tình dục an toàn, em ạ”.“ồ không! Đừng anh! Em không thích cái ấy! Đừng! Đừng dùng nó!”

Chị kêu lên rồi ôm mặt khóc. Ông do dự một lúc rồi vứt chiếc bao xuống sàn nhà. Ông nằm ngửa, cũng trần truồng như chị, mắt nhìn trân trân lên trần. Vào phútchót, ông lại bị những toan tính thực tế và nỗi lo sợ mơ hồ chi phối. Chị nằm bên, quay mặt vào tường, và vẫn khóc.

“Anh yêu em... Anh xin lỗi...”, ông nói, tay âu yếm vuốt ve cơ thể bất động của chị.Chị nằng nặc đòi ra về. Không giữ được, ông lại đèo chị ra bến xe. Chiếc nón bài thơ vẫn vương vướng vào lưng ông như trước. “Anh xin lỗi!” ông lại nói, nhưng

chị không nghe thấy, vì tiếng ồn đường phố, và cả vì chị đang nghĩ về đứa con trai đáng lẽ chị đã có nhưng giờ thì có lẽ sẽ không bao giờ có nữa. Một bên hông chịvẫn là chiếc túi đầm phố huyện mới mua, trong vẫn đựng ba mét vải thổ cẩm và chiếc vỏ kính chưa tặng.

Ngay sáng hôm sau, với vẻ mặt phờ phạc của người mất ngủ và lo nghĩ nhiều, ông lại lên Kim La. Chị Chủ tịch không có nhà. Ông chờ suốt cả buổi chiều, mãiđến tối mịt vẫn không thấy chị về. Con bé ê a học bài trong nhà. Còn bà lão mẹ chị thì ngồi bất động nhìn không chớp cái gì đấy ngoài vườn. Mãi đến bây giờ ông

mới phát hiện thấy bà bị mù.Chị đi kháng chiến trở về,

Nhà thông thốc ngọn gió quê lỡ thì.Mưa qua đi, nắng qua đi,

Nỗi buồn ở lại thầm thì sớm hôm...Bốn câu thơ kia lại lởn vởn trong đầu ông. Chúng thật buồn. Ngôi nhà ông đang ngồi đây cũng thật buồn. Không thông thốc, nhưng hiện đang có gió, ngọn gió

lạnh đầu đông ở vùng núi, và nó cũng đượm buồn. Có thể chị không biết những câu thơ này, nhưng chắc không ít lần phải chịu cái buồn được nói một cách tinh tế ấytrong thơ. Không chỉ mưa nắng, mà một người đàn ông đến với chị, rồi người đó cũng ra đi, làm nỗi buồn càng buồn hơn. Ông thấy thương chị, thương cho cả chính

mình. Không, ông sẽ ở lại. Ông rút thuốc hút, quyết tâm chờ tiếp, chờ hết đêm nay, cả ngày mai, ngày kia, cho đến lúc chị về. Ông biết chị đang ở đâu đó rất gần vàđang theo dõi cái quyết tâm ấy của ông.

(Báo Văn nghệ)

Ngọn gió sân chùa

Từ khi chuyển đổi cơ chế, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân khá hơn. Cứ nghĩ lại cái thời bao cấp sau chiến tranh ai cũng vẫn còn thấy sởn gai ốc. Ngày ấy,có được miếng thịt là may. Cầm tem phiếu đi mua thịt, chỉ mong cô bán hàng thực phẩm cắt cho miếng có tý mỡ để còn rán sào được cả tuần, cả tháng.

Bây giờ thì khác. Ai cũng ngán ăn nhiều thịt sợ coletron, máu nhiễm mỡ, khó tiêu hoá. Ngày xưa còn có cả loại “phở không người lái” (không thịt). Cònbây giờ thì nhan nhản những nhà hàng đặc sản. Quỹ phúc lợi cũng tăng lên. Vì vậy, năm nào cơ quan tôi cũng tổ chức cho công nhân viên chức đi du lịch thăm quan

danh lam thắng cảnh. Thôi thì Chùa Hương, Tam Cốc, Bích Động, Hạ Long, Yên Tử đủ cả. - Năm nay cơ quan ta sẽ đi thăm Huế! - Ông cán bộ công đoàn tuyên bố: - Thế nhưng phải tổ chức bình xét cẩn thật. Ưu tiên các cá nhân là chiến sĩ thi

đua, bằng khen, giấy khen trước đã... - Tôi đề nghị thế này! - Thắng Hùng nêu ý kiến: - Chúng tôi chẳng là cá nhân tiên tiến, xuất sắc, chiến sĩ thi đua gì cả nhưng xin cơ quan cứ cho đi. Chúng

tôi xin nộp một trăm phần trăm chi phí, cho cả vợ con đi luôn. - Đồ hợm của, cậy tiền... - Thằng Quang ghé tai tôi nói nhỏ: - Nó cậy có tay nghề cao, chân ngoài dài hơn chân trong, kiếm tiền như nước đấy anh ạ!

- Thây kệ nó kẻo mất đoàn kết. - Tôi bảo.Thằng Quang im lặng nhưng vẫn hậm hực.

Thế là chuyến đi Huế được tổ chức. Chúng tôi sẽ vừa đi, vừa tham quan dọc đường vào, cũng như lúc quay ra. Khi đến Ninh Bình, thằng Hùng chợtbảo:

- ở đây có một ngôi chùa đẹp và linh thiêng lắm nhé, ta vào thắp hương cầu cho thượng lộ bình an... Cũng đã tới lúc nghỉ ăn trưa nên ông trưởng đoàn đồng ý dừng lại. Chúng tôi theo Hùng vào một khu cây cối um tùm, thấp thoáng những mái cong của

am tự.

am tự. - Mô Phật! Thí chủ vào nơi cửa thiền xin chớ nói to.

Một vị sư nữ ra đón và nhắc vì thằng Hùng cứ oang oang khi đã vào tới sân chùa. Tôi nhìn nhà sư và giật mình những nét quen quen trên khuôn mặt. Nhàsư quay đi và dẫn đoàn vào chùa chính. Tôi len lên phía trước cố đến gần để nhìn kỹ nhà sư. Nhưng trong chùa ánh nến mờ ảo, khói nhang nghi ngút, nhà sư lại trùm

khăn, chỉ hở khuôn mặt thật khó nhận ra là có phải người quen không. Cắm nén nhang trước Phật đài, tôi cũng chắp tay thầm khấn cho vạn sự như ý. Khi cả đoàn kéo đi tham quan hang động, tôi nấn ná chờ. Lúc nhà sư

bước ra tiễn khách, dưới ánh sáng tự nhiên, tôi bật lên thảng thốt: “Đúng là Thảo rồi!”. - Thảo! Có phải là Thảo không?

- Mô Phật... Tiếng niệm Phật như một tiếng thở dài của gió tan biến vào không gian tĩnh mịch của cõi thiền.

Lưỡng lự vài giây, nhà sư quay lại mặt hơi cúi xuống khẽ nói: - Anh Trung!

- Sao Thảo lại ở đây? - Tôi hấp tấp, muốn biết ngay mọi việc: - Lâm vẫn đi tìm thảo đấy. - Bây giờ Thảo đã là người của nhà chùa rồi.

- Vì sao lại như vậy! Lâm đã mấy lần về Thái Bình tìm Thảo, lặn lội cả lên đơn vị cũ ở tận Tây Nguyên nữa đấy. Nén một tiếng thở dài nhè nhẹ, Thảo bảo:

- Tìm làm chi, chuyện cũ bây giờ còn gì đâu. - Nhưng... nhưng... - Tôi cố giãi bày khi nét mặt và đôi mắt của Thảo như đã trở về với cõi hư không của một thế giới tâm linh: - Nhưng Lâm vẫn đi tìm

và đợi Thảo đấy ! - Mô Phật! Nhờ anh Trung nhắn với anh Lâm là Thảo bây giờ không còn là... Thảo của ngày trước nữa. Lâm đừng tìm, đừng chờ đợi vô ích, hãy quên

Thảo đi mà lo chuyện của riêng mình. Nói xong, Thảo lui vào sau những pho tượng phật đang trầm tư trên bệ. Tôi định đi theo để hỏi cho rõ mọi chuyện thì mọi người gọi ra xe vì cả đoàn

đang chờ. Bất ngờ gặp Thảo nên tôi đột ngột quyết định bỏ dở chuyến đi quay về Hà Nội tìm Lâm. Lúc leo lên chiếc xe khách để quay lại, tôi còn nghe tiếng thằng

Hùng léo nhéo: - Hâm... hâm... mấy ông cựu binh là hâm bỏ mẹ.

*

Về đến cơ quan, tôi vứt vội đồ đạc vào phòng rồi vớ xe phóng đi tìm Lâm. Leo lên tận tầng năm mệt bở hơi tai mà phòng cậu ta lại khoá ngoài im ỉm. Tôi

đến chỗ Lâm làm việc, gặp bác thường trực thì biết cậu ta đang cùng đoàn khảo sát thực tế để thiết kế cây cầu ở Phú Thọ, ngày mai mới về Hà Nội. Đành quay về. Đêm ấy, tôi trằn trọc mãi không sao ngủ được, mong cho trời mau sáng và Lâm trở về nhanh để đi tìm Thảo. Tôi nghĩ đến cảnh họ gặp lại

nhau mà thấy lo lo. Không hiểu họ sẽ ra sao khi bây giờ Thảo và Lâm đã ở hai thế giới khác nhau. Bất giác tôi nhớ lại cái đêm trăng non mờ ảo ấy khi chiếc xe củachúng tôi vượt qua ngầm Ma Trơi gập ghềnh, nước xiết.

Không hiểu từ bao giờ cánh lái xe vận tải quân sự vượt Trường Sơn ngày ấy lại gọi đó là cái ngầm “Ma Trơi”. Lần đầu tiên chạy tuyến đường này, tôi ghìchặt vô lăng và bảo Lâm:

- Này! Cẩn thận, sắp đến ngầm Ma Trơi rồi đấy. - Sao lại gọi là ngầm Ma Trơi hả ảnh?

- Chả biết! Chắc là có ma... - úi trời! - Lâm khẽ kêu và ngồi thu lại. Cậu ta còn rất trẻ, vừa học mấy tháng lái xe là vào Trường Sơn ngay. Làm phụ lái cho tôi, Lâm rất chịu khó, chỉ

phải cái hơi dát. Có hôm xe bị sa lầy cạnh bãi tha ma giữa cánh đồng, tôi bảo cậu ta chạy vào xóm nhờ dân quân ra giúp. Lâm sợ không dám đi. Bảo cậu ta coi xeđể tôi đi thì cậu ta càng hoảng vì một mình ở cạnh bãi tha ma. Bực quá, tôi phải quát lên cậu ta mới dám ù chạy vào xóm tìm người.

Đến ngầm Ma Trơi, tôi cho xe chạy chậm lại. Dưới ánh tăng non mờ ảo, tôi nhận ra những cô gái thanh niên xung phong mặc áo lót trắng đứng thànhhàng làm cọc tiêu sống cho xe qua ngầm.

Gần vượt qua ngầm thì bị bom. Lâm nhoài người ra cửa xe rồi kêu lên:- Anh Trung ơi dừng lại đi! Có một cô thanh niên xung phong bị nước cuốn trôi rồi!

Tôi quát: - Không dừng lại được! Xe đạn trúng bom nổ chết hết bây giờ, cậu nhảy xuống cứu cô ấy, nhanh lên.

- Vâng! - Lâm đáp rồi mở cửa xe lao xuống dòng nước. Tôi cho xe vượt lên tạt vào vị trí an toàn. Kiểm tra xe, ngụy trang cẩn thận rồi tôi chạy quay lại. Đến lưng dốc thì gặp Lâm đang chạy lên. Tôi hỏi:

- Cô ấy thế nào rồi? - Cô...cô...cô...

- Cô cô cái gì ? - Tôi quát: - Làm gì mà lập bà lập bập run như cầy sấy thế hả?- Cô... cô... - Lâm vẫn chưa trấn tĩnh lại được.

Tôi cáu: - Cô ấy chết rồi à?

- Không ạ! Chỉ bị thương thôi anh ạ! - Đồ hèn! Mới thế mà đã khiếp sợ rồi hả?

- Không phải thế mà... mà là vì... cô bị ...trôi hết cả quần áo...Tôi phá lên cười:

- Có thế mà đã sợ! Tưởng là ma hay đười ươi chứ gì? Lâm vẫn chưa hết run. Cậu ta lập bập kể:

- Em nhìn thấy cô ấy bị bắn tung lên rồi bị nước cuốn đi. Biết cô ấy bị bom. Em nhảy xuống lao theo. Lúc ôm được cô ấy, em mới biết là cô ấy chẳngmặc gì trên người cả. Em sợ quá nhưng thấy cô ấy còn thở nên...

- Thế bị thương có nặng không? - Chỉ bị sức ép nhẹ, choáng chút thôi. Khi em đưa được cô ấy lên bờ, chị em thanh niên xung phong ào đến đưa đi cấp cứu rồi.

- Chỉ bị sức ép nhẹ, choáng chút thôi. Khi em đưa được cô ấy lên bờ, chị em thanh niên xung phong ào đến đưa đi cấp cứu rồi. - Thế là ổn rồi! Thôi ta đi tiếp. Tưởng cậu sợ vì bom thì tớ tống cổ về phía sau ngay, còn sợ ma thì được.

Lâm làu bàu: - Chỉ tại bà em đấy, hồi em bé cứ hay kể chuyện ma biến thành con gái đẹp lừa người nên mới sợ.

Lúc đã ngồi yên trong ca bin rồi Lâm lại hỏi: - Sao cô ấy lại không mặc gì nhỉ?

- Thì...có khi cô ấy đang tắm thì thấy xe qua nên lao ra làm “cọc tiêu” hoặc quần áo bị nước cuốn trôi... Mà lần đầu tiên nhìn thấy con gái khoả thân hả? Lâm gật đầu.

*

Sau cái lần bế nàng E-va từ suối lên ấy, Lâm đỡ nhát hơn, lại hay tủm tỉm cưới một mình. Một lần dừng lại nghỉ ở gần ngầm Ma Trơi, chúng tôi đang nấu cơm thìcó một cô gái xách mấy ngọn măng rừng đến. Lâm ấp úng giới thiệu:

- Đây là Thảo... cô gái bị bom ở ngầm Ma Trơi...- A! Ghê thật... đã quen nhau rồi cơ à?

Cô gái bẽn lẽn. Tôi trêu:- Hay là hôm ấy giả vờ thế để được người ta cứu đấy!

Thảo đỏ bừng mặt, liếc nhanh về phía Lâm. Cô gái dáng mảnh mai, khuôn mặt trái xoan xinh đẹp. Lâm và Thảo thật đẹp đôi. Từ ấy mỗi lần qua khu vực đơn vịthanh niên xung phong của Thảo, tôi đều viện lý do dừng lại để hai người có dịp gặp nhau. Tình yêu đến với họ trong sáng và vô tư quá. Chắc là hai người đã hò hẹn

với nhau nhiều chuyện của ngày mai.Chiến tranh vẫn diễn ra tàn khốc. Máy bay B52 của Mỹ rải thảm triệt hạ những cánh rừng già dọc tuyến được ra trận. Một đêm sau khi trả hàng xong, chúng tôi

quay ra thì cả khu vực ngầm Ma Trơi chỉ còn là một bãi đất đá lẫn cây cối hoang tàn. ánh lửa còn cháy trên những thân cây lập loè như những bóng ma. Lâm hốthoảng sục sạo khắp mọi chỗ nơi đơn vị thanh niên xung phong trú quân để tìm kiếm. Tịnh không có một bóng người. Chỉ có những hố bom sâu hút vào lòng đất. Một

cái áo lót con gái vương trên cành cây máu vẫn chưa khô. Tôi bảo Lâm:- Tìm nữa cững vô ích. Ta cứ đi tiếp, biết đâu họ đã lùi về phía sau rồi.

Lâm thẫn thờ bước lên xe. Vừa chạy được một đoạn thì có tiếng người quát:- Dừng lại! Có bom nổ chậm đấy!

Tôi nhảy xuống hỏi:- Ai đấy ?

Vẫn tiếng người lúc nãy:- Chúng tôi là lính đơn vị công binh...

- Thế đơn vị nữ thanh niên xung phong ở đây đâu rồi?- Hình như họ hy sinh hết trong trận bom lúc chiều rồi. Đơn vị chúng tôi được điều đến để thông đường.

- Hy sinh hết rồi à? - Tiếng Lâm thảng thốt:- Có mấy người bị thương nặng đã được chuyển về phía sau cứu chữa rồi.

- Nhưng đường còn đi được không? - Tôi hỏi.- Vẫn đi được nhưng chưa tìm hết bom nổ chậm!

- Thế thì cứ cho chúng tôi qua.- Cẩn thận đấy! Đến đoạn cua trước mặt phải bám vào phía núi kẻo lăn xuống vực!

Tôi và Lâm thay nhau lái xe quay về phía hậu cứ. Gặp xe nào đi vào cũng hỏi thăm. Nhưng chẳng ai biết về số phận những cô gái thanh niên xung phong ở ngầmMa Trơi cả. Những chuyến tiếp theo, mỗi lần qua khu vực ngầm Ma Trơi, chúng tôi đều dừng lại tìm kiếm, dò hỏi nhưng cũng chẳng ai biết gì hơn. Khi bọn Mỹ rút

đi, ngầm Ma Trơi được gia cố, bắc cầu phao cho xe pháo ra trận chuẩn bị tổng tiến công, không còn những hàng “cọc tiêu sống” nữa.Chiến tranh kết thúc, tôi và Lâm đều chuyển ngành. Lâm vào học tiếp đại học giao thông vận tải tốt nghiệp thành kỹ sư thiết kế cầu đường. Cậu ta vẫn không

ngừng tìm kiếm, nhiều lần tìm về quê Thảo nghe ngóng tin tức. Gặp nhau lần nào, Lâm cũng bảo:- Em vẫn tin là Thảo không thể chết. Cô ấy có địa chỉ của em nhất định cô ấy sẽ tìm em.

Tôi an ủi Lâm vài câu chứ cũng không tin lắm.Lâm là một kỹ sư giỏi, được đề bạt làm trưởng phòng. Nhiều cô gái sắc nước, hương trời tìm đến nhưng cậu ta cứ dửng dưng. Có một cô sinh viên thực tập do

cậu ta giúp làm luận án tốt nghiệp rất thuỳ mị, luôn quan tâm chăm sóc, thầm yêu nhưng Lâm chỉ coi như bạn, thậm chí là em gái khiến cô ta giận lắm. Vợ tôi cũng giởtrò bà mối, hết đám này đến đám khác nhưng Lâm chỉ ậm ừ cho qua chuyện...

*

Mãi xế chiều hôm sau, Lâm mới về đến Hà Nội. Nghe bác thường trực cơ quan nhắn, Lâm bổ đến tìm tôi. Nghe tôi thuật lại việc bất ngờ gặp Thảo, Lâm há hốc

mồm vừa mừng, vừa lo. Tôi bảo:- Sáng mai mình sẽ đưa cậu vào gặp cô ấy!

- Sao lại sáng mai! Đi ngay bây giờ anh ạ.- Trời tối đến nơi rồi, mà mãi tận Ninh Bình cơ mà!

- Tối cũng đi! Ngày xưa anh em mình lái xe vượt Trường Sơn toàn đi ban đêm đấy thôi, hay anh sợ?Nói đoạn, Lâm dắt chiếc xe máy cọc cạch ra cổng. Thì đi. Tôi cũng nổ máy. Ra khỏi Hà Nội thì trời mưa tầm tã. Lâm tạt vào một quán ven đường mua hai cái

áo ni lông mỏng tang đưa cho tôi một chiếc. Trời sụp tối. Lạc đường loanh quanh mãi, gần chín giờ đêm chúng tôi mới tìm được ngôi chùa định đến.Đêm vùng quê cô tịch, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả. Tạnh mưa, đom đóm bay ra lập loè. Tiếng mõ niệm kinh đều đều như tiền định khắc vào không gian.

Nghe tiếng đập cổng, chú tiểu ra mở cửa rồi dẫn chúng tôi vào gặp sư cụ. Sau khi nghe chúng tôi trình bày mọi chuyện, sư cụ chắp tay:- Mô Phật! Các thí chủ đến chậm mất rồi!

- Sao thế ạ?Sư cụ không trả lời. Người với tay mở cái hộp lấy ra một phong thư đưa cho chúng tôi. Lâm lập cập mãi mới mở được và ghé vào ngọn nến đọc. Càng đọc, nét

mặt cậu ta càng tái đi vẻ thất vọng... Lâm đưa bức thư cho tôi.Thảo viết: “Anh Lâm! Thảo biết thế nào rồi anh và anh Trung sẽ đến tìm nên để lại bức thư này trước lúc ra đi. Xin anh Lâm tha thứ cho Thảo bởi những

Thảo viết: “Anh Lâm! Thảo biết thế nào rồi anh và anh Trung sẽ đến tìm nên để lại bức thư này trước lúc ra đi. Xin anh Lâm tha thứ cho Thảo bởi nhữnglời ước hẹn khi xưa. Thảo cũng đã đi tìm và biết anh Lâm đã học hành thành đạt, lại có nhiều người con gái khác mong muốn thành thân. Vậy là Thảo

mừng. Thảo bây giờ không thể gặp anh Lâm được nữa, bởi vì Thảo đã là người của nhà chùa, thoát khỏi cõi trần tục rồi. Thảo chỉ xin các anh đừng đitìm nữa, hãy làm việc và sống hạnh phúc. Đó cũng là điều mà Thảo mong muốn và mãn nguyện lắm rồi”.

Nhìn những dòng chữ xiêu xiêu và nhòe ướt, tôi hiểu Thảo đã khóc khi viết bức thư này. Lâm thẫn thờ nhìn ngọn nến leo lét cháy, trực tắt mỗi khi có gió. Sư cụvừa lần tràng hạt vừa chậm rãi kể:

- Sư Thảo bị bom Mỹ ở Trường Sơn phải cắt bỏ dạ con, mất cả chức năng của con người do tạo hoá ban cho nên không muốn gặp lại con vì không thể làm vợ,làm mẹ được nữa. Khi về quê lại chẳng còn họ hàng thân thích nên đã xuống tóc vào chùa đi tu. Sư Thảo cũng đã nhiều lần tìm và dõi con từ xa, biết con công thành,

danh toại nên yên lòng lắm.- Thế sư cụ có biết bây giờ cô ấy đi đâu không?

- Khi rời chùa này ra đi, sư Thảo có đến lạy ta và nói: “Lần này con xin đức trụ trì xá tội, con không thể nói sẽ đi đâu vì con biết người có tấm lòng đại đức, đạibi sẽ động tâm khi họ hỏi”. Vì thế ta cũng không rõ sư Thảo đã đi về phương nào.

Lâm vẻ bức bối, thất vọng:- Giá như em không la cà ăn uống với mấy thằng bạn ở Việt Trì mà về ngay Hà Nội từ hôm qua có phải kịp đến gặp Thảo không?

Tôi bảo:- Thảo đã quyết như vậy rồi dù có gặp được cũng thế thôi.

- Nhất định em sẽ tiếp tục đi tìm bằng được cô ấy!Tôi lắc đầu nhìn Lâm. Ngoài sân có tiếng lá khô lăn nhè nhẹ như tiếng bước chân người. Một ngọn gió cô đơn nào đã thổi qua sân chùa...

(Rút trong tập “Ngọn gió sân chùa” của Trọng Bảo)

Thằng Xót

Tôi đang cặm cụi đẽo mấy quả lựu đạn gỗ ở đầu nhà thì nghe tiếng chị chủ nhà quát thằng con:- Từ rày, tao cấm mày nhận quà của người lạ cho nghe chưa? Ngày mai phải đem ngay cái áo trả cho bà ấy...

- Nhưng! Đó là bà...- Không bà...bà gì hết! Dắt trâu ra ruộng ngay.

Rồi im lặng hẳn. Một lát, có tiếng chân nhè nhẹ phía sau. Tôi quay lại. Thằng Xót mặt còn bị xị đi lại. Tôi hỏi:- Có chuyện gì mà mẹ mắng thế?

- Vì cháu đã nhận cái áo bà cho.- à! Tại chưa được mẹ cho phép đã nhận đồ người khác cho chứ gì?

- Nhưng đó là bà nội cháu cơ mà!Tôi ngạc nhiên:

- Chắc lại tự ý vòi vĩnh bà chứ gì?- Không phải! Bà tự cho đấy chứ. Nhiều lần bà cho quà, mẹ biết đều mắng hết.

Tôi càng không hiểu. Thằng Xót ngồi xuống cạnh tôi cầm quả lựu đạn gỗ lên xem. Nó đã mười lăm, mười sáu tuổi rồi, phổng phao, lộc ngộc. Một lát nó bảo:- Lớn lên, cháu cũng đi bộ đội như bố cháu và chú.

- ừ...- Bố cháu hy sinh tay vẫn cầm súng đứng giữa chiến hào, lựu đạn còn đeo bên hông đấy nhé...

- ừ...- Tôi vừa chăm chú gọt quả lựu đạn vừa đáp. Chợt tôi giật mình:- Nhưng bố cháu lúc nãy còn xách giúp chú cái ba lô vào nhà cơ mà?

- Đấy là bố dượng cháu. Bố dượng cháu tốt lắm. Bố dượng coi cháu như con đẻ, nuôi cháu lớn lên và cho đi học đến bây giờ. Còn bố đẻ cháu hy sinh rồi.- Thì ra vậy! Chú vừa mới đến nên không biết...

Tôi định hỏi thằng Xót về bố đẻ của nó thì chị chủ nhà gọi giục nó đưa trâu ra ruộng bừa ngả. Nắng đã bớt gắt. Cánh đồng trước làng đã có người xuống cấy.Tôi thu dọn và đem mấy quả lựu đạn gỗ vào nhà. Cả nhà đi vắng hết. Tôi tranh thủ quét dọn nhà cửa, sân vườn vì ngày mai bắt đầu bước vào huấn luyện chiến thuật

không có nhiều thời gian.Đang lúi húi khơi cái rãnh thoát nước ở cổng thì có tiếng người gọi:

- Chú bộ đội ơi!Tôi ngẩng lên. Một bà cụ dáng vẻ mệt mỏi vì đi nắng đang đứng ngoài cổng. Tôi hỏi:

- Bà gọi cháu ạ!Bà cụ gật đầu:

- Chú có thấy thắng Xót ở nhà không?- Cháu nó vừa đưa trâu ra ruộng rồi ạ! Mời bà vào trong nhà cho đỡ nắng.

- Thôi! Chú cứ kệ tôi. Tôi ngồi ngoài này đợi cũng được.Tôi băn khoăn, cố mời, nhưng bà cụ nhất định không vào. Bà cụ lại hỏi:

- Thế... chú ở trọ ở đây à?- Vâng ạ! Chúng cháu lên ở nhà bà con xóm ta để tập quân sự ạ!

Chợt nhớ ra câu chuyện lúc nãy thằng Xót kể. Tôi rất muốn hỏi chuyện bà cụ nhưng không dám. Bà cụ vẫn ngồi ngoài cổng bỏm bẻm nhai trầu nhưng trông vẻbuồn. Bỗng bà lập cập vẻ lúng túng rồi chào tôi:

- Chào chú! Tôi về nhé.Bà vội vàng đi luôn. Cây gậy lọc cọc khua trên đường sỏi. Một lúc sau, chị chủ nhà quảy quang gánh về. Thì ra bà cụ vội đi ngay vì muốn tránh mặt chị. Chị cứ

bảo tôi cứ nghỉ lấy sức mà đi tập. Nhìn vẻ khắc khổ, lam lũ của chị, không ai nghĩ chị chỉ mới ba bảy, ba tám tuổi.Mùa hè mưa nắng thất thường. Đại đội chúng tôi đang tập trên Núi Dạm thì một cơn nưa ập xuống. Nước xối xả, khiến tất cả chúng tôi đều ướt như chuột lột.

Mùa hè mưa nắng thất thường. Đại đội chúng tôi đang tập trên Núi Dạm thì một cơn nưa ập xuống. Nước xối xả, khiến tất cả chúng tôi đều ướt như chuột lột.Đại đội trưởng tuyên bố:

- Các trung đội cho bộ đội về doanh trại, bảo quản, lau chùi vũ khí trang bị. Ngày mai trời tạnh ta sẽ tập bù.Chúng tôi lục tục kéo về làng. Đến đầu xóm trung đội trưởng hạ lệnh giải tán. Tôi vội chạy ngay về nhà ở. Tới đầu ngõ, tôi tóm được thằng Xót từ trong nhà

khoác áo mưa phóng ra. Tôi hỏi:- Mưa gió thế này cháu còn đi đâu đấy?

- Cháu...cháu... đem áo mưa cho bà nội. Nếu...nếu mẹ cháu về, chú bảo cháu chưa về nhé.Nó lập cập vì lạnh. Tôi thả cho nó chạy đi. Nó phóng thẳng ra phía con đường sang làng Thượng. Tôi cũng vội chạy vào nhà. Mãi tối mịt, thằng Xót mới về. Nó

trả lời qua quýt những câu hỏi của mẹ rồi khẽ kéo tay tôi ra hè thì thào:- Cháu lo bà bị cảm lạnh ốm mất chú ạ!

- Bà bị mưa ướt à?- Bà đi đến giữa đồng thì trời ập mưa. Lúc cháu chạy đến bà đã bị ướt hết rồi. Cháu dìu bà về nhà rồi nhờ bác Ngân đến xoa dầu cho bà rồi.

- Thế bà đi ra đồng làm gì? Mà sao cháu biết bà ở đấy?- Bà cháu đi tìm cháu đấy. Ngày nào bà chả sang tìm cháu. Nhà bà cháu bên làng Thượng nên phải đi qua cánh đồng...

Câu chuyện chẳng đến đầu, đến đũa của thằng Xót khiến tôi càng khó hiểu. Tôi cứ mong có dịp thuận tiện để hỏi chuyện anh chị chủ nhà. Nhưng thấy anh chịbận bịu suốt ngày nên cũng đành thôi.

Hôm sau, tôi bắt gặp thằng Xót giữa chợ. Nó đang bán một giỏ cua đầy và mấy xâu cá đồng. Thấy tôi, nó tỏ ra lúng túng. Rồi nó rụt rè đề nghị:- Chú đừng nói với mẹ cháu là cháu đi bán cua cá ở chợ nhé.

- Tại sao thế?- Vì... cháu bán để lấy tiền mua cho bà hộp sữa. Bà bị ốm rồi chú ạ.

- Thế à?- Hôm qua, bà bị mưa ướt nên cảm ốm chẳng ăn được gì chú ạ.

Chợt nhớ ra, nó hỏi:- Chú đi chơi à?

- Chú đi khênh rau cho tiếp phẩm! - Tôi đáp và lục túi đưa cho nó mấy đồng. Nó xua xua tay:- Cháu bán cá được một ít còn lại bố cháu cho thêm, đủ mua cho bà cân đường và hộp sữa rồi.

Tôi ngạc nhiên:- Thế bố cháu cũng biết à?

- Vâng! Mà số cua, cá này cả nhà cháu và bố cùng bắt suốt buổi đấy chứ.

*

Rít một hơi thuốc lào, nhấp chén nước chè vẻ ngon lành xong, anh Thực kể:- Tôi, Luyến vợ tôi và Hoàng cùng học với nhau từ khi còn bé tý. Đến năm cấp 3 thì giặc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc rất ác liệt. Cầu Bắc Giang, cầu Đáp

Cầu thường xuyên bị chúng đánh phá. Chúng tôi phải sơ tán lên mãi vùng Mỏ Thổ, Bắc Giang học nhờ các trường bạn. Vợ tôi ngày ấy là “hoa khôi” và là bí thư chiđoàn của lớp đấy nhé. Cả tôi và Hoàng đều thầm yêu cô ấy. Tôi rất tự tin vì tôi đẹp trai và học giỏi hơn Hoàng. Nhưng rồi tôi đau khổ nhận ra cô ấy chỉ yêu Hoàng

và coi tôi như người bạn thân. Chúng tôi vẫn gắn bó với nhau, giúp đỡ lẫn nhau nhưng giữa tôi với hai người dần dần xuất hiện một khoảng cách. Tôi học sút đi nhiều.Tốt nghiệp cấp 3, chúng tôi cùng đi thi đại học nhưng chỉ có Hoàng là đủ điểm vào đại học bách khoa. Bố Hoàng lúc ấy đang là phó chủ tịch xã, mẹ là chủ tịch

hội phụ nữ. Hoàng rất muốn đi học đại học, nhưng bố mẹ cậu ấy đều động viên đi bộ đội. Tôi cũng viết đơn xin nhập ngũ. Hoàng được gọi vào bộ đội trước. Tôivào dân quân. Nhờ thành tích tiếp đạn, tải thương cho bộ đội cao xạ nên được giới thiệu, bồi dưỡng để chuẩn bị kết nạp Đảng và bổ nhiệm làm trung đội trưởng dân

quân. Hoàng được về phép gần một tháng rồi vào miền Nam chiến đấu.Giữa lúc ấy thì xảy ra một chuyện. Luyến có thai, cái bụng đã sang tháng thứ 4, thứ 5 của cô dù có bó buộc thế nào cũng không thể giấu mọi người được nữa.

Ngày ấy chuyện này là “động trời, sụp đất”. Chi đoàn rồi trung đội dân quân tổ chức kiểm điểm, truy xét. Luyến bị dồn ép ghê quá. Rồi một hôm đích thân ông phóchủ tịch xã - bố của Hoàng- đến chỉ đạo việc kiểm điểm Luyến. Rồi cả bà chủ tịch hội phụ nữ xã cũng đến. Tôi không thế nhớ hết những gì họ đã nói nào là “đồ truỵ

lạc”, “loại vô giáo dục”, “kẻ dâm loạn” và cả “quân phản động, phá hoại” nữa. Sau này, tôi mới biết Luyến đã đến gặp bố mẹ Hoàng thú nhận việc đã lỡ có thai vớicậu ấy và đã bị họ xua đuổi, cho là “đổ vạ” cho nhà họ. Và cũng mãi sau này tôi mới biết tại sao họ lại đối xử tàn tệ với Luyến như vậy. Vì ông bố Hoàng đang nằm

trong quy hoạch phát triển lên làm chủ tịch huyện. Ông sợ vì chuyện này có thể làm đổ vỡ tất cả.Luyến bị dồn đến chân tường. Một đêm, sau giờ trực chiến, tôi tranh thủ qua nhà lấy thêm ít gạo, muối. Lúc đi tắt qua quả đồi sau làng nơi con sông Cầu bẻ góc

chảy xiết, dưới ánh trăng mờ tôi chợt phát hiện ra một bóng người đang dấn dần ra giữa sông. Linh cảm được điều không hay, tôi quát to:- Luyến! Không được làm thế!

Vứt vội bao gạo và khẩu súng trên bờ, tôi lao xuống dòng nước. Vật lộn, giằng co mãi, tôi mới lôi được Luyến lên bờ. Luyến vật vã xin tôi để cô được chết bởivì cô không còn muốn sống nữa. Mãi đến khi tôi bảo: “Hãy nghĩ đến đứa con, nó có tội tình gì đâu”, Luyến mới chịu theo tôi trở về làng.

Hôm sau, khi ông phó chủ tịch xã chủ trì cuộc họp cuối cùng để xác định kỷ luật của Luyến. Không hề chủ định trước, giữa lúc căng thẳng nhất thì không hiểu vìsao, có lẽ vì thấy Luyến bị truy bức khổ quá, tôi bỗng bật dậy:

-Tôi xin nhận! Tôi chính là bố của đứa trẻ.Tất cả mọi người đều vô cùng sửng sốt. Những người không hiểu tôi đã đành, Luyến cũng ngẩng đầu lên nhìn tôi sửng sốt. Thế là chả phải bàn cãi gì nữa, Luyến

và tôi đều bị khai trừ khỏi Đoàn, đuổi khỏi trung đội dân quân. Quyết định chuẩn y kết nạp tôi vào Đảng đã ký cũng bị hủy bỏ. Đơn xin nhập ngũ của tôi bị trả lại...- Sau đó anh và chị Luyến lấy nhau chứ ạ?

- Không! Luyến sinh con rồi lầm lũi nuôi con. Cô ấy khổ lắm. Mang tiếng chửa hoang, bố mẹ cũng còn xua đuổi chửi bới. Mẹ tôi cũng ốm liệt giường cả tháng vìbuồn. Bố tôi là nhà giáo, cụ hiểu tôi nhưng cũng khó xử khi đứng trên bục giảng giáo dục dạy dỗ các em sống đẹp, sống có lý tưởng cách mạng, mà con mình lại như

thế. Cụ xin nghỉ mất sức rồi đi làm ruộng. Luyến sinh con. Bố mẹ cô ấy dựng cho một ngôi nhà tre nhỏ ven làng. Tuy vất vả nhưng cô ấy vẫn cố gắng vượt qua,không nhận sự giúp đỡ của ai. Báo tử của Hoàng sau hơn một năm, cô ấy mới nhận lời lấy tôi. Trong một trận chỉ huy dân quân chuyển đạn cho bộ đội đánh trả máy

bay địch ở cầu Bắc Giang, bố Hoàng đã hy sinh. Nhà Hoàng chỉ có cậu ấy là con trai, em gái thì lấy chồng xa ở mãi Vĩnh Phúc.Anh Thực kể tiếp:

- Luyến đặt tên đứa con của mình với Hoàng là thằng Xót có nghĩa là đau sót, đắng cay. Thằng Xót lớn lên chỉ biết có tôi là bố và mẹ Luyến. Tôi định khi nào nóđã trưởng thành mới nói cho nó biết mọi chuyện. Nhưng khi người ta xây dựng, tôn tạo lại khu di tích thành cổ Quảng Trị thì tìm được hài cốt của Hoàng. Hoàng hy

sinh và bị vùi lấp trong tư thế đang cầm súng chiến đấu. Trong túi áo của Hoàng có một bức thư cậu ấy viết cho bố mẹ tuy nét chữ đã mờ nhưng vẫn đọc được. Cậuấy nói về chuyện đã yêu và có quan hệ với Luyến, dặn bố mẹ nhận Luyến là con dâu, nếu cô ấy có thai thì đứa con ấy là của mình...

- Sao anh ấy không nói ngay khi về phép?- Vì lúc ấy hai người chưa chắc chắn lắm.

Bà mẹ Hoàng nhận được hài cốt của con và lá thư đã ngất đi. Bà cụ ân hận và rất mong muốn nhận lại cháu nhưng Luyến nhất định không chịu. Cô ấy không thểnào quên được những gì đã xảy ra. Thằng Xót càng lớn càng giống Hoàng. Lúc đầu nghe mẹ, xa lánh bà nhưng dần dần mình khuyên nhủ, nó cũng hiểu ra. Bố con

mình phải “bí mật” giúp đỡ bà cụ. Chuyện qua lâu rồi còn để bụng làm gì. Đằng nào bà cụ chả là mẹ của Hoàng, bạn nối khố với mình từ thời còn cởi truồng cơ mà.Bà cụ bây giờ tuổi cao, chỉ còn một mình. Chỉ mong Luyến bỏ qua mọi chuyện, bố con mình sẽ đến đón cụ về ở chung hoặc không thì cũng công khai giúp đỡ cụ.

Khổ! Ngày nào bà cụ cũng đi bộ hơn cây số sang tìm thằng Xót.Tôi thấy ngậm ngùi và thoáng buồn trước câu chuyện anh Thực kể. Anh Thực chợt hỏi tôi:

- Này! Cậu sắp tốt nghiệp rồi phải không?- Vâng ạ! Em đang học năm thứ tư rồi.

- Sắp thành “chính trị viên đại đội” rồi còn gì! Nhưng... thời gian ở đây cậu phải giúp mình với nhé- Giúp việc gì ạ?

- Thì giúp thuyết phục dần dần để bà xã mình hiểu ra...Tôi gật đầu đáp: - Vâng...

Mấy năm sau, tôi mới lại có dịp đi qua vùng núi Dạm. Anh chị Thực đi làm đồng chưa về. Thằng Xót bây giờ đã là một thanh niên vạm vỡ. Nó nhận ra tôi ngay.Vừa đưa tôi vào nhà, nó vừa bảo:

- Cháu đã đi đỗ vào Trường sĩ quan Thông tin rồi đấy nhé.- Thế thì tốt quá!

Thằng Xót mở tung cánh cửa. Căn nhà cấp bốn mới xây còn sáng màu vôi. Tôi giật mình khi thấy ảnh bà cụ đã gặp ở cổng ngày nào và ảnh một người chiến sĩcòn rất trẻ lồng trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công” đặt trên bàn thờ. Thằng Xót ngậm ngùi:

- Bà cháu mất được hơn một năm rồi chú ạ!...Rút trong tập “Ngọn gió sân chùa” của Trọng Bảo

Đầu máy hơi nước

Sản phụ hôn mê do mất máu. Người đàn ông ngồi bên cạnh đăm đăm nhìn khuôn mặt xinh đẹp giờ trắng bệch. Mảnh mai. Liễu yếu. Nhưng ghê gớm. Giận chồngđến nỗi cơn đau đẻ đến mà không gọi. Có mobai để cho mà không dùng. Một mình vật vã. Khó đẻ. Khi phát hiện ra thấy nằm trên nền nhà. Máu như suối.

Thằng cu mổ ra suýt nữa ngạt. Người đã tím. Xem vậy mà nhà còn có phúc. Thằng bé dãy đạp. Khóc như cái còi. Người đàn ông, loại người máy, loại thẳngbăng không hề run rẩy trước lá xanh, trước ráng chiều, trước bàn tay trẻ đưa ra… giờ mủi lòng nhìn vợ chìm trong giấc mơ. Gã vẫn giễu vợ là đồ thừa. Sống mà

không xem trọng tiền bạc như gã. Không cùng chí hướng. Xem như lắp ghép. Bây giờ nghe tiếng con khóc, gã cũng như lạc bước quay về.Như thế này mà bảo con chuyển hẳn lên ở với bố mẹ hả? Còn lâu. Mưa thì lội nắng thì bụi. Cây cà phê của bố còi cọc như trồng trên sa mạc. ở dưới phố còn

được mặc váy đeo vàng còn trát phấn còn tô son. Bố bảo chịu khó nhưng con chỉ thấy khó chịu. Bố mẹ già rồi còn giở chứng di chuyển.Lễ vừa ăn ngô luộc vừa nhấm nhẳn. Ông Phục nằm võng kẽo kẹt nghe con gái. Tai nghe mắt nhắm. đầu nghĩ đi đâu. Ông cũng nghĩ: con cái khốn thế. Sướng quá

chiều quá nó tưởng nó là gì chứ. đang học hành tử tế đùng đùng bỏ về. Mày làm tướng làm tá gì mà sờ đến đâu chê đến đấy.Thôi bố ạ! Lễ ném lõi ngô vất ra cái cống xanh những rêu. Bố mẹ ở đến nỗi rêu xanh cả cống rồi. Quay về khó rồi. Mình có nói cũng mang tiếng con hư. Mà hư

sao được? Xuất thân nền nếp gia truyền. Cái gì cũng gia truyền đến cơm đến phở cũng gia truyền chữ gia truyền của mình nó tẻ như giấy bổi. Cũng chỉ muốn làm côgiáo văn sử tiểu học bình yên cuộc sống dè dặt lại có tiền công chức. Đi học trung cấp sư phạm khu vực miền Trung. Năm thứ nhất gặp ngay mấy giáo sư thôi miên

cỡ quốc tế. Nhìn thấy thầy là lập tức đờ người mắt căng to ngó thầy đầu thì ngủ. Đứa nào gan thì bỏ kính gục xuống bàn. Đứa nào lơ mơ nghe bài giảng thầy đọcnguyên trong giáo án. Mười hai giờ kém mười lăm ông Quang Trung mới đến Tam Điệp. Thầy dắt ông lò dò ra Thăng Long đến khi ca khúc khải hoàn đã một rưỡi

chiều. Còn hứng thú gì khi nhai cơm bụi nghĩa đen bụi một nửa cơm một nửa cổng trường. Việc gì phải theo cả bầy mà tự hành mình thế?Ông Phục ngán ngẩm: Thế cái cửa hàng đồ gia dụng của mày sáng choang hả con? Cái ấm đun nước cất hàng lậu tỉnh lẻ biên giới ai bảo mày dán mác Sanh ga

po? Cái kẹp quần áo i nốc Thăng Long mày loè người ta hàng xách tay americần? Cái cốc nhựa Bình Dương mày bảo chính danh Nhật bổn…? Ông Phục rỉ rả dùngnguyên giọng con gái hay ca thán chán sống.

Lễ thở hắt ra thấy nóng rực mi mắt. Làm thế nào được hả bố? Dân mình sính ngoại không nói thế bán cho ma. Bố biết thừa còn cứ giễu con. Lời lãi có bao nhiêusuốt ngày phơi mặt dưới mái tôn nắng hầm cho màu da củ gấu thế này con sung sướng gì chứ. Nhưng lên đây thì rõ tránh dơi gặp chuột…

Thôi bố tuỳ con! Ông Phục dịu giọng thương hại đứa con gái út xinh đẹp kém may. Hơn hai mươi tuổi đầu đã loay hoay. Thằng người yêu mặt mũi phương phibóng bẩy nhưng mở mồm là theo thói thời thượng phô bày văn hoá bình dân xếp xó tuốt tuột những uẩn khúc của lòng người xem buồn vui như xa xỉ chả cái gì sánh

nổi tiền bạc. Ông Phục một thời đi xe điện số 3 ở Maxcơva học môn vật lý nhưng khi về nước vào thành phố miền Trung quê hương nhì nhằng công chức ở phânviện khoa học chôn vùi cả tiếng Nga cả vật lý học ở bậc thầy. Về hưu buồn như cái giẻ nhúng nước. Nghe lời bạn lên cao nguyên trông cà phê cho vui. Mà thật ra là

vui. Xa hẳn cái thành phố nhung nhúc xe máy người ra đường hơn nhau nửa bánh xe xem như thắng quả đậm. Cái đứa con gái ương như ổi sao mà bửa cái trán dôcủa nó nhét chân lý của mình vào?

Lễ thấy cái xe máy lạ đang rì rì lên con đường đất đỏ dẫn vào nhà bố mẹ. Nghe tiếng xe ông Phục bật dậy: Có dễ cậu Thống đấy. Thống bác sĩ bạn của bố! BốLễ bật dậy trông thật trẻ. Lễ lủi ra phía sau nghĩ chán chết. Bạn của bố chắc cũng dạng giáo sư gây mê giáo sư thôi miên Lễ đã biết khi đi học. ở xứ đất đỏ hiu hắt

cà phê này các ông còn biết bạn bầu với ai. Có chữ có nghĩa chuyện trò với nhau cũng đỡ. Thôi mai mình về dưới phố. Lễ đâu. Cho bố phích nước. Về hôm qua màhôm nay mới mò tới hả? Tưởng Hà Nội giữ cậu rồi!

Em cũng mê Hà Nội. Nhưng loanh quanh vài tuần thấy rõ ở đây người ta cần mình hơn. ở chỗ đông người mà không ai cần mình chán thì ít tủi thì nhiều như côdâu bị chê không còn nguyên anh ơi… Lễ nghe chuyện bố với khách cũng hơi là lạ. Nhưng bưng nước lừng khừng. Bắt tay khách thấy cũng chả có gì gây hấn ngay.

Cháu chào chú!Ông Phục xoay tay. Chà chà, khó xưng hô nhỉ? Đây là anh Thống bác sĩ bố quen từ ngày mới lên. Bác sĩ hạng cao đó. Đi Hà Nội tập huấn nửa năm báo về cả

tuần rồi bây giờ mới tới. Kém bố mười lăm tuổi. Bạn vong niên. Thôi con cứ gọi là anh cho trẻ. Theo tuổi thôi mà… Dà… Thống kéo giọng như trai thanh lịch xứ

tuần rồi bây giờ mới tới. Kém bố mười lăm tuổi. Bạn vong niên. Thôi con cứ gọi là anh cho trẻ. Theo tuổi thôi mà… Dà… Thống kéo giọng như trai thanh lịch xứHuế. Tui xứ đó nhưng không có Bửu có Miên có Khoa chi mô. Trương Đình Thống. Bình dân như chúng sinh cũng không nghiêng nghiêng xứ ngoài dù gia đình tui ở

Hà Lan hết. Tui chả có Philíp Thống cũng chả có Tôni Thống hay Henri Thống gì hết. Thằng Thống Đại gàn.Mấy cô y tá bệnh viện huyện dành hẳn cho hai chữ đó. Nhưng không gàn đâu. Tui bình thường như chúng sinh. để tui kể cho cha con nghe mấy chuyện trên

tàu…Suốt cả buổi, Lễ tủm tỉm. Rồi cười khúc khích. Rồi ôm bụng quằn quại vì cười. Ông Phục ha ha hả hả. Hai phích nước hết veo cho đến khi bà Phục ở cơ sở thêu

về thấy cả nhà còn cười, cơm nước chưa có gì. Bà cũng mừng rỡ vì Thống đã về. Cả vùng nó trông. Cả bệnh viện nó trông. Cả hai cơ sở thêu bà thành lập thu hútnhân công nhàn rỗi giữa các vụ cà phê chưa hái cũng lâu rồi không thấy ông Thống gàn. Bà đi xe máy xuống dốc ra phố huyện mua một làn thức ăn. Khi về thấy con

gái xắn tay trong bếp, bớt hẳn cái vẻ thây kệ sự đời… Trong bữa ăn bà Thống hỏi: Nghe nói con gái Hà Nội đẹp lắm mà không thu hút nhân tài miền Trung sao?Có chứ chị. Em đẹp trai thế này ai người ta tha? Còn được mảnh giáp về đây là may đấy!

Bữa cơm cứ thế vui như tết. ông Phục dãn hết các cơ mặt trẻ ra đến chục tuổi. Bây giờ thì Lễ Láng máng đoán ra vì sao bố mẹ cứ ở lì đây mua đất thuê nhâncông trồng cà phê. Có bạn bầy như vậy rõ ràng vui hơn cả một khu phố đông nghịt dưới kia thật. Lễ loanh quanh yêu đương bán hàng chạy hàng lãi lỗ. Chỉ mới vài

lần lên thăm bố mẹ đâu đã được gặp gã bác sĩ này.Ngày mai. Rồi cả ngày kia. Lễ quên phắt ý định về thành phố. Hàng có người bán nhờ Hùng quản lý mấy ngày đi vắng. Lam Hùng. Đến bây giờ mới thấy nhột

nhạt. Đã Hùng sao lại còn Lam? tên như thế mà mình cũng yêu đương. Nói là yêu thì cũng biết vậy. Còn biết làm gì khi chỉ quấn quít nhau mỗi lúc nhập hàng tính toánlỗ lãi? Có lẽ chỉ như thế mới thấy cùng chí hướng!

Chiều cao nguyên trong vắt. Đường đất đỏ càng đỏ khi cỏ xanh rì hai bên đường. Khi cây cà phê cũng xanh ngắt. Thống có mấy ngày mệt nhoài ở bệnh việnhuyện. Hoá ra người ta cũng chờ mình. Bình luận theo kiểu Thống. Dân di cư khắp nơi đổ về. Vùng này ngày trước hoang vu như mặt trăng bây giờ đã "tốn hoá"

khắp lượt. Dân di cư nghèo xem mạng mình rẻ rúng y như dân đô thị đi xe máy. Họ chả dùng thuốc men gì. Cái u to bằng cái xô vẫn đắp lá. Thống gom những ngườicó lòng tuần một lần dạo qua các nơi khám rồi cho thuốc thông thường. Đi vậy cũng nhiều chuyện để kể ra cho em nghe. Khi nào có dịp…

Những lúc nghiêm trang Thống trông cũng buồn. Nhưng phần lớn cứ làm cho người đối thoại phải cười dù mặt mũi trông như vô sự Lễ có biết vì sao người ta cứtheo lãi cái ông râu dài có thuyết loài người thế nào cũng có người không phân biệt gì cứ thấy nhau ở đâu là ôm nhau nhảy múa sức đến đâu làm đến đấy muốn gì là

có theo nhu cầu không? Ông này lúc đi học là học sinh nghèo vượt khó lọt mắt xanh đại tiểu thư không cùng hội cùng thuyền. Nàng ấy hơn tiên giáng trần chàngmuốn leo càng cao phải có sản phẩm trí tuệ lớn. Chàng miệt mài luận án tiến sĩ ngờ đâu lập thuyết vĩ đại dắt một nửa nhân loại đi theo. Có biết vì sao nó lộng lẫy thế

không? Vì chàng viết luận án khi yêu. Tình yêu làm mọi thứ như giả tưởng. Nghĩ mà coi. Người yêu với người điên cùng dạng. Những điều trong mộng tưởng banđầu như vô hại. Nhưng mãi rồi thành chuyện thật. Nửa nhân loại dắt nhau mù mờ. Đi tun tút vào đường hầm. Yêu đương bây giờ lại là tội lỗi. Đúng. Hỉ! Hỏi ai đây…

Lễ cười ngặt nghẽo khi thấy Thống nghiêm túc. Chả biết Thống nói cái gì nhiều bất chợt nghĩ dù có xếp cạnh hàng ta đàn ông ngầu ngầu sành điệu xe "a còng" mù mịtđường cao tốc Thống vẫn là một người độc đáo khó ai sánh kịp. Người ra đời trong phú quý, cha dính tí quận trưởng trước bảy nhăm khi cả nhà chạy khỏi miền

Trung ra sà lan Thống mới gần hai mươi tuổi đang trọ học trên cao nguyên vì thích khí hậu lạnh. Trường ở Đà Lạt đó. Tuổi hai mươi dắt theo sau hàng tá tình. Nhưngchàng chưa kịp hôn. Nàng nữ sinh trung học má hồng màu cà rốt non áo khoác lên màu tro mặc ngoài áo dài đã theo cha chạy dưới Nha Trang. Ra sà lan thì chết.

Chìm xuồng. Từ đó cứ luẩn quẩn ở cao nguyên. Biệt thự nhà vườn dưới kia vẫn để đó. Họ thu rồi họ trả. Giờ cho thuê làm kỷ niệm. Công ty trách nhiệm hữu hạn trảtháng gần chục triệu. Không phiền hà gì đám Việt kiều yêu nước độ hai mươi người ở Hà Lan. Bên đó cũng có nhà. Nhưng đi du lịch thì mới mê. Vẫn thích về đây!

Lễ dài giọng trêu: Chắc linh hồn nàng không cho anh đi khỏi đất cao nguyên?Đâu có. Mình mơ mộng gì. Tạng mình mơ ai tìn? Nhưng mình có nghề mà. Lại không cần tiền để bon chen chỗ đông đúc. ở đây khoẻ người. Cái này quan trọng

nè. Người ta thấy cần mình. Mình lại không đến nỗi xa lánh khó khắn. Thôi, làm bác sĩ đa khoa ở xứ nghèo này mình chỉ cần chẩn đoán bệnh viêm họng chính xác lànhất.

Hai người thong dong. Chiều. Đồi cà phê mênh mông.Lam Hùng điện thoại. Có về không thì bảo. Mấy lô hàng lậu bán đấu giá mua cho rồi đấy. Có cho người tải tới không? Cái gì giữ trên đó mà lâu thế? Thôi.

Không quan trọng. Cái chính là tôi lo cho gian hàng của mình. Minh không lo tôi làm sao dám bàn. Máy tắt. Lễ thấy xa tít đằng kia là Lam Hùng. Chưa gì mà trịnhtrọng tôi tôi mình mình… Lễ đến bệnh viện huyện. Hai dãy nhà một tầng làm trên đồi. Một tốp đàn ông đàn bà đang cúi cúi cúi nghe Thống. Thống nhỏ nhẹ rồi quát

tháo: Phải khôn lên chứ. Cho thuốc uống bữa nay bữa mai sao khỏi ngay mà uống vài viên là vất. người gì mà không biết tự chữa trị cho mình… Những con ngườinhỏ bé đen đúa không giận ông bác sĩ. Họ biết là nên giận ai nên thương ai. Những con người như hạt cát. Những đứa trẻ ai thương thật lòng nhận biết ngay. Thống

tìm được nơi để đặt lòng tốt. Thời buổi kỳ quặc ai có lòng tốt đều như người ngoài hành tinh. Thống đi lại như cá trong nước ở đây. Đất sạch. Trời trong không bụibặm…

*Rồi Lễ cũng phải về thành phố. Hùng sấn sổ. Tây chân tàn bạo sấn sổ ôm, quàng, hôn hít. Nói gì thì nói chứ đây không cho mình thoát đâu. Đây biết thừa. Lên

đó dính bả rồi. Lễ không biết là Hùng cũng ở dạng chuột cống. Dạng bọ chét phun thuốc không chết hết. Chỗ nào cũng có râu ria. Tung toé ăng ten khắp nơi. Chợtnhớ cái hôm Thống đưa Lê lên Đà lạt. Hai người leo toa xe lửa du lịch. Đầu máy hơi nước của Pháp làm từ đầu thế kỷ giờ thu hút du khách. Cả hai ngồi trên toa xe

trống trơn có ghế gỗ kê bên thành toa nhìn ra ruộng rau ruộng bắp. Nhìnhà vănườn hồng. Nhìn hoa dã quỳ vàng như gấm hai bên đường. Bất chợt nhìn nhau. Thốngđùa: Người ta vẫn mang cung cách hang động đó thôi. Chui ra khỏi hang đính kim cương vàng ngọc sáng loé. Leo lên tên lửa bay vào vũ trụ. Làm gì chỉ cần bấm

ngón tay vô máy là có cái rụp nhưng lẩn thẩn lại quay về mò mẫn những thứ từ thuở sơ khai những thứ tổ tiên xài. Xem mấy thằng tây da trắng tóc vàng mặc nhưngười ở rừng Amadoon leo toa xe lửa đầu máy hơi nước mà sướng như lên tiên. Có hay không hề? Lễ cười nghiêng đầy vào vai ông bác sĩ có biệt tài làm thế giới

sống động. Không ngờ ngồi xe lửa từ ga nọ đến ga kia chỉ bảy cây số du lịch có người bẩm báo về thành phố. Hùng gẩy gẩy tàn thuốc. áo da. Di đọng Mobile dắtlưng. Tóc kiểu ngôi sao màn bạc Hàn Quốc quảng cáo dầu gội đầu. Cái nhìn lạnh lẽo. Mặt đẹp như đá. Nhưng không bao giờ làm được ai cười phá lên. Tự dưng Lễ

thấy hãi hùng. Đời chưa gì đã ngột thở.Sao cô có vẻ sợ tôi thế?

Không. Em làm gì mà sợ anh?Cảnh cáo nhau tí thôi. Rời tôi một ngày mà xem, kinh phí mỏng ngay. Thời buổi này đừng có mà làm mây bay cao nguyên. Tôi thực tế xã hội đầy mình em non

lắm về nghĩ cho kỹ đi. Không yêu đương nhiều đến độ tự tử đau nhưng đã trình diện xã hội rồi là đây đầy tự hào bản thân không muốn mang tiếng mình bị trượthạng. Ông bà già ở trên kia sẽ được chăm sóc đầy đủ. Mùa thu cà phê sẽ được bao tiêu tử tế rớt giá ở đâu mặc kệ.

Lê kinh ngạc là trước kia Hùng vẫn nói năng như thế sao mình nghe vẫn ngọt. Bây giờ thấy gai mọc sống lưng.Hùng lộ ý là đang rủ một nhóm lâp công ty. Chắc cũng muốn hoà nhập. Muốn lên hạng. Thế nào cũng được nhưng từ hôm gặp Thống một con người khác cứ

cựa quậy trong Lễ.Lễ lên thăm cha mẹ. Ông Phục buồn thiu. Vợ chồng cũng là cái số con ạ. Nó sẽ là thằng gánh xác được việc nặng…

Chắc đâu hả bố? Biết trước sao được?ờ. Thế mới phải đổ cho cái số.

ờ. Thế mới phải đổ cho cái số.*

Trăng cuối tháng treo to đùng trên đồi cà phê. ánh trắng mát như thạch. Lễ tiễn Thống đi hơi xa nhà. Lễ kể hết mọi chuyện. Rồi con đường không thể thoát ra.Cũng vì ánh trăng nên lòng người không thể thoát ra. Cũng vì ánh trắng nên lòng người không dò được. Lễ quàng tay ôm siết người đàn ông kỳ lạ. Thôi anh già rồi Lễ

đừng khổ làm chi. Anh giống thứ sản xuất đầu thế kỷ trước nhìn thì thú vị chứ có dùng để đi xa được đâu. Đi du lịch thôi. Việc của em em cứ làm. Thỉnh thoảng lêncao nguyên anh kể tiếu lâm cười cho nó trẻ!

Lễ hận mình vì sao cứ bất chợt chọn lựa. Rồi không cựa quậy được. Cứ như mắc trong đám lưới lùng bùng. Nhưng cũng còn may. Ngoái nhìn Lê thấy Thốngđang ngắn trán chắc muốn tìm câu gì đó nói cho mình cười. Lễ biết phía sau có đồi cà phê của cha mẹ. Có người đàn ông nói cái gì cũng buồn cười. Dường như ai

cũng phải tìm được nơi tránh bão của đời… Thôi… Buồn thế đủ rồi…*

Sản phụ mở đôi mắt ướt đẫm. Bố. Mẹ.Bố mẹ đây con gái. Tỉnh đi mà bé con. Nó đang ngủ. Ô! Con trai thật. Siêu âm xong con còn chưa tin lắm. Nào đưa cháu cho con đi.

Nằm đã. Kim truyền đầy mình thế này nhìn con là được rồi. Thằng Hùng chạy đi mua thuốc…Thiếu phụ đưa bàn tay miết đôi lông mày còn mờ mờ của đứa trẻ. Chưa ra khỏi giấc mơ. Mà biết đâu là mơ. Bố ơi, bố mẹ trồng cà phê à? ừ, bố mẹ lên trồng cà

phê. Con quên sao?Không, con quên thế nào được. Con hỏi anh Thống bạn vong niên của bố.

Thống nào? ở trên đó bố nhiều bạn nhưng không có anh Thống!Thế ở ga Đà Lạt có đầu máy hơi nước không? Có. đầu máy sản xuất năm bốn mươi giờ người ta dùng kéo mấy toa tàu cho khách du lịch. Họ thích lắm. Hôm

này con lên bố đưa đi chơi… Lễ nhìn ra xa. Nói như một mình. Con đi rồi! Con nhớ là có anh Thống bác sĩ cực hay. Đi rồi!Bố mẹ đưa mắt nhìn nhàu. Người đàn bà tóc hơi chớm bạc để đứa trẻ đang ngủ lên lòng con gái. Xót xa như mọi người mẹ. Bà nói vào tai con. Cứ cho thằng cu

bú con sẽ thấy mọi chuyện không có gì đáng sợ. Thử mà xem, con…Nhưng anh Thống… Mẹ ơi. Con cần anh ấy!

Mầm sống

Có lẽ duy nhất ở làng Đông, Hải là người lính trở về thăm quê muộn nhất sau chiến tranh. Sài Gòn được giải phóng mà gần một năm sau anh mới trở về. Lý do làanh bị thương nặng trong trận quyết chiến tại Xuân Lộc khi binh đoàn của anh phải vượt qua được “lá chắn” này, đúng hơn phải xoá được cửa tử này khi địch cố tứ

thủ để đánh Sài Gòn. Sau ngày 30-4, khi cả nước đang hân hoan trong chiến thắng vĩ đại đưa đất nước thống nhất, Hải và không ít đồng đội phải nằm trên giườngbệnh với vết thương khá nặng. Có lẽ niềm vui của thắng lợi và sự tận tình cứu chữa của các thầy thuốc đã giành giật lại sự sống trong hoà bình và cả nghị lực, cả khát

vọng sống nữa từ chính Hải. Tất cả những cái đó mới làm nên sức mạnh kỳ lạ để anh thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, trở về với cuộc sống.Ngày Hải khoác ba lô xuống tàu ở ga Đằng Giang rồi cứ thế cuốc bộ gần chục cây số dọc theo con đường rải đá cấp phối lổn nhổn ổ gà, mồ hôi ướt đẫm lưng

áo, đi như chạy vào sân nhà để gặp mẹ, đó là ngày thật vui, thật hạnh phúc. Mẹ nghe tiếng anh gọi mà đứng sững ở giữa cửa, cái nồi đồng nấu cám lợn rơi từ trên taymẹ, lăn mấy vòng ở sân, mẹ dụi mắt như không tin ở mắt mình, rất lâu sau mới khóc lên được thành tiếng dù nước mắt lã chã rơi trên gò má nhăn nheo. Mẹ nhào tới

ôm anh vào lòng, cứ vỗ tay vào lưng anh, hệt như anh là một đứa trẻ, miệng lập cập…- Cha đẻ nhà anh, sao giờ mới về.

Hải cũng khóc, không chỉ vì niềm vui vì mình đã là người may mắn sống sót sau chiến tranh để trở về gặp mẹ, mà cái chính là anh thấy mẹ đã quá già, già trướctuổi của mẹ rất nhiều. Hải biết rõ vì sao mẹ lại già như vậy. Tóc mẹ bạc trắng dù mẹ mới ngoài năm mươi. Gương mặt của mẹ, từ trán, từ hai bên khoé mắt và cả hai

bên má hằn những nếp nhăn. Có lẽ chỉ sự vất vả vì làm lụng quần quật quanh năm trên thửa ruộng thì mẹ cũng không gầy gò, không già nhanh đến vậy. Chỉ có sự chờđợi mỏi mòn, sự nơm nớp lo sợ đứa con trai duy nhất ở ngoài mặt trận, có qua được mũi tên mũi đạn trở về, mới làm cho mẹ tiều tụy như thế.

Niềm thương, nỗi nhớ, nỗi lo âu giờ đây đã đi qua, niềm vui, niềm hạnh phúc đã làm mẹ như trở lại, vì Hải đã có mặt trong căn nhà tranh tuềnh toàng…Được khoảng 10 ngày phép, một hôm mẹ gọi anh lại bên chõng tre ngồi uống nước chè xanh, ăn khoai luộc và thủ thỉ dỗ dành:

- Mẹ đã ngần này tuổi đầu, anh cả thì đã hy sinh, còn con, nhờ phúc đức của tổ tiên và của cha con, anh con để lại nên lành lặn trở về thế này là quý hoá lắm rồi,con hãy lấy vợ đi để mẹ có cháu bồng. Con biết không, bằng tuổi mẹ, ở làng người ta đã có cháu nội, cháu ngoại lớn tướng rồi đấy.

Hải nhìn mẹ, anh thấy sự mong đợi loé lên trong ánh mắt của mẹ, trên gương mặt của mẹ. Tự nhiên anh thấy thương mẹ một cách lạ lùng và hiểu rằng mình cónghĩa vụ phải đáp ứng yêu cầu của mẹ, dù trong lòng anh cũng không hiểu mình sẽ lấy vợ như thế nào. Thêm nữa, anh chưa được giải ngũ, hết phép anh phải trở vào

đơn vị vì sau đó, anh phải tập trung đi học bổ túc văn hoá, tiếp tục được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ.Hải cầm tay mẹ, an ủi:

- Con sẽ nghe lời mẹ. Nhưng bây giờ ở làng này con không biết lũ bạn cùng tuổi con cô nào đã lấy chồng, cô nào chưa lấy chồng. Vậy cần phải tìm cô nào mẹưng thuận đây.

Mẹ anh cười, nụ cười thật hiền hậu:- Con nói thế thì mẹ yên lòng rồi. Bây giờ lứa cùng tuổi với con thì chúng yên bề gia thất hoặc đã có chồng rồi. Cũng có đứa tội nghiệp, trở thành goá bụa khi

chồng đã hy sinh. Con phải tìm hiểu lũ con gái mới lớn thôi. Để mẹ nghĩ ra nào… à, mẹ nhớ ra rồi. ở xóm Đồng Xuân có một con bé kháu đáo để, nó tên là Hoa, connhà ông Thạch, năm nay 18 tuổi, 19 gì đó, nó có cửa hàng ở gần trụ sở Uỷ ban xã. Con thử ra đó xem mặt nó, nếu ưng thì mẹ sẽ nhờ người làm mối. Mà không cần,

tự con con cứ đặt vấn đề thẳng, mẹ nghĩ nó sẽ ưng thôi.- Mẹ chủ quan thế, nhỡ cô ấy đã có đám nào thì sao?

- Con bộ đội từ miền Nam sống sót trở về, bây giờ là “mì chính cánh” đấy, hỏi đâu chẳng được vợ. Nó chả ưng con thì ưng ai. Cứ mạnh dạn lên con ạ.… Cả đêm ấy, Hải trằn trọc không ngủ. Anh quyết sẽ lấy vợ để chiều lòng mẹ, hơn nữa, anh còn trở vào đơn vị, có vợ, có người phụng dưỡng, đỡ đần công việc

cho mẹ, anh cũng yên tâm công tác hơn. Chỉ điều phải đi xem mặt, rồi đặt vấn đề với người ta, con người mà mình xa lạ, không hề quen biết, anh thấy vừa hồi hộp,thích thú, nhưng cũng thấy ngập ngừng, anh không biết mình sẽ phải mở đầu câu chuyện thế nào… Suy nghĩ đến gần sáng anh thiếp đi lúc nào chẳng rõ, chỉ đến khi

mẹ anh vén màn, lay người anh mới sực tỉnh giấc.Đắn đo mãi, cuối cùng Hải cũng lấy can đảm để đi ra xóm ngoài, tới cửa hàng tạp hoá của cô Hoa. Lúc đó cửa hàng may thay đang vắng khách. Thấy một anh

bộ đội vào xem hàng, Hoa đang ngồi đọc sách đứng dậy đon đả:- Mời anh mua hàng hộ em, hôm nay không hiểu sao ế quá.

- Mời anh mua hàng hộ em, hôm nay không hiểu sao ế quá.- Tôi muốn mua tặng mẹ tôi một cái áo len và một cái khăn bịt đầu, cô cho tôi xem…

- Có nhiều loại, nhiều màu, anh chọn đi… Mà bác người thế nào, anh tả thử, em chọn giúp…- Mẹ tôi người tầm tầm, hơi gầy…

- Bác bao nhiêu tuổi?- Ngoài năm mươi cô ạ!

- Vậy thì em chọn cho anh nhé.Nói rồi cô Hoa hăng hái lựa trong đống áo len, đống khăn chọn ra mỗi thứ một chiếc, cô chọn khéo đến nỗi cầm trên tay Hải đã thấy ưng ý.

Hải hỏi tiền, Hoa nói giá, không mặc cả gì. Anh bảo cô gói hộ cho vào cái túi ni lông rồi trả tiền.Mua hàng xong rồi, chẳng nhẽ lại không ra về. Hải nghĩ cách để có thể lưu lại:

- Tôi muốn mua thêm vài thứ lặt vặt nữa, cô cho tôi vào xem có thứ gì có thể mua được…- Vâng, vậy thì mời anh vào trong này, anh cứ chọn thoải mái, bộ đội là được ưu tiên…

- Bộ đội được ưu tiên? - Hải ngạc nhiên hỏi lại. Nhìn ánh mắt và nụ cười của cô gái trẻ, Hải thấy cô có vẻ là người xởi lởi và cũng khéo bán hàng. Anh vừa ngắmhàng vừa liếc trộm Hoa. Cô gái cao khoảng một mét rưỡi, mét sáu gì đó, mặt trái xoan, da trắng hồng, mắt tròn, đen, mũi hơi tẹt, nhưng bù lại cái miệng tươi và đôi

môi mọng đỏ, nhìn chung là khoẻ mạnh, duyên dáng.- Bộ đội các anh bây giờ là đắt giá lắm đấy. Cái gì cũng được ưu tiên. - Cô gái có vẻ thích nói chuyện với Hải. Hải tự nhiên thấy mạnh dạn hẳn lên, anh đùa:

- Muốn lấy vợ có được ưu tiên không cô?Cô Hoa đỏ mặt, mắt sáng lên lấp lánh, lảng sang chuyện khác.

- Xin lỗi, anh là người ở xóm nào vậy?…- Cô chẳng biết tôi đâu. Hồi tôi đi bộ đội, chắc cô còn đang đi nhà trẻ.

Hoa bật cười:- Anh cứ làm như anh già lắm. Giỏi lắm chỉ hơn em vài tuổi chứ mấy…

- Hơn nhiều đấy…- Anh chưa trả lời em, anh ở xóm nào?

- à, tôi ở Đình Đông…- Vậy anh con nhà ai?

- Tôi là con bà Tuất…- Vậy là em biết rồi, anh là anh Hải…

- Sao cô Hoa biết tôi? - Nói đến đây, Hải bỗng đỏ mặt vì biết mình đã lỡ miệng.Hoa tròn mắt nhìn Hải. Bằng sự nhạy cảm, cô hiểu vì sao anh bộ đội này lại biết tên cô và có lẽ cũng đoán vì sao anh đã mua xong áo len và khăn cho mẹ mà lại

cứ nấn ná xem hàng. Tự nhiên người cô nóng bừng, má đỏ ửng. Cô cảm thấy lúng túng, ngừng ngập…- Cô vừa nói cô biết tên tôi, sao cô lại biết?

- à, hàng năm cứ vào dịp tết, đoàn thanh niên cử chúng em đi thăm hỏi các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội… Em nhớ rồi, ảnh của anh còn treo ởvách, chỗ gần cửa buồng của bác gái…

Hải lặng người, chả lẽ cô ấy đã để ý đến mình. Vậy chẳng lẽ đây là duyên số…- Kỳ này anh về phép hay về hẳn? Hoa hỏi có vẻ thẹn thùng…

- Tôi về phép một tháng rồi lại vào Nam. Tôi vẫn chưa được ra quân…- Vậy thì anh phải lấy vợ cho bác mừng…

- Mẹ tôi cũng bảo tôi thế… mà tôi thì chẳng biết ai… Hay là cô Hoa làm mối giúp nhé. - Không hiểu sao Hải lại nói được một câu hay ho và khúc triết như vậy.Có lẽ là anh cảm thấy hai người đã gần nhau hơn một chút trong ý nghĩ…

- Chỉ sợ anh không tin tưởng thôi, chứ nếu anh thực lòng, em sẽ giúp anh…- Vậy tối nay, Hoa có bận gì không?

- Có việc gì không anh?- Là tôi muốn chúng mình gặp nhau ở nơi nào đó, tôi muốn chính thức nhờ Hoa giúp tôi tìm vợ cho mẹ tôi.

Hoa phá lên cười, vì câu nói ngớ ngẩn của Hải. Hải ngượng chín cả người vì biết mình ăn nói thật vô duyên.- Anh lấy vợ cho mẹ chứ không phải cho anh ư? - Hoa không chế giễu Hải…

Hải dù rất ngượng nhưng trong tình thế không lùi được, dùng nước liều:- Tối nay khoảng 8 giờ, tôi chờ Hoa ở đây nhé. Thôi tôi phải về kẻo mẹ tôi mong.

Hải nói rồi cầm lấy cái túi đựng áo và khăn đi như chạy ra khỏi cửa hàng. Hoa chợt ân hận là mình đã đùa dai để anh ấy ngượng. Cô thấy tiếc vì anh đã vềsớm…

Tối hôm đó, Hải xin phép mẹ đi chơi. Bà mẹ không gặng hỏi anh đi đâu, chỉ dặn khéo:- Mẹ đi ngủ trước, con cứ đi chơi lúc nào về thì về, cứ mở cửa mà vào nhà, không phải đánh thức mẹ…

Hải ra chỗ hẹn mà lòng xốn xang. Hoa đến muộn, làm Hải phải chờ đến gần nửa tiếng. Hoa đến gần, tim Hải đập rộn ràng, người nóng bừng, cổ họng khô lại…khó khăn lắm anh mới lên tiếng được:

- Hoa xem chúng ta đứng đây nói chuyện hay tìm một nơi nào đó cho tiện.Hoa lí nhí trong miệng:

- Ta ra cầu đá sông ngồi đi anh…Nói rồi Hoa rảo bước đi trước. Hải vội vàng bám theo. Một lát sau họ đã ra đến bờ sông và đi xuống dốc dẫn tới cây cầu đá bắc qua sông. Trời tối lờ mờ. ở

nông thôn, giờ này ít người đi lại, phần lớn chập tối cơm tối xong là người ta tắt đèn đi ngủ. Nếu có ai đó đi lại, chủ yếu là cánh thanh niên đi họp đoàn về, rồi lại đidạo trên đường làng… Nhưng hôm nay không có phiên họp.

Cô Hoa hỏi Hải nhiều chuyện, nhất là chuyện ở chiến trường, chuyện bắn nhau với Mỹ, chuyện bị thương… chuyện… đủ thứ chuyện. ở cạnh Hoa, theo đề nghịcủa cô, những kỷ niệm cũ đời lính ở chiến trường lại sống lại trong anh. Anh kể say sưa, Hoa nghe như nuốt lấy từng lời. Hải cũng hỏi Hoa, nhưng cuộc sống của cô

đơn giản, chỉ vài câu là Hải đã hình dung được. Bố mẹ cô sinh được bốn chị em. Hai chị đi lấy chồng, đã có gia đình riêng. Một anh trai cô đi bộ đội đã hi sinh. Cô làcon út, học hết lớp 7, không thi được cấp III, ở nhà làm ruộng, gần đây bố mẹ và hai chị hỗ trợ cô mở cửa hàng tạp hoá…

Hải hỏi cô đã có người yêu chưa, cô bảo có nhiều đám đặt vấn đề, nhưng cô chưa muốn vì cô còn trẻ, cô muốn giành ít lưng vốn từ cửa hàng rồi mới tính…Đêm đã khuya, cô bảo Hải là nên về ngủ, cô cũng phải về kẻo bố mẹ mắng là con gái đi chơi khuya. Hải bỗng nhiên, cầm tay cô và nói vội vàng:

Đêm đã khuya, cô bảo Hải là nên về ngủ, cô cũng phải về kẻo bố mẹ mắng là con gái đi chơi khuya. Hải bỗng nhiên, cầm tay cô và nói vội vàng:- Kỳ này về phép, mẹ tôi bắt tôi phải lấy vợ. Tôi muốn lấy em làm vợ, em có đồng ý không?

Hoa hơi hoảng định gỡ tay Hải ra, nhưng anh nắm chặt, không gỡ ra được. Cô cúi mặt, thở hổn hển:- Em không biết! Anh sang hỏi bố mẹ em ấy…

Nói rồi cô nhất quyết gỡ tay Hải ra. Hải hiểu ý Hoa muốn nói gì. Anh thở phào nhẹ nhõm:- Vậy thì anh nhờ người sang thưa chuyện với các cụ nhé?

- Tuỳ anh…- Bao giờ thì bên nhà anh sang được? Tối mai nhé!

Hoa phụng phịu:- Sao anh cứ gấp như đi đánh giặc vậy. Vài hôm nữa không được hay sao mà vội vàng thế…

- Không! Anh sắp phải vào đơn vị rồi. Mà mẹ anh cũng sốt ruột lắm rồi. Thôi, cứ tối mai nhé.Vậy là xong, hôm nay Hải thông báo với mẹ Hoa đã đồng ý và giục mẹ nhờ người sang nhà Hoa thưa chuyện. Mọi chuyện diễn ra nhanh bất ngờ. Khi đại diện

nhà Hải đến nói chuyện, bố mẹ Hoa đồng ý luôn. Các cụ hai bên hẹn ngày ăn hỏi, ngày xin dâu. Tất cả diễn ra trong vòng một tuần. Lễ cưới được tiến hành vào haigiờ chiều ngày chủ nhật sau đó, một ngày đẹp trời.

Chưa kịp nói với nhau một tiếng yêu đương, Hoa đã về là vợ Hải, cả hai đều không ngờ và cũng chẳng hiểu tại sao họ lại thành vợ chồng nhanh đến vậy. Chỉ cóthể nói rằng đó là duyên phận đã có từ bao giờ chẳng rõ.

*9 tháng sau ngày cưới… Hải nhận một bức điện khẩn báo rằng vợ anh ốm nặng về gấp. Hải xin được nghỉ phép. Cũng may là anh vừa lúc kết thúc một năm học.

Hải cảm thấy trời lay, đất lở khi về đến nhà, anh biết được một tin khủng khiếp, vợ anh đã sinh ra một đứa trẻ bị dị tật. Thằng bé có hình thù quái dị. Mặt nó giànhư một người 40 tuổi. Một tay nó quặc ra phía sau như bị người ta bẻ ngược lại. Mẹ nó quá sợ hãi, đã bỏ nó từ trạm xá và trốn đi khỏi làng, đi đâu chẳng rõ. Ông

bà đã định đem thằng bé vứt xuống sông, nhưng mẹ Hải đã van xin họ để giữ thằng bé lại…Hải khóc nấc lên khi nhìn đứa bé. Anh hiểu rõ mình đã bị nhiễm chất độc màu da cam thời gian chiến đấu ở chiến trường. Anh nhớ lại những cánh rừng trụi lá,

những hố bom, những bờ khe, con suối mà anh từng lấy nước để uống, để nấu ăn…Lúc đầu Hải không lý giải được tại sao vợ anh, một cô gái ngoan ngoãn, xinh xắn, xởi lởi như vậy lại có thể bỏ con mà trốn đi dù đứa bé là một dị nhân. Nhưng

càng nhìn con, anh càng hiểu rằng, những người phụ nữ trẻ rõ ràng rất khó có đủ bản lĩnh để chấp nhận và sống cùng một đứa trẻ như thế này.Mẹ Hải có lẽ đã khóc hết nước mắt khi nhận đứa trẻ về nuôi. Bà thương Hải xé lòng. Nhưng dù sao đó cũng là giọt máu của Hải, bà không đành lòng nhìn người

ta có thể không để nó sống. Bà hiểu rằng để nó sống, bà khổ tâm một, thì con trai bà sẽ khổ tâm mười. Nhưng đứa trẻ nó có tội tình chi…Có một đêm, sau nhiều đêm không ngủ, Hải muốn giải thoát nỗi đau cho mẹ và cho cả mình, cho cả dân làng, anh đã quyết định tìm cho thằng bé một mũi tiêm

chứa đầy thuốc độc bảng A.Đúng vào lúc anh chuẩn bị tiêm vào người đứa bé, thì mẹ anh không hiểu sao lại đứng ngay sau anh. Bà nghẹn ngào:

- Con không được làm điều ác, điều thất đức như thế, sẽ mang tội. ở xã ta, không ít những đứa trẻ như vậy. Mẹ sẽ nuôi nó, mẹ chịu đựng được tất cả. Conkhông tin mẹ sao?

Hải vẫn cắm mũi kim. Thằng bé khóc ré lên.Hải hốt hoảng rút vội kim ra. Anh ngã vực xuống nhà. Đầu óc anh quay cuồng. Mẹ anh trèo lên giường, ôm thằng bé vào lòng:

- à, bà thương, bà thương thằng cún ngoan của bà nào… à à… con cò, con vạc, con nông…Thằng bé thôi khóc. Nó không biết bà nó, cha nó phải cố nuốt nước mắt vào trong tim.

Sau đó ít ngày, Hải vào đơn vị, làm đơn xin xuất ngũ. Anh trở về làng Đình Đông, chăm sóc mẹ già và nuôi đứa con với hình hài kỳ dị. Vài năm sau bà cụ quađời.

Căn nhà nhỏ tuềnh toàng, người làng Đình Đông vẫn thường qua chơi với hai bố con. Thằng bé lớn lên, nó không đi học như lũ trẻ trong làng, nhưng nó có thểtrông nhà cho bố nó ra đồng. Có ai hỏi nó thích cái gì nhất, nó trả lời, nó thích nhất là có bà…

Nhưng ai cũng biết, bà nó sẽ không bao giờ sống lại.Người ta hỏi nó, nó yêu ai nhất?

Nó trả lời, nó yêu bố Hải nhất.Điều đó đúng vì đến giờ bố nó vẫn không lấy vợ nữa, vẫn ở cùng nó, nuôi nó lớn lên, cái mầm sống mà vì thương mẹ và thương chính nó có lúc bố nó đã định

tước đi.Có ai hỏi bố nó sao lại không đi bước nữa. Nó buồn rầu mà nói rằng: Bố nó không muốn có thêm một mầm sống mà… di chứng của chiến tranh sẽ lại biến cái

mầm sống đó trở thành dị nhân. ---------------------------------

Copyright by